Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn của Doanh nghiệp cổ phần tại Việt Nam hiện nay - Pdf 14

Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
Lời nói đầu
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu
tư vào sản xuất kinh doanh. Nhu cầu về vốn là một trong những bức xúc của doanh
nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà các doanh nghiệp đều mong
muốn đầu tư mở rộng sản xuất, đa dạng hoá dịch vụ nhằm tăng cường khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO). Doanh nghiệp có nhiều hình thức để huy động vốn như phát hành cổ
phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân hàng, tín dụng từ nhà cung cấp, thuê tài chính, v.v.
Mỗi cách thức huy động vốn đều có những ưu, nhược điểm riêng. Tuy nhiên, do
trình độ phát triển của hệ thống tài chính còn chưa cao, cũng như một số hạn chế
mang tính chủ quan khác, thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trong
nước hiện còn tồn tại nhiều bất cập cần sớm được giải quyết. Điển hình là tình
trạng doanh nghiệp quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng – một nguồn
vốn không dễ tiếp cận, trong khi đó lại bỏ qua hoặc ít để ý tới các nguồn huy
động nhiều tiềm năng khác. Mặt khác, do hạn chế về trình độ nhân sự, các mô
hình tính toán chi phí vốn một cách khoa học hầu như không đượccác doanh
nghiệp áp dụng khi tìm kiếm nguồn tài trợ.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tìm hiểu về tình hình hoạt động tài
chính của các doanh nghiệp hiện nay, em nhận thấy việc làm thế nào để huy
động vốn cho doanh nghiệp và huy động vốn bằng cách nào đang là một bài
toán khó. Nhất là những doanh nghiệp đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và
có các yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng huy động vốn để phục vụ cho sự mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là một vấn đề mà em hết sức
tâm đắc. Do vậy, em đã lựa chọn đề tài cho Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
của mình là: “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn của Doanh
nghiệp cổ phần tại Việt Nam hiện nay”.
Kết cấu của đề án gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn của doanh nghiệp cổ phần ở Việt

trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp.
Theo D.Begg, ông cho rằng vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện
vật là dự trữ các hàng hóa và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Như vậy Begg đã
đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Thực chất vốn của doanh nghiệp là
biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Vốn của doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối kế toán
của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa. Nó giống các
loại hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm là người sở
hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Chi phí của
việc sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ có sự tách rời quyền sử hữu và quyền
sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh để sinh lợi.
Dưới góc độ doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kết
hợp với sức lao động và các yêu tố khách làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh
doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất vật chát riêng
biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong suốt thời gian
tồn tại của doanh nghiệp từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quá trình sản xuất.
Như vậy, một cách thông dụng nhất, vốn có thể hiểu là các nguồn tiền tài trợ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn tiền này được hình thành
dưới nhiều cách thức khác nhau và tại các thời điểm khác nhau. Giá trị nguồn vốn
phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Tùy từn loại
hinh doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có các phương
thực tạo vốn và huy động vốn khác nhau.
1.2 Phân loại vốn của doanh nghiệp
3
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
Trong quá trình sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu
quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn. Tùy vào mục đích và loại hình
của từng doanh nghiệp mà vốn được phân loại theo các tiêu thức khác nhau.
1.2.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành:

+ Vốn tín dụng thuê mua :
Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng giữa người thuê và người cho
thuê. Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền cho người cho thuê theo thời hạn
4
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
mà hai bên thỏa thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản và nhận được tiền
cho thuê tài sản.
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu: là thuê vận hành và
thuê tài chính.
* Thuê vận hành (thuê hoạt động): là hình thức thuê ngắn hạn tài sản.
* Thuê tài chính : là phương thức tài trợ tín dụng trung hạn và dài hạn theo hợp
đồng.
Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sở để doanh
nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh
doanh, quy mô, quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lược đầu tư.
Bên cạnh đó, đối với việc quản lý vốn ở doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập là hoạt
động luân chuyển vốn do đó doanh nghiệp cần phân loại vốn theo phương thức chu
chuyển.
1.2.2 Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển
- Vốn cố định của doanh nghiệp
Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, lắp đặt tài sản cố định hữu hình
hay vô hình gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn cố định của
doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước. Quy mô của vốn cố định
nhiều hay ít sẽ tác động đến quy mô của tài sản cố định, ngược lại những đặc điểm
vận động của tài sản cố định trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định,
chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định.
Đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trính sản xuất kinh doanh:
+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm. Vốn cố định là
hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định cùng tham gia vào các chu kỳ
tương ứng.

Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh
ứng trước về tài sản lưu động, là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động. Trong
quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động luôn vận động thay thế hoặc đổi
chỗ cho nhau đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất được tiến hành thuận lợi .
Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi
hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm hàng hóa, vốn lưu động của doanh nghiệp
cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản
xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục, thường xuyên lặp
lại theo chu kỳ được gọi là quá trình tuần hoàn của vốn lưu động.
Có thể thấy, vốn lưu động được phân bố trên khắp các giai đoạn luân chuyển vì
vậy doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau.
1.3 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động kinh doanh dù với bất kỳ quy mô nào cũng cần phải có một
lượng vốn nhất định, nó là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp.
1.3.1 Về mặt pháp lí:
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập điều kiện đầu tiên là phải có một lượng
vốn nhất định, lượng vốn này tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định, khi đó địa vị
pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập. Trường hợp trong quá trình hoạt động
kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định
doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản, giải thể, sát nhập
Như vậy vốn có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm
bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.
1.3.2 Về mặt kinh tế:
Vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục.
Vốn biểu hiện năng lực và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều
này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng găy gắt,
đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn.
Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh
nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất, sau một chu kỳ kinh doanh vốn của doanh
nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo vốn của

động của thời kì đã qua và quyết định cụ thể của chủ doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố
quyết định để hình thành doanh nghiệp. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của doanh
nghiệp và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cố phần mà họ nắm giữ. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau, do đó
cách thức huy động vốn cổ phần cũng khác nhau.
Trong loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, các
nguồn vốn cũng tương tự như trên, tức là nguồn vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do
8
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
các bên tham gia góp vốn, các đối tác,v.v… Tỷ lệ và quy mô vốn của các bên tham
gia doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như luật pháp, đặc điểm các
ngành kinh tế-kĩ thuật, cơ cấu liên doanh…
1.4.2 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại
Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan
trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn
đối với toàn bộ nền kinh tế qyốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các doanh
nghiệp, các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng
thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng.
Không có một doanh nghiệp nào có thể hoạt động mà không vay vốn ngân hàng
hoặc tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương
trường. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm
bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có
đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.
Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn vay vốn,
bao gồm vay dài hạn (thường tính từ 3 năm trở lên, có nơi tính từ 5 năm), vay trung
hạn(từ 1 đến 3 năm) và vay ngắn hạn (dưới 1 năm). Tiêu chuẩn và quan niệm về
thời gian để phân loại trong thực tế không gióng nhau giữa các nước, và có thể khác
nhau giữa các ngân hàng thương mại.

Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay
còn gọi là tín dụng của người cung cấp. Nguồn vốn này hình thành một cách tự
nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán này hình thành một cách tự nhiên trong
quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn tín dụng thương
mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà còn với toàn
bộ nền kinh tế.
Nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh
hoạt trong kinh doanh; mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng quan hệ hợp tác kinh
doanh một cách lâu bền. Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai
bên kí hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung. Tuy nhiên, cần nhận thấy
tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại khi quy mô tài trợ vượt quá giới
hạn an toàn.
Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất của khoản
vay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ. Khi
mua bán hàng hóa trả chậm chi phí này có thể “ẩn” dưới hình thức thay đổi mức
giá. Tùy thuộc quan hệ và thỏa thuận cụ thể giữa các bên.
1.4.3 Nguồn vốn phát hành cổ phiếu doanh nghiệp
Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổphiếu để huy động vốn
cho doanh nghiệp. Phát hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn cho
doanh nghiệp. Sau đây là một vài yếu tố cơ bản về việc phát hành và kiểm soát các
loại cổ phiếu khác nhau
a. Cổ phiếu thường
Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những ưu thế trong
việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trong thị trường chứng
10
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
khoán. Cổ phiếu thường là mặt hàng quan trọng nhất trên thị trường chứng khoán,
điều đó cũng đủ để chứng minh tầm quan trọng của nó với các công cụ tài chính
khác.
Giới hạn phát hành: Mặc dù việc phát hành cổ phiếu có ưu thế so với các phương

Mệnh giá không chỉ được ghi trên mặt cổ phiếu mà còn được ghi rõ trên giấy
phép phát hành và trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Tuy nhiên mệnh giá chỉ
11
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
có ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn sau khi cổ phiếu
được phát hành. Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trường đối với cổ phiếu,
phảnh ánh lòng tin của nhà đầu tư đối với hoạt động của doanh nghiệp
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là những người sở hữu doanh
nghiệp, họ có quyền trước hết đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thu nhập
của doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công
việc của doanh nghiệp. Tuy nhiên thông thường có một số lượng cổ đông của doanh
nghiệp, nên mỗi cổ đông chỉ có một quyền lực giới hạn nhất định trong việc bỏ
phiếu hoặc chỉ định thành viên của ban giám đốc. Một số công việc hay những vấn
đề đặc biệt cần có sự nhất trí của đa số cổ đông.
Tùy theo việc quy định trong điều lệ doanh nghiệp, có thể hình thành các phương
thức bỏ phiếu khác nhau. Hai phương thức được sử dụng rộng rãi là bỏ phiếu theo
đa số và bỏ phiếu gộp.
Bỏ phiếu theo đa số là việc cổ đông có thể dùng mỗi lá phiếu để bầu một người
quản lí, các chức danh sẽ được bầu riêng rẽ. Điều này rõ ràng có lợi cho những
người đang nắm đa số cổ phiếu của doanh nghiệp vì họ có thể tạo áp lực mạnh hơn
bằng số cổ phiếu đang nắm giữ.
Cơ chế bỏ phiếu gộp cho phép cùng bỏ phiếu cho một ứng cử viên nào đó tức là
một số cổ đông có thể dồn toàn bộ số phiếu có tring tay cho một ứng cử viên được
ưa chuộng. Đây là lí do tại sao một số các cổ đông thiếu ủng hộ cơ chế bỏ phiếu
gộp.
Trong điều lệ doanh nghiệp, quy định rõ về phạm vi những sự vụ cần được đa số
(trên 50%) cổ đông tán thành và những vấn đề cần được tuyệt đại đa số (75% trở
lên) cổ đông nhất trí.
Vấn đề chống thôn tính và bảo vệ doanh nghiệp trước sự xâm lấn bằng cổ phiếu
của các doanh nghiệp khác là một khía cạnh đặc biệt. Huy động vốn qua phát hành

chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất đối với điều kiện của doanh nghiệp và tình
hình trên thị trường tài chính.
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến các chi
phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu. Trước
khi quyết định phát hành cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại trái
phiếu. Trên thị trường tài chính ở nhiều nước thường có các loại trái phiếu doanh
nghiệp sau:
a. Trái phiếu có lãi suất cố định
Loại trái phiếu này thường được sử dụng nhiều nhất, tức là loại phổ biến nhất
trong các loại trái phiếu của doanh nghiệp. Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái
phiếu và không thay đổi trong suốt kì hạn của nó. Như vậy cả doanh nghiệp và
người giữ trái phiếu đều biết rõ mức lãi suất của khoản nợ trong suốt thời gian tồn
tại. Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được quy định rõ.
Để huy động vốn trên thị trường trái phiếu, phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái
phiếu. Tính hấp dẫn phụ thuộc các yếu tố sau:
13
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
- Lãi suất của trái phiếu: Người đầu tư luôn muốn được hưởng mức lãi suất cao.
Nhưng doanh nghiệp phát hành phải cân nhắc mức lãi suất có thể chấp nhận được
đối với trái phiếu của họ chứ không thể trả thật cao như mong muốn của nhà đầu tư.
Lãi suất của trái phiếu phải được đặt trong tương quan so sánh với lãi suất trên
thị trường vốn, đặc biệt là phải tính đến sự cạnh tranh với trái phiếu của các doanh
nghiệp khác và trái phiếu chính phủ.
- Kì hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng không những đối với doanh
nghiệp phát hành mà cả đối với nhà đâu tư. Khi phát hành phải căn cứ vào tình hình
thị trường vốn và tâm lí dân cư mới có thể xác định kì hạn hợp lí
- Uy tín tài chính của doanh nghiệp và mức độ rủi ro: Không phải doanh nghiệp
nào cũng có thể thu hút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đâu tư cần phải
đánh giá uy tín doanh nghiệp thì mới quuyết định mua hay không mua. Các doanh
nghiệp có uy tín và vững mạnh thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra

được ưa thích.
d. Chứng khoán có thể chuyển đổi
Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Mỹ, thường phát hành chứng khoán
kèm theo những điều kiện có thể chuyển đổi được. Nói chung sự chuyển đổi và lựa
chọn cho phép các bên có thể lựa chọn một cách thức đầu tư có lợi và thích hợp.
Một số loại chứng khoán có thể chuyển đổi:
- Giấy bảo đảm: Người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một số lượng cổ phiếu
thường được quy định trước với giá cả và thời gian xác định
- Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi
thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường. Nếu giá trị của cổ phiếu tăng lên
thì người giữ trái phiếu có cơ mày nhận được lợi nhuận cao.
1.4.5 Nguồn vốn từ lợi nhuận tái đầu tư
Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan
trọng của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp phát huy được nguồn lực của chính
mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính
sách tái đầu tư từ lợi nhuận giữu lại; họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lớn
lợi nhuận giữ lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại chỉ có thể được thực hiện nếu như
doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, cho phép có thể tiếp tục tái đầu
tư. Đối với các doanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc khong chỉ bản
thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc chính sách khuyến khích tái đầu tư của nhà
nước.
Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp cổ phần thì việc giữ lại lợi nhuận có liên
quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi doanh nghiệp để lại một phần lợi nhuận
trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phiếu.
Các cổ đông không nhận được tiền lãi cổ phiếu nhưng bù lại, có có quyền sở hữu số
vốn cổ phần tăng lên của doanh nghiệp.
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng
nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông nắm giữ cổ phiếu lâu
dài, nhưng mặt khác, lại dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời khì trước

các doanh nghiệp tư nhân ngày càng được gia tăng. Trong khi đó, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư của nhà nước đang được cổ phần hóa, giảm tỉ lệ vốn đầu tư của nhà
nước và bán lại các cổ phần cho chính công nhân viên trong doanh nghiệp. Điều đó
sẽ làm tăng sự gắn kết giữa các công nhân viên và doanh nghiệp, tạo động lực để họ
có thể lao động tốt hơn và có nhiều đóng góp hơn cho doanh nghiệp.
2.1.2 Thực trạng nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại
Tín dụng ngân hàng là hình thức huy động vốn chủ yếu của các doanh nghiệp
nước ta. Các tổ chức tín dụng, đặc biệt là tổ chức tín dụng nhà nước hoạt động chủ
yếu vẫn là huy động và cho vay với các hình thức tín dụng truyền thống, chiếm 75-
80% thị phần cũng như tài sản của hệ thống ngân hàng.
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền kinh tế hội
nhập. Điều đó đang đặt ra cho các chủ thể kinh doanh của nền kinh tế phải đối mặt
với những thách thức mới. Đó là làm thế nào để có thể tồn tại, đứng vững và phát
triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh như
vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng nổi lên như một mắt xích trọng yếu trong hoạt
động của nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có một vai trò quan trọng, với vị
trí là trung gian tài chính của nền kinh tế, thông qua các nguồn lực xã hội được phân
17
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
bổ sử dụng một cách hợp lí và có hiệu quả. Thông qua việc cung ứng nguồn vốn, tín
dụng ngân hàng có tác động rất lớn tới quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đặc
biệt đang lúc chúng ta đẩy nhanh lại quá trình xắp xếp lại và cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước thì vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng lại càng quan trọng
hơn, nhất là trong bối cảnh hiện tại khu vực mà vốn của ngân hàng thương mại
chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tài sản của doanh nghiệp nhà nước, có trường hợp vốn
tín dụng ngân hàng chiếm tới 80% tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân đang có xu hướng được các ngân hàng
quan tâm. Năm 1995, khu vực kinh tế tư nhâm chỉ mới nhận được vốn từ hệ thống
ngân hàng là 18.198 tỷ đồng. Năm 1999, lưu lượng vốn đại được là 44.873 tủ đồng,
tăng 146% so với 1995; trong khi đó tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng

nhiên trong điều tra về thực trạng doanh nghiệp vưa fvà nhỏ do cục phát triển doanh
nghiệp (Bộ kế hoạch&đầu tư) công bố mới đây cho thấy chỉ có 32,38% số doanh
nghiệp cho biết có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn nhà nước(chủ yếu từ ngân
hàng thương mại), 35,24% doanh nghiệp khó tiếp cận và 32,38% số doanh nghiệp
không tiếp cận được. Như vậy khả năng tiếp cận vốn ngân hàng thương mại của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn có nhiều hạn chế.
Ở Việt Nam hiện nay, theo thống kê có tới 80,5% số doanh nghiệp huy động vốn
từ các nguồn mua bán chịu, sử dụng vốn của đối tác. Tuy nhiên, những giao dịch đó
chỉ mới được ghi lại một cách đơn giản trên sổ nợ của người bán; ngay cả khi mua
bán trả chậm, các bên cũng chỉ lập văn bản thỏa thuận với nội dung đơn giản về thời
gian và số tiền trả chậm. Vì vậy, các khoản nợ đã không được xác nhận về mặt pháp
lí và khó chứng minh khi nảy sinh tranh chấp; dẫn đến nguy cơ nợ nần dây dưa,
thậm chí mất trắng tiền tỷ của các tiểu thương ở chợ đầu mối…Mặc dù quan hệ tín
dụng thương mại mua bán chịu giữa các doanh nghiệp, tiểu thương đã tồn tại như
một quan hệ thực tế khách quan trong nền kinh tế Việt Nam, nhưng phải tới
1/7/2006 thì luật các công cụ chuyện nhượng mới có hiệu lực, quan hệ này mới
chính thức được pháp luật thùa nhận. Đây được xem như một đông lực thúc đẩy sự
phát triển thị trường mua bán nợ nói triêng và thị trường tiền tệ nói chung.
2.1.3 Thực trạng nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu doanh nghiệp
Huy động vốn từ việc phát hành cổ phiếu mới là một biện pháp đang được rất
nhiều doanh nghiệp quan tâm hiện nay. Rất nhiều doanh nghiệp nhà nước trong tiến
trình cổ phần hóa đã phát hành thêm cổ phiếu mới để thu hút vốn đầu tư từ bên
ngoài. Các doanh nghiệp cổ phần khác cũng coi đây là một nguồn vốn vô cùng to
lớn. Một số doanh nghiệp đã tăng được vốn chủ sở hữu lên đáng kể khi sử dụng
phương pháp phát hành thêm cổ phiếu này. Theo như ghi nhận, nửa đầu năm 2010,
rất nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn phương thức phát hành thêm cổ phiếu để huy
động vốn. Một vài điển hình như: Tập đoàn Hoà Phát (HPG) chia cổ phiếu thưởng
cho cổ đông với tỷ lệ 10:4. Hiện nay, tập đoàn này có 132 triệu cổ phiếu niêm yết,
tương đương với số vốn điều lệ 1.320 tỷ đồng, sau khi chia cổ phiếu thưởng và hoàn
19

được từ ngân hàng trong thời gian qua đã làm cho kênh huy động vốn cổ phần được
ưu tiên hơn. Thực tế trong khoảng 4-5 tháng đầu năm, lãi suất cho vay của ngân
hàng luôn duy trì ở mức cao, khoảng 17-18%. Để chấp nhận được mức lãi suất này
thì doanh nghiệp phải có được tốc độ tăng trưởng lợi nhuận khoảng 25-30%, điều
20
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
này là rất khó thực hiện đối với doanh nghiệp. Chính vì vậy mà tăng trưởng tín
dụng tính đến thời điểm tháng 8/2010 mới đạt 15%.
Thứ ba, cũng có những doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu chỉ để đảm bảo tỷ
lệ cân đối giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu. Khi doanh nghiệp đang có mức tỉ lệ nợ
cao, việc phát hành thêm sẽ làm giảm tỉ lệ này. Điều này giúp cho doanh nghiệp
luôn ở trong trạng thái tài chính lành mạnh, giảm thiểu rủi ro thanh khoản cũng như
nguy cơ vỡ nợ từ nguồn vốn vay.
Thứ tư, khi thị trường định giá cổ phiếu của nó cao hơn giá trị nội tại. Phát hành
thêm trong trường hợp này sẽ tạo ra lợi nhuận tài chính cho Cty, và thực chất là
tăng phần lợi nhuận cho nhà đầu tư hiện hữu.
Theo đánh giá của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, quy mô thị trường chứng
khoán Việt Nam 10 năm qua đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng
bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng. Trong suốt thời kỳ
từ 2002 -2005, mức vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị
trường đã nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên
43% năm 2007. Trước những biến động của thị trường tài chính thế giới và những
khó khăn của nền kinh tế trong nước, mức vốn hóa của thị trường đã sụt giảm vào
năm 2008. Năm 2009, khi nền kinh tế phục hồi, chỉ số chứng khoán cũng đã tăng
trở lại. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến thời điểm cuối năm 2009 đã đạt
37,71% GDP, ước tính đến cuối năm 2010 sẽ đạt khoảng 40 - 50% GDP. Dự kiến
với việc tái cấu trúc thị trường chứng khoán, trong tương lai 10 năm tới, giá trị vốn
hóa của thị trường sẽ còn tăng mạnh, dự kiến khoảng 70% GDP.
2.1.4 Thực trạng phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Nhìn chung, thị trường trái phiếu doanh nghiệp nước ta hiện nay chưua phát

phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng cường năng lực tài chính
của mình. Tại cuộc Hội thảo Phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam được
vụ Tài chính Ngân hàng - Bộ Tài chính tổ chức vào trung tuần tháng 8/2007, ông
Trương Hùng Long - Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính Ngân hàng cho rằng thị trường
trái phiếu Việt Nam đang trong giai đoạn sơ khai. Cơ cấu trái phiếu doanh nghiệp
trong thị trường trái phiếu Việt Nam còn rất khiêm tốn (chỉ chừng 10%, trong số đó
chủ yếu là các tổng doanh nghiệp lớn như Vinaconex, EVN, Vinashin, Sông Đà…),
trái phiếu chính quyền địa phương chiếm khoảng 10% trong khi trái phiếu chính
phủ chiếm đa số (80-83%). Các nhà đầu tư chủ yếu mua và giữ trái phiếu tới khi
đáo hạn, các dịch vụ liên quan hầu như chưa có… Mặc dù từ năm 2006, thị trường
đã có bước phát triển mới với Nghị định số 52/2006/NĐ-CP mở rộng chủ thể phát
hành (bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước còn có các doanh nghiệp trách nhiệm
hữu hạn, doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) nhưng
dư nợ trái phiếu doanh nghiệp/GDP mới chiếm khoảng 2%. Một quan chức của
22
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
Citibank nhận định, thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam còn hạn chế do
độ tin cậy của phần lớn các doanh nghiệp đối với nhà đầu tư chưa cao, các trái
phiếu chưa được định hạn. Đối với thị trường nhỏ, các nhà đầu tư thường băn khoăn
về tính thanh khoản. Nếu như trái phiếu chính phủ có mức rủi ro thanh toán thấp,
tạo được sự tin cậy thì các nhà đầu tư lại tỏ ra khá dè dặt với trái phiếu doanh
nghiệp. Thị trường trái phiếu Việt Nam chưa phong phú do số nhà phát hành nhỏ,
số lượng trái phiếu phát hành còn thấp nên nhà đầu tư có rất ít lựa chọn. Nhìn
chung, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài trong thị trường trái phiếu Việt
Nam rất lớn (đơn cử trường hợp của Vinashin, Lilama…). Cũng theo chuyên gia
của Citibank, trong bối cảnh thị trường trái phiếu Việt Nam còn sơ khai như hiện
nay, một trong những việc cần làm là nâng cao nhận thức về trái phiếu doanh
nghiệp đối với các nhà quản lý tài chính trong các doanh nghiệp cũng như nhận
thức của các nhà đầu tư. Để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trước hết
phải nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu chính phủ. Chỉ khi nào phát triển

đầu tư ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp cổ phần niêm yết không thanh toán cổ tức thì
lập tức sẽ có sự phản ứng trên thị trường, giá cổ phiếu sẽ giảm. Bởi thông thường
các nhà đầu tư sẽ cho rằng sự sụt giảm về lợi nhuận sẽ kéo theo sự sụt giảm về cổ
tức. Đó sẽ là tín hiệu xấu cho thấy trong tương lai doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó
khăn, khi đó các nhà đầu tư sẽ ồ ạt bán cổ phiếu đi, việc này sẽ khiến cho giá cổ
phiếu của doanh nghiệp sụt giảm. Vì vậy, doanh nghiệp vẫn phải dành phần lớn lợi
nhuận không chia để thực hiện việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt cho các nhà đầu tư.
Do đó việc huy động vốn từ lợi nhuận không chia của các doanh nghiệp tại Việt
Nam vẫn đang bị xem nhẹ.
2.2 Đánh giá thực trạng
2.2.1 Thành tựu đạt được
Mức vốn đăng kí bình quân của doanh nghiệp ngày một tăng. Nếu như trong thời
kì 1991-1999, vốn đăng kí bình qân một doanh nghiệp là gần 0,57 tỷ đồng thì đến
năm 2002 đã là 1,8 tỷ đồng. Luật doanh nghiệp được đưa vào thực hiện đã mang lại
một số thành tựu to lớn sau đây:
Bước đầu đã thu hút được vốn từ việc hát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh
nghiệp. Chính phủ đã ban hành những quy định rõ ràng hơn về việc phát hành cổ
phiếu&trái phiếu doanh nghiệp. Luật chứng khoán được Quốc hội thông qua và có
hiệu lực từ 1/1/2007 đã tạo khung hành lang pháp lí thuận lợi cho việc phát hành cổ
phiếu của các doanh nghiệp. Như nghị định 52/2006/NĐCP về phát hành trái phiếu
doanh nghiệp đã mở ra một kênh mới để huy động vốn cho doanh nghiệp, khuyến
khích các doanh nghiệp trực tiếp tham gia huy động vốn trên thị trường để phục vụ
mục tiêu đầu tư phát triển của doanh nghiệp, kể cả mục tiêu tăng quy mô vốn tự có.
Tín dụng ngân hàng vẫn là hình thức huy động vốn chủ yếu của cá doanh nghiệp
nước ta. Hoạt động chủ yếu của các Tổ chức Tín dụng vẫn là huy động và cho vay
24
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
với các hình thức tín dụng truyền thống, chiếm từ 75%-80% thị phần cũng như tài
sản của hệ thống ngân hàng. Một số ngân hàng có chiến lược rõ ràng hướng về khu
vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, mỗi ngân hàng đã dành một lượng vốn nhất định để

2.2.2 Tồn tại và nguyên nhân
25

Trích đoạn Giải pháp tăng cường huy động vốn cho doanh nghiệp cổ phần ở Việt Nam hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status