Các giải pháp nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam - Pdf 14

MỤC LỤC
1.1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh 2
1.1.1. Các khái niệm 2
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 3
1.1.2.1. Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô 3
1.1.2.2. Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành 5
1.1.2.3. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp 6
1.2. Công cụ và phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp 8
1.2.1. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp 8
1.2.2. Phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp 9
1.3. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 10
1.3.1. Danh tiếng và thương hiệu 10
1.3.1. Danh tiếng và thương hiệu 10
1.3.2. Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường 11
1.3.2. Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường 11
1.3.3. Hiệu quả sản xuất kinh doanh 11
1.3.3. Hiệu quả sản xuất kinh doanh 11
1.3.4. Trách nhiệm xã hội: 12
1.3.4. Trách nhiệm xã hội: 12
2.1. Phân tích năng lực cạnh tranh của DNNN Việt Nam 13
2.1.1. Công cụ cạnh tranh của DNNN Việt Nam 14
2.1.2. Phương thức cạnh tranh của DNNN Việt Nam 16
2.2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của DNNN Việt Nam 20
2.2.1. Những ưu thế 20
2.2.1.1. Đóng góp của DNNN Việt Nam 20
2.2.1.2. Danh tiếng của DNNN 21
2.2.1.3. Khả năng thích ứng của DNNN 21
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân 24
2.2.2.1. Những hạn chế 24
2.2.2.2. Nguyên nhân 25
3.1. Bối cảnh kinh tế mới và định hướng tiếp tục thúc đẩy năng lực cạnh tranh của DNNN

DNNN Việt Nam.
Bố cục của đề tài, ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì đề tài
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNN Việt Nam.
Chương 3: Định hướng và giải pháp tiếp tục thúc đẩy năng lực cạnh tranh của
DNNN Việt Nam.
CHƯƠNG 1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh
1.1.1. Các khái niệm

Cạnh tranh
Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có
2
chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để
giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Các
mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng….Mục
đích của cạnh tranh là giành điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) báo cáo về khả năng cạnh tranh
toàn cầu vào năm 1997 thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực
mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị
trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi
hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục
tiêu của doanh nghiệp đặt ra.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có

cạnh tranh có hiệu quả. Qua đó, một mặt tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp
kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp dựa vào đó mà điều chỉnh hoạt động của
mình để hài hòa lợi ích của các doanh nghiệp khác trong xã hội và trên thương
trường quốc tế đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp của
mình với các doanh nghiệp của các nước khác. Việc chấp hành luật pháp nghiêm
minh của các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp sẽ đưa lại hiệu quả kinh
doanh tốt. Ngược lại nếu việc thực thi pháp luật không nghiêm minh, thiếu trong
sáng thì tất sẽ dẫn doanh nghiệp vào con đường bất chính như là trốn thuế, gian
lận thuế hay sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại…
Trong môi trường pháp lý không lành mạnh, nhiều khi năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp không được đánh giá đúng thực chất của nó. Điều này sẽ dẫn tới
thiệt hại kinh tế lớn và rối loạn trật tự xã hội.
 Văn hóa, xã hội.
Ở mỗi vùng khác nhau sẽ tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn cho doanh
nghiệp trong cạnh tranh là khác nhau do văn hóa xã hội của từng vùng là khác
nhau. Giá trị văn hóa phái sinh, lối sống, thị hiếu,…có tác động một cách gián
4
tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua khách hàng và cơ cấu
nhu cầu thị trường.
 Vấn đề khoa học, công nghệ và thông tin.
Khoa học, công nghệ là nền tảng của cơ sở vật chất kỹ thuận hiện đại của
nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như của từng doanh nghiệp. Đây là tiền đề
để các doanh nghiệp ổn định, thúc đẩy khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khoa học và công nghệ cũng có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp bằng cách
cung cấp những phương tiện và công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm mới,
thúc đẩy hiệu quả hoạt động, giảm chi phí sản xuất. Thông tin cũng có vai trò vô
cùng quan trọng trong việc thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Để
cạnh tranh thành công, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có thông tin về
thị trường, về đối thủ cạnh tranh và biết cách xử lý có hiệu quả những thông tin
thu nhập được. Khoa học và công nghệ hiện đại chính là phương tiện giúp cho

1.1.2.3. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, các yếu tố như vốn, công nghệ, nhân lực, nguyên liệu
đầu vào, cơ sở vật chất kỹ thuật, khả năng quản lý, hoạt động marketing, hoạt
động tài chính…có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Các yếu tố này thể hiện nội lực của doanh nghiệp và các yếu tố này có ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
 Vốn của doanh nghiệp:
Nếu doanh nghiệp có lượng vốn lớn thì quá trình từ đầu tư cho xây dựng
các cơ sở vật chất kỹ thuật đến thiết lập hệ thống phân phối, hệ thống các của
hàng hóa phòng trưng bày, giới thiệu sản phẩm sẽ mang tính chuyên nghiệp hơn.
Doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh vị trí dẫn đầu thị trường, tăng thị phần, mở rộng
quy mô sản xuất thì doanh nghiệp cần có lượng vốn lớn. Nói theo cách khác,
nếu doanh nghiệp càng lớn mạnh, lượng vốn càng lớn thì doanh nghiệp càng có
nhiều cơ hội kinh doanh có hiệu quả và thúc đẩy năng lực cạnh tranh.
 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp nào có nguồn nhân lực có chất lượng cao thì doanh nghiệp đó có
khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đội ngũ công nhân lành nghề, có tay nghề
6
cao sẽ tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao, tăng năng suất lao động. Đội ngũ
cán bộ quản lý có năng lực, đưa ra các quyết định đúng đắn và đúng thời điểm
có ý nghĩa vô cũng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, sự khác biệt hóa về nguồn nhân lực
là vũ khí cạnh tranh hữu hiệu nhất cho các doanh nghiệp.
 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp:
Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại kết hợp với công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Với cơ sở vật chất kỹ thuật như vậy thì
doanh nghiệp có khả năng sản xuất được nhiều sản phẩm có chất lượng cao,
thúc đẩy hiệu quả sản xuất. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ không thể có được khả
năng cạnh tranh nếu doanh nghiệp đó có công nghệ sản xuất lạc hậu, máy móc
thiết bị cũ bởi vì nó sẽ làm giảm chất lượng sản phẩm, tăng giá thành.

1.2.1. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp

Giá cả
Giá cả là công cụ cạnh tranh có hiệu quả, nó có vị trí đặc biệt quan trọng
trong hệ thống Marketing hỗn hợp của doanh nghiệp. Dù được gọi dưới nhiều
tên gọi khác nhau nhưng giá cả luôn thể hiện lợi ích giữa người mua và người
bán trong trao đổi. Đối với doanh nghiệp thì giá cả là yếu tố tác động trực tiếp
tới các chỉ tiêu như: doanh thu, lợi nhuận, thị phần…
Tuy nhiên, các quyết định về giá của doanh nghiệp không thể chỉ phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan mà cần cân nhắc và đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố khác
như nhu cầu và mong muốn của khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các quy định
của nhà nước…Doanh nghiệp sẽ phải đánh giá những ảnh hưởng có thể có của
các quyết định giá cạnh tranh của doanh nghiệp tới khả năng thực hiện các mục
tiêu trong dài hạn và cả hành vi của các đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, doanh
nghiệp cũng phải đảm bảo mối liên hệ tác động qua lại giữa giá cả với các yếu tố
khác của hệ thống marketing hỗn hợp.
Trong hệ thống các công cụ marketing hỗn hợp mà doanh nghiệp có thể sử
dụng, giá cả có vai trò đặc biệt so với các yếu tố còn lại. Nhận thức đúng đắn vai
trò của giá cả và bản chất của cạnh tranh qua giá có ý nghĩa quan trọng đối với
8
việc sử dụng giá cả vào mục đích cạnh tranh của doanh nghiệp hoạt động trong
điều kiện cạnh tranh trên thị trường ngày càng gia tăng.

Chất lượng sản phẩm
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quan
trọng của các doanh nghiệp trên thị trường. Chất lượng sản phẩm càng cao tức là
mức độ thỏa mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng
khả năng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong điều kiện này,
mức sống của người dân ngày càng thúc đẩy tức là nhu cầu có khả năng thanh
toán của người tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu

phẩm trung gian của một quy trình công nghệ khép kín hoặc trong chu trình tái
sản xuất xã hội. Trong cơ cấu này, mỗi thành phần kinh tế có thể giữ nguyên
100% vốn, tính chất sở hữu hay có thể có sự đầu tư xâm nhập lẫn nhau.
- Thứ ba, tổ chức phân chia thị trường, phối hợp vận chuyển cung cấp sản
phẩm theo những nguyên tắc thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.
- Thứ tư, tổ chức hỗ trợ nhau trong đào tạo, bao tiêu sản phẩm hay cung
ứng bán thành phẩm và các nguyên vật liệu đầu vào.
- Thứ năm, phối hợp, huy động hoặc tham khảo kinh nghiệm tổ chức các
hiệp hội, đoàn thể nghề nghiệp trong các doanh nghiệp thuộc thành phần, lĩnh
vực kinh tế mình hoặc chung cho tất cả các thành phần kinh tế.
1.3. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.1. Danh tiếng và thương hiệu
Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp được phản ánh chủ yếu ở văn hóa
doanh nghiệp, bao gồm: sản phẩm, văn hóa ứng xử, hoàn thành nghĩa vụ đối với
Nhà nước, hoạt động từ thiện, kinh doanh minh bạch…Đối với những nhãn hiệu
lâu đời, có uy tín cao thì doanh nghiệp phải thường xuyên chăm lo cho chất
lượng, thường xuyên đổi mới, tạo sự khác biệt về chất lượng và phong cách
cung cấp sản phẩm.
Danh tiếng và thương hiệu chính là những giá trị vô hình của doanh nghiệp.
Giá trị vô hình này có được là do quá trình phấn đấu bền bỉ theo định hướng và
chiến lược phát triển của doanh nghiệp được xã hội, cộng đồng trong và ngoài
nước biết đến.
10
Một vấn đề quan trọng liên quan đến thúc đẩy danh tiếng của doanh nghiệp
là khả năng doanh nghiệp phát triển thành công các thương hiệu mạnh. Nếu sản
phẩm của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người mua nhanh
chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của doanh nghiệp tăng lên
đáng kể. Nhưng đánh giá thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ ở số lượng
các thương hiệu mạnh hiện có mà quan trọng phải đánh giá được khả năng phát
triển thương hiệu của doanh nghiệp. Khả năng đó cho thấy sự thành công tiềm

nguồn lực, giảm tối đa các chi phí. Vì vậy, năng suất là tiêu chí quan trọng để
xem xét, đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là yếu tố cấu thành quan trọng hàng đầu của năng lực
cạnh tranh của sản phẩm mà năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại là yếu tố cấu
thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp kinh doanh
10 mặt hàng đều không có năng lực cạnh tranh thì chắc chắn doanh nghiệp đó
không thể có năng lực cạnh tranh. Tiêu chí chất lượng sản phẩm được chia thành
4 nhóm chỉ tiêu là: nhóm chỉ tiêu thẩm mỹ, nhóm an toàn - vệ sinh, nhóm kỹ
thuật và nhóm kinh tế. Doanh nghiệp nào có cùng sản phẩm đạt mức chất lượng
tốt nhất, doanh nghiệp đó sẽ có năng lực cạnh tranh cao nhất.
1.3.4. Trách nhiệm xã hội:

Tham gia bảo vệ môi trường
Đây là vấn đề nóng hổi, cấp bách và mang tính toàn cầu. Thế giới đánh giá
cao tiêu chí này đối với các doanh nghiệp. Để có năng lực cạnh tranh cao, sản
phẩm làm ra không được gây ô nhiễm môi trường bao gồm ô nhiễm không khí,
ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm sự yên tĩnh. Các sản phẩm của doanh nghiệp
phải có chứng chỉ an toàn môi trường theo ISO.14000 hoặc theo tiêu chuẩn khu
vực hoặc tiêu chuẩn Việt Nam. Việc đánh giá tiêu chí này phức tạp vì nó bao
hàm nhiều chỉ tiêu mà phạm vi ảnh hưởng của nó đôi khi khó xác định. Tuy vậy,
phần lớn các chỉ tiêu đều là chỉ tiêu hóa, lý, sinh, đều lượng hóa được bằng các
dụng cụ đo chính xác.
Tóm lại, thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường là yêu cầu tất yếu. Bởi vì, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đẩy
doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, nếu năng lực
12
cạnh tranh thấp, doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bị loại khỏi sân chơi chung. Vì
thế mà bản thân mỗi doanh nghiệp và Chính phủ các nước đều quan tâm vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành da giày VN được mở rộng và ngày càng
phát triển với quy mô lớn, là một nước xuất khẩu đứng thứ tư thế giới với kim
ngạnh 2,5 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, việc cạnh tranh với hàng xuất khẩu là
một thách thức lớn, vì ta còn nhiều điểm yếu như da giày Việt Nam chủ yếu là
gia công, giày tự sản xuất thì mẫu mã nghèo nàn, giá cả lại cao. Trong khi đó
Trung Quốc có những ưu điểm này lại không phải áp dụng hạn ngạch khi xuất
khẩu ra thế giới. Ngay cả thị trường trong nước cũng phải cạnh tranh, vì hiện
14
nay Trung Quốc cũng đã đưa sang Việt Nam một lượng không nhỏ. Đứng trước
tình hình đó, hiện nay, ngành da giày Việt Nam đã được hỗ trợ rất lớn về công
nghệ để thúc đẩy chất lượng sản phẩm, làm đa dạng mẫu mã và tìm cách hạ giá
thành sản xuất sản phẩm.
Thị trường dệt may Việt Nam cũng không ngừng phát triển và tính đến đầu
năm 2010 thì con số kim ngạch xuất khẩu đạt 10,5 tỷ USD/năm, thị trường xuất
khẩu mở rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới. Từ những mẫu mã đơn giản đến
phức tạp, các sản phẩm của dệt may Việt Nam đều được làm một cách cẩn thận
và có uy tín. Sản phẩm của dệt may Việt Nam có mẫu mã, kiểu dáng rất đa dạng
và phong phú:sơmi (sơ mi nam và sơ mi nữ), đồng phục (bảo hộ lao động, công
sở, đồng phục học sinh), veston nam, quần nam (quần âu nam, quần sooc nam),
quần nữ (quần dài, quần lửng, váy), veston nữ (cleopatre), jacket nữ…
Bên cạnh đó thì không thể không kể đến Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
(Vinamilk), để có được sức cạnh tranh lớn trên thị trường thì Công ty đã đa dạng
hóa sản phẩm với hơn 200 mặt hàng sữa và các sản phẩm từ sữa gồm: Sữa đặc,
sữa bột, bột dinh dưỡng, sữa tươi, kem, sữa chua, Phô-mai và các sản phẩm khác
như: sữa đậu nành, nước ép trái cây, bánh, cà phê hòa tan, nước uống đóng chai,
trà, chocalate hòa tan…
 Thương hiệu
Những thương hiệu lớn trên thị trường Việt Nam hầu hết là thương hiệu của
DNNN như: Công ty cổ phần May 10, Công ty cổ phần giày Việt – Vina giày,
Công ty Cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk, Công ty cổ phần Thăng Long, Công

Nhà nước, tôn trọng quan hệ cung - cầu về các sản phẩm chiến lược đó trên thị
trường trong nước và quốc tế để giá cả của các mặt hàng này phải phù hợp với
mặt bằng giá trong khu vực quốc tế.
Từ năm 2001, Nhà nước chuyển các tổng công ty 90, 91 sang hoạt động
theo mô hình công ty mẹ - con, trong đó công ty mẹ do các công ty tự đầu tư
thành lập và đồng thời công ty mẹ đầu tư bằng tài chính vào các công ty con. Có
thể nói, mô hình công ty mẹ - con đã tạo ra một bước tiến mới trong quá trình
đổi mới, sắp xếp lại khu vực DNNN. Các tổng công ty 90, 91 từ phương thức
quản lý theo kiểu hành chính (cấp trên - cấp dưới) và cơ chế vốn đã chuyển sang
16
mối quan hệ bình đẳng, tự nguyện và cơ chế đầu tư vốn. Với mục tiêu tạo ra
những doanh nghiệp “xương sống” của nền kinh tế, đủ sức cạnh tranh trong thời
kỳ hội nhập, năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt thành lập thí điểm
tám tập đoàn kinh tế nhà nước. Những tập đoàn này lấy nòng cốt là các tổng
công ty nhà nước hoạt động trong các ngành kinh tế trọng điểm có tính chất chi
phối tới nền kinh tế, bao gồm tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tập đoàn Điện lực
Việt Nam, tập đoàn Bưu chính-Viễn thông, tập đoàn Dệt may Việt Nam, tập
đoàn Cao su Việt Nam, tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, tập đoàn
Than-Khoáng sản Việt Nam và tập đoàn Bảo hiểm Việt Nam.
Đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng, nhà nước không cần
nắm giữ và không cổ phần hóa được, tùy thực tế của từng doanh nghiệp, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định một trong các hình thức: giao, bán, khoán
kinh doanh, cho thuê. Khuyến khích DNNN đã giao, bán được chuyển thành
công ty cổ phần của người lao động. Sáp nhập, giải thể, phá sản của những
DNNN hoạt động không hiệu quả.
 Cổ phần hóa DNNN.
Báo cáo về kết quả sắp xếp, đổi mới, phát triển DNNN tính đến hết năm
2006 thì cả nước đã sắp xếp được 4.447 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa
được 3.060 doanh nghiệp. Riêng từ năm 2001 đến 2006 đã sắp xếp được 3.830
DNNN, bằng gần 68% số DNNN đầu năm 2001.

khí, sản phẩm dầu khí, hóa dầu; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa
các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí, dân dụng; đầu tư, khai thác than và
18
các khoáng sản khác tại nước ngoài, ký kết hợp đồng nhập khẩu, cung ứng than;
đầu tư và sản xuất kinh doanh năng lượng tái tạo
Ngoài những ngành nghề chính trên, Petro Vietnam còn hoạt động trong
các ngành, nghề khác có liên quan như: hoạt động tài chính, chứng khoán, ngân
hàng, bảo hiểm; đào tạo, cung ứng nhân lực dầu khí, xuất khẩu lao động; đầu tư,
kinh doanh bất động sản; đầu tư, khai thác phát triển cảng, kinh doanh vận tải
biển, vận tải đường thủy, đường không và đường bộ, đại lý tàu biển
Đối với Vietnam Airlines, đây là doanh nghiệp vận chuyển hàng không,
được cấp thương quyền vận chuyển hành khách, hàng hóa, bưu kiện; được cấp
chứng chỉ khai thác tàu bay, đồng thời thực hiện chức năng đầu tư ra ngoài
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Ngành nghề kinh doanh chính là vận
chuyển hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu kiện, bưu phẩm,
thư; hoạt động hàng không chung. Vietnam Airline còn có nhiệm vụ bảo dưỡng
tàu bay, động cơ, thiết bị hàng không và các thiết bị kỹ thuật khác, cũng như sản
xuất linh kiện, phụ tùng trang thiết bị kỹ thuật và các nội dung khác thuộc lĩnh
vực công nghiệp hàng không Ngoài ra, Vietnam Airlines còn hoạt động trên
các lĩnh vực như vận tải đa phương thức, cung ứng các dịch vụ kỹ thuật thương
mại mặt đất, các dịch vụ tại nhà ga hành khách, ga hàng hóa và các dịch vụ phuc
vụ sân đỗ tại các cảng hàng không, sân bay…
Với Vinataba, doanh nghiệp này được phép hoạt động trong 2 ngành nghề
kinh doanh chính gồm đầu tư, sản xuất kinh doanh thuốc lá tại Việt Nam và
nước ngoài; trồng cây nguyên liệu thuốc lá; thực hiện dạy nghề thuộc lĩnh vực
trồng, chế biến nguyên liệu thuốc lá và sản xuất thuốc lá điếu, công nghiệp thực
phẩm
Doanh nghiệp này gần đây cũng mở rộng kinh doanh đa ngành nghề sang
các lĩnh vực công nghiệp tiêu dùng, đầu tư tài chính, bất động sản…, thông qua
hợp tác với nhiều doanh nghiệp khác như Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà,

GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu
20
và 28,8% tổng thu nội địa, giải quyết việc làm cho hơn 1,1 triệu lao động với
mức thu nhập bình quân là 3,8 triệu đồng.
Ví dụ như Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) là một doanh nghiệp
hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, chiếm lĩnh tới 75% thị phần sữa
tại Việt Nam hiện nay. Ngoài việc phân phối mạnh trong nước với mạng lưới
183 nhà phân phối và gần 94.000 điểm bán hàng phủ đều 64 tỉnh thành, sản
phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang nhiều nước Mỹ, Pháp, Canada, Ba
Lan, Đức, khu vực Trung Đông, Đông Nam Á…đem lại cho Việt Nam lượng
doanh thu khá lớn.
2.2.1.2. Danh tiếng của DNNN
DNNN có thương hiệu nổi tiếng là hàng Việt Nam chất lượng cao, được
nhiều người tiêu dùng bình chọn. Ví dụ như: Đạm Phú Mỹ, Agribank, PVFC,
GARCO 10, Dệt 10-10… Bên cạnh đó, DNNN được hưởng ưu đãi nhiều nhất,
hỗ trợ lớn nhất từ phía nhà nước. Các doanh nghiệp lớn về doanh thu, về tài sản
bởi họ là nơi chiếm dụng nguồn lực nhiều nhất. Đó không chỉ là tài sản vật chất:
đất đai, tài nguyên, nhà xưởng, tín dụng, vốn liếng mà cả tài sản quyền kinh
doanh, quyền nhận các dự án lớn, các hạng mục đầu tư mà nhà nước trao tặng
hoặc ưu ái.
2.2.1.3. Khả năng thích ứng của DNNN
Qua đợt khủng hoảng vừa rồi, phần lớn DNNN là bị phá sản nhưng DNNN
vẫn có khả năng thích ứng với thị trường bằng cách:
 Tái cấu trúc doanh nghiệp:
Tiến trình sắp xếp đổi mới DNNN chính thức khởi động từ 1992, với xuất
phát điểm có 6.500 DNNN. Tính đến hết năm 2008, cả nước đã có 5.414 DNNN
được sắp xếp lại. Trong đó, 3.836 DNNN được tái cấu trúc ở hình thức triệt để
nhất là cổ phần hóa. Cổ phần hóa đã huy động được thêm khoảng 100.000 tỷ
đồng vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia dưới hình thức
mua cổ phần.

 “Ưu tiên dùng hàng Việt!”:
Nhằm kích cầu thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn thì các đơn
vị thuộc khối DNNN đã đưa hàng về tiêu thụ tại thị trường nông thôn không chỉ
22
có tác dụng kích cầu nội địa mà còn là cơ hội quảng bá thương hiệu của đơn vị
đến những thị trường mới.
Các mặt hàng được doanh nghiệp đưa ra ngoại thành để tiêu thụ chủ yếu là
những mặt hàng Việt Nam chất lượng cao nhưng giá bán phù hợp với thu nhập
của bà con nông dân ngoại thành, hàng gia dụng, may mặc, điện tử, thực phẩm
chế biến. Riêng đối với khu vực miền núi, ngoài những sản phẩm trên, doanh
nghiệp sẽ tăng cường thêm hai mặt hàng là muối iot và vở học sinh.
Bảng 2.1 : Top 10 DN trong bản xếp hạng 500 DN lớn nhất VN năm 2009
Thứ hạng Tên doanh nghiệp
1 Tập đoàn dầu khí Việt Nam
2 Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam
3 Tập đoàn Điện lực Việt Nam
4 Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam
5 Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
6 Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC
7 Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam
8 Tổng Công ty dầu Việt Nam – PVOIL
9 Tổng Công ty viễn thông quân đội
10 Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam - Vinashin
Nguồn: VNR500 – Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, năm 2009 -

Để bán được sản phẩm và có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước thì
nhiều doanh nghiệp đã đưa ra những lời kêu gọi thiết thực để mọi người cùng
hưởng ứng như:
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Qua đó, ta thấy DNNN cũng có khả năng thích ứng lớn với sự biến động

- Tỷ lệ nợ trên vốn của DNNN còn quá cao, một số công ty có số nợ phải
trả gấp năm lần vốn nhà nước tại công ty, có công ty vay gấp hơn 20 lần vốn,
dẫn đến độ rủi ro cao, khả năng thanh toán nợ thấp. Việc xử lý các tồn tại về tài
chính còn chậm do nhiều nguyên nhân nhưng chưa được khắc phục.
- Cơ chế quản lý DNNN còn nhiều bất cập từ quyền tự chủ tuyển chọn nhân
sự, điều hành doanh nghiệp đến tài chính, giá cả, tiền lương Tổ chức quản lý
trong DNNN chuyển biến còn chậm. Nhiều DNNN và doanh nghiệp đã cổ phần
hóa chưa có điều kiện thay đổi cơ bản quản trị công ty một phần do Nhà nước
24
vẫn tiếp tục nắm giữ tỷ lệ cổ phần lớn trong các doanh nghiệp cổ phần hóa. Một
số tổng công ty nhà nước chưa phát huy được vai trò chi phối trong ngành, lĩnh
vực hoạt động. Một số công ty hoạt động còn kém hiệu quả. Ở nhiều tổng công
ty giữa Chủ tịch hội đồng quản trị và Tổng giám đốc chưa có sự thống nhất
trong quản lý, điều hành doanh nghiệp.
- Kết quả sản xuất, kinh doanh của DNNN nói chung và tổng công ty nhà
nước nói riêng chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước.
- Vấn đề hậu cổ phần hóa chưa được quan tâm đúng mức; sự hiểu biết pháp
luật về công ty cổ phần còn hạn chế, cho nên, có nơi chưa phát huy quyền làm
chủ của cổ đông và người lao động, ngược lại có nơi lạm dụng quy định của
pháp luật gây khó khăn cho quản lý của Hội đồng quản trị, điều hành của giám
đốc.
- Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và lợi ích của người được cử làm đại diện
chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại DNNN đã cổ phần hóa chưa được quy định
đầy đủ, nên còn lúng túng.
- Các mô hình tổ chức quản lý mới triển khai còn chậm, ở một số tổng công
ty nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con vẫn
còn duy trì biện pháp quản lý hành chính đối với các công ty con như giao chỉ
tiêu kế hoạch, thu phí quản lý…
2.2.2.2. Nguyên nhân
Tất cả những hạn chế làm cho DNNN kém năng lực cạnh tranh trên thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status