Giáo trình môn Luật bảo hiểm - Pdf 14

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
Giới thiệu môn học:
1. Môn học Luật Bảo hiểm là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo cử
nhân chuyên ngành luật kinh doanh.
2. Đây là một môn học Luật chuyên ngành hẹp, vì vậy Luật BH được sắp xếp sau
các môn học như Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật hợp đồng, Luật công
ty, Luật Phá sản. Bởi những kiến thức của môn học này được xây dựng trên nền
tảng của Luật công ty, luật hợp đồng.
3. Môn học Luật bảo hiểm cung cấp cho người học những kiến thức pháp luật cơ
bản nhất liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm: địa vị pháp
lý của các chủ thể hoạt động kinh doanh bảo hiểm, về các loại hợp đồng bảo
hiểm và các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh
bảo hiểm.
4. Nội dung môn học này chỉ dừng lại là những vấn đề pháp lý liên quan đến bảo
hiểm. Những nội dung về bảo hiểm nhưng dưới góc độ kinh tế, tài chính…
không thuộc nội dung của môn học này. Tuy nhiên để nghiên cứu thành công
các nội dung của môn học này, người học phải nắm được những kiến thức về
bảo hiểm dưới khía cạnh tài chính- kinh tế.
Tài liệu tham khảo:
 Giáo trình;
 Sách;
 Văn bản pháp luật;
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
i) Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá X thông qua Ngày 9/12/2000.
ii) Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001 của Chính phủ qui định chi
tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm;
iii) Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001 của Chính phủ qui định chế
độ tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và doanh nghiệp
mội giới bảo hiểm.
iv) Nghị định số 18/2005/ND0-CP ngày 24 tháng 02 naăm 2005 qui định việc

1.1. Rủi ro và các biện pháp khắc phục rủi ro.
a) Khái niệm rủi ro.
b) Biện pháp hạn chế, khắc phục rủi ro.
1.2. Khái niệm bảo hiểm.
a) Quá trình hình thành và phát triển hoạt động bảo hiểm trên thế giới.
b) Khái niệm bảo hiểm
c) Quá trình hình thành và phát triển hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam.
d) Toàn cảnh về thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
2. Các loại hình bảo hiểm.
2.1. Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tiền gửi và bảo hiểm thương mại.
2.2. Bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
2.3. Bảo hiểm của nhà nước, bảo hiểm của công ty cổ phần, bảo hiểm tương hỗ.
2.4. Bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt buộc.
2.5. Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
3. Nguyên tắc hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
3.1. Nguyên tắc bảo hiểm đốivới rủi ro mang tính ngẫu nhiên.
3.2. Nguyên tắc bảo hiểm theo qui luật lấy số đông bù ch số ít.
3.3. Nguyên tắc chọn lọc,phân tán rủi ro.
3.4. Nguyên tắc đền bù trong bảo hiểm.
3.5. Nguyên tắc phải có quyền lợi được bảo hiểm
3.6. Nguyên tắc hợp tác và trung thực tuyệt đối trong bảo hiểm
4. Vai trò của bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
5. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật bảo hiểm.
5.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo
hiểm.
5.2. Pháp luật bảo hiểm của các quốc gia trên thế giới.
5.3. Sơ lược quá trình hình thành, phát triển pháp luật bảo hiểm ở Việt Nam.
6. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm thương mại.
6.1. Khái niệm.
6.2. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo hiểm thương mại.

tính nhân đạo và tự nguyện
Biện pháp bảo hiểm
1
Xem: Lý thuyết bảo hiểm. Trường ĐH Kinh tế TP HCM. NXB Tài chính. 1999. Tr.
13.
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
Thông qua việc hình thành những quĩ bảo hiểm sử dụng quĩ này bù đắp những
thiệt hại nhằm khắc phục hậu qủa xảy ra. Ý niệm bảo hiểm phát sinh từ nhu cầu khắc
phục những rủi ro, đồng thời cũng là ý niệm cộng đồng hoá các rủi ro hiểm hoạ.
1.2. KHÁI NIỆM BẢO HIỂM:
a) Quá trình hình thành bảo hiểm
Về nguồn gốc hình thành bảo hiểm, tức là bảo hiểm xuất hiện vào khoảng thời
gian nào, ở đâu được ghi nhận rất khác nhau trong trong các tài liệu nghiên cứu lịch sử,
kinh tế, pháp luật.
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng các hình thức sơ khai của
hoạt động bảo hiểm xuất phát từ những nhu cầu có thực trong cuộc sống, trong sản xuất
kinh doanh, đó là nhu cầu về phân tán, chia sẻ rủi ro, nhu cầu thiết lập một cơ chế
chuyển tải, nhu cầu khắc phục thiệt hại phát sinh từ rủi ro.
Những hình thái sơ khai của bảo hiểm xuất hiện ở Ai cập, Trung quốc, Ý, Anh.
Hoạt động bảo hiểm thực hiện thông qua việc tạo lập những quĩ tiền tệ từ sự đóng góp
của các thành viên. Quĩ tiền tệ này dùng để chi trả cho thành viên gặp rủi ro.
Hình thức bảo hiểm sớm nhất trên thế giới xuất hiện ở Ai cập vào khoảng 4500
năm trước công nguyên. Những người thợ thủ công lập ra các “ quĩ tương trợ” bằng sự
đóng góp của các thành viên nhằm giúp đỡ các nạn nhân gặp tai nạn nghề nghiệp.
Ơ Trung quốc vào khoảng năm 4000 trước CN các thương nhân khi vận chuyển
hàng hoá biết các chia nhỏ hàng của mỗi người trên nhiều tàu khác nhau để phân tán rủi
ro, không để chủ hàng nào bị chịu tổn thất lớn khi không may bị tai nạn. Đây là ý
niệm”không để trứng chung vào một giỏ”
Tại Baby lớn vào khoảng 1700 năm trước CN và ở Aten khoảng 500 trước CN
xuất hiện một hình thức cho vay nặng lãi (cho vay mạo hiểm lớn) đối với các nhà kinh

yếu trên cơ sở thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.
Hai là bên bảo hiểm phải cam kết chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
(trong trường hợp bảo hiểm tính mạng), hoặc bồi thường cho bên được bảo hiểm (trong
trường hợp bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự), khi đối tượng được bảo hiểm gặp
phải những tổn thất do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.
Tóm lại, bảo hiểm là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ (hay còn gọi là quỹ bảo hiểm)
của bên bảo hiểm chủ yếu từ phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và sử dụng quỹ đó để
bù đắp những thiệt hại.
c) Quá trình hình thành hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam: (giới thiệu để HV
tự tham khảo phần c và d)
Trước 1975 ở Miền Nam hoạt động kinh doanh bảo hiểm phát triển khá sôi
động. Số lượng các công ty bảo hiểm lên đến 52. Trong đó ½ là các doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài. Nghiệp vụ bảo hiểm ở giai đoạn này là chủ yếu gồm bảo hiểm tai
nạm lao động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm chuyên chở hàng hoá. Cơ quan quản lý
nhà nước về bảo hiểm trong giai đoạn này là Bộ Tài chính. Mạng lưới bảo hiểm phát
triển rộng khắp. Sau ngày giải phóng tiến hành quốc hữu hoá các công ty bảo hiểm và
thành lập Công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm
Lịch sử hình thành và phát triển ngành BH Việt Nam được đánh dấu bởi các sự
kiện sau:
Ngày 17/12/1964 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập Tổng Công ty
Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/ 1965. Bảo Việt
là công ty bảo hiểm duy nhất, độc quyền tại Việt Nam trong thời gian này.
Từ 1976 Bảo Việt chuyển đổi thành Tổng công ty với 53 chi nhánh ở khắp các
tỉnh thành.
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
Ngày 18/12/1993 Chính phủ ban hành NĐ 100/NĐ-CP về kinh doanh bảo
hiểm. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho hoạt động kinh doanh bảo
hiểm sau này.
NĐ 100/NĐ_CP được ban hành đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế
của đất nước. NĐ 100/ NĐ-CP phá vỡ tình trạng độc quyền của Bảo Việt, hiện nay bên

giữa Ngân hàng đầu tư và phát triển với Uc (BIDV-QBE) Công ty bảo hiểm 100 vốn
nước ngoài Allianz-AGF (Liên doanh Pháp- Đức), Công ty bảo hiểm 100 % vốn nước
ngoài Groupama của Pháp.
Cấu trúc thị trường của thị trường bảo hiểm cũng có nhiều biến chuyển theo
hướng tích cực. Theo Hiệp Hội Bảo hiểm Việt Nam thị phần của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ như sau: Bảo Việt chiếm 38,76%; Bảo Minh 28,97%; PVIC 12,4%;
PJICO: 6,04%; Bảo long: 1,13,%
2

Tổng phí bảo hiểm của toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam trong 9 tháng đầu
năm 2002 đạt trên 5440 tỷ đồng. Trong đó bảo hiểm phi nhân thọ đạt 2180 tỷ đồng.
3
2
Bản tin số 03/2002 của Hiệp Hội bảo hiểm Việt Nam.
3
Tạp chí Thông tin thị trường bảo hiểm. 4/2003
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
Các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay ở Việt Nam (thông tin chỉ để tham khảo)
I/ Các Công ty Bảo hiểm phi Nhân thọ:
1/ Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt):
Là Tổng Công ty Bảo hiểm Nhà nước hạng đặc biệt, được thành lập năm 1964 và được
thành lập lại năm 1996, có hệ thống đơn vị thành viên ở tất cả các tỉnh thành phè trong
cả nước (61 Công ty Bảo hiểm Phi Nhân thọ, 56 Công ty Bảo hiểm Nhân thọ, 5 chi
nhánh Bảo hiểm Nhân thọ, 1 Trung tâm đào tạo và 1 Công ty đại lý Bảo hiểm tại
London (BAVINA UK); 15 Công ty tham gia góp vốn sáng lập; thị phần Bảo hiểm
(2000): 61%.
2/ Công ty cổ phần Bảo hiểm Nhà rồng (BAOLONG):
Công ty Cổ phần được thành lập năm 1995; Bảo hiểm Phi Nhân thọ; thị phần (99):
1.17%.


Nam có 20 doanh nghiệp bảo hiểm và 6 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang kinh
doanh. Ngoài ra, theo thông tin ngoài lề từ giới kinh doanh, tập đoàn bảo hiểm lớn
nhất của Mỹ NewYork Life sau một thời gian chờ đợi cũng đang chuẩn bị được vào
thị trường Việt Nam và một loạt các DN bảo hiểm đang xếp hàng chờ cấp phép.
Tại Việt Nam, doanh thu bảo hiểm nhân thọ đạt 7.710 tỷ đồng, bảo hiểm phi nhân thọ
đạt 4.801 tỷ đồng và doanh thu hoạt động đầu tư đạt 1.832 tỷ đồng. Tổng doanh thu
bảo hiểm chiếm xấp xỉ 2% GDP. Tốc độ phát triển của thị trường bảo hiểm, dù đang
tăng mạnh, nhưng vẫn chưa đến "ngưỡng" tương xứng với tiềm năng của nó.
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
Allianz and AGF.

10/ Công ty liên doanh tnhh Bảo hiểm Việt-úc (BIDV-QBE INSURANCE CO., LTD):
Là Công ty Bảo hiểm phi Nhân thọ được thành lập năm 1999. Các bên liên doanh:
Công ty Bảo hiểm QBE và Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam

II/ các Công ty Bảo hiểm Nhân thọ:
1/ Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam

2/ Công ty liên doanh TNHH Bảo hiểm baominh-cmG:
3/ Công ty TNHH Bảo hiểm chinfon-manulife co
4/ Công ty TNHH Bảo hiểm prudential V+iet nam co., ltd:
5/ Công ty TNHH Bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA co., ltd:
III/ Công ty Tái Bảo hiểm:
Công ty tái Bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE):
Là Công ty tái bảo hiểm Nhà nước được thành lập 1995.

IV/ Công ty môi giới Bảo hiểm:
Công ty liên doanh dịch vụ Bảo hiểm Bảo Việt-AoN (AIB): Là Công ty chuyên môi
giới Bảo hiểm được thành lập 1993.


thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động , người lao
động,các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo qui định cho
người được bảo hiểm y tế khi ốm đau.
Bao hiểm tiền gửi: Theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 về bảo
hiểm tiền gửi, bảo hiểm tiền gửi là hình thức hạn chế rủi ro, bảo vệ người gửi tiền, bảo
đảm an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia. Quan hệ bảo hiểm tiền gủi có 3 chủ thể:
BHTGVN- TCTD- Người gửi tiền. TCTD nhận tiền gửi có nghĩa vụ đóng phí BH
đóng phí bảo hiểm cho tổ chức BHTGVN. Khi tổ chức tín dụng không có khả năng
thanh toán, BHTGVN có nghĩa vụ chi trả cho người gửi tiền.
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là doanh nghiệp bảo hiểm có chức năng
nhận bảo hiểm tiền gửi cho các TCTD. Hoạt động của Tổ chức bảo hiểm tiền gủi Việt
Nam không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà để đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền và sự
an toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội: đây là loại hình bảo hiểm xuất hiện khá sớm cùng lúc với sự
phát triển nền kinh tế thị trường. Cuối thế kỷ 19 chế độ bảo hiểm xã hội xuất hiện ở các
quốc gia trên thế giới, ví dụ ở Đức: năm 1897, ở Pháp :năm 1897; ở các quốc gia Châu
Au khác vá Bắc Mỹ cuối những năm 20 của TK 20 mới có Đạo Luật bảo hiểm xã
hội.Ở VN nhà nước chính thức ban hành điều lệ bảo hiểm xã hội vào tháng 12 năm
1964 và các văn bản bổ sung
Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm bắt buộc áp dụng đối với công chức,
công nhân viên chức nhà nước và mọi người lao động được thực hiện thống nhất trong
cả nước nhằm mục đích bảo đảm vật chất góp phần ổn định đời sống chonhững người
tham gia Bảo hiểm xã hội khi ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng lao động, hết tuổi
lao động hoặc chết.
Bảo hiểm thương mại : là hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua việc lập quĩ bảo hiểm từ
nguồn phí bảo hiểm của các tổ chức cá nhân mua phí bảo hiểm và sử dụng quĩ bảo
hiểm bồi thường các thiệt hại cho các thành viên tham gia bảo hiểm. Các doanh
nghịêp này hoạt động với mục tiêu lợi nhuận
Khái niệm “thương mại” trong bảo hiểm thương mại.

tranh giữa các doanh nghiệp,
theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước;
 Các doanh
nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo
hiểm, đại lý bảo hiểm
 Doanh nghiệp,
tổ chức và cá nhân
 Tập trung trong tay một
hệ thống thống nhất từ trung ương đến
địa phương
 Bảo hiểm xã hội VN; Bảo
hiểm y tế VN
 Là cơ quan nhà nước
Nguyên
tắc hoạt
động
Tự nguyện, trừ trường
hợp bảo hiểm bắt buộc như
bảo hiểm trách nhiệm dân sự
chủ xe cơ giới, tàu đánh cá
Bắt buộc với người làm công ăn
lương trong các đơn vị hành chính sự
nghiệp và các loại hình doanh nghiệp từ
10 lao động trở lên
Mục đích Kinh doanh nhằm mục
đích lợi nhuận
Lấy thu bù chi, không nhằm mục
đích lợi nhuận
Cơ quan

người thứ ba.
Theo tiêu chí đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm chia thành bảo hiểm tài sản, bảo
hiểm con người, bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba.
Bảo hiểm tài sản: Đối tượng quan hệ bảo hiểm là tài sản (quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt) dưới các hình thức thuộc mọi phạm trù kinh tế
Bảo hiểm con người. Đối tượng bảo hiểm là con người bao gồm: sức khoẻ,
mạng sống, khả năng lao động
Bảo hiểm trách nhiệm : Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm vật chất (trách
nhiệm dân sự, trách nhiệm chi trả các khoản nợ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng) của cá nhân và pháp nhân đối với người thứ ba
2.3. Bảo hiểm nhà nước, bảo hiểm của công ty bảo hiểm cổ phần và bảo
hiểm tương hỗ.
Theo chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm (hình thức sở hữu vốn
của doanh nghiệp bảo hiểm) chia thành:
Bảo hiểm nhà nước: là hoạt động bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm
nhà nước thực hiện. Các doanh nghiệp này có vốn thuộc sở hữu nhà nước. Tuỳ thuộc
vào từng thời điểm và từng quốc gia mà vấn đề độc quyền và thị phần của bảo hiểm
nhà nước có khác nhau
Bảo hiểm của các công ty cổ phần: là hoạt động bảo hiểm được tiến hành bởi
các công ty bảo hiểm cổ phần. Vốn điều lệ của các công ty bảo hiểm thuộc sở hữu các
cổ đông. Loại hình bảo hiểm này hầu hết nhằm mục đích kinh doanh và đặt mục tiêu lợi
nhuận lên hàng đầu.
Bảo hiểm tương trợ: là loại hình bảo hiểm do các tổ chức bảo hiểm tương hỗ
thực hiện. Các tổ chức bảo hiểm thành lập do sự thoả thuận giữa các cá nhân, pháp
nhân nhằm mục đích chi trả những thiệt hại xảy ra trong các thành viên theo tỷ lệ vốn
góp không nhằm mục đích lợi nhuận
2.4. Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện
Theo tính chất bảo hiểm chia thành bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.
Bảo hiểm tự nguyện: các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm dựa trên cơ
sở tự nguyện, tự giác mà không bị ràng buộc bất cứ một sự tác động nào.

c) Bảo hiểm tử kỳ;
d) Bảo hiểm hỗn hợp;
đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;
e) Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định;
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự
và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
a) Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người;
b) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;
c) Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường
sắt và đường không;
d) Bảo hiểm hàng không;
đ) Bảo hiểm xe cơ giới;
e) Bảo hiểm cháy, nổ;
g) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;
h) Bảo hiểm trách nhiệm chung;
i) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;
k) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
l) Bảo hiểm nông nghiệp;
m) Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định
Kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới:
O Mỹ: Bảo hiểm tài sản; Bảo hiểm trách nhiệm; bảo hiểm y tế (tai nạn, ốm
đau); bảo hiểm nhân thọ
Các quốc gia EU: chia thành 2 nhóm :bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân
thọvà 25 loại sản phẩm bảo hiểm khác nhau.

3. NGUYÊN TẮC CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM:
3.1. Nguyên tắc bảo hiểm đối với rủi ro và có tính ngẫu nhiên: Bảo hiểm là
hoạt động với mục đích khắc phục, bù đắp những thiệt hại trong kinh doanh và đời

được bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm. Theo nguyên tắc này công ty bảo hiểm chỉ nhận
bảo hiểm những rủi ro mang tính khách quan nằm ngoài ý muốn và hành vi của con
người. Nếu rủi ro xảy ra do chính hành vi của con người thực hiện một cách chủ định
thì không thể được bảo hiểm.
3.2. Nguyên tắc bảo hiểm theo qui luật lấy số đông bù cho số ít. (Nguyên tắc hoạt
động theo qui luật số đông) Hoạt động bảo hiểm nói chung và bảo hiểm thương mại
nói riêng tạo ra hiện tượng “sự đóng góp của số đông bù vào sự bất hạnh của số
ít”. Khi xuất hiện hoạt động bảo hiểm, rủi ro được chia đều cho cả cộng đồng, tức là
rủi ro được phân tán. Khoản bù đắp thiệt hại từ khách hàng lấy từ phí bảo hiểm do
các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm. Khác với hoạt động tiết kiệm số tiền mà
doanh nghiệp bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm (người thụ hưởng) vượt xa số
tiền phí bảo hiểm do chính họ đóng.
3.3. Nguyên tắc chọn lọc phân tán rủi ro bảo hiểm . Không phải mọi rủi ro đều
được bảo hiểm. Để bảo toàn đồng vốn của mình, các công ty bảo hiểm phải chọn
lọc khách hàng và đối tượng bảo hiểm. Xuất phát từ yêu cầu an toàn trong kinh
doanh (công ty bảo hiểm là một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường), doanh
nghiệp bảo hiểm phải lựa chọn khách hàng, lựa chọn đối tượng và phạm vi bảo
hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối bảo hiểm trong trường hợp khách
hàng không bảo đảm các qui định pháp luật về đối tượng bảo hiểm cũng như mức
độ rủi ro quá cao và gần như tất yếu. Ngoài ra nhằm phân tán rủi ro trong hoạt động
kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thực hiện việc phân
tán rủi ro dưới các hình thức, biện pháp như đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm. Tái
bảo hiểm là phương thức phân tán rủi ro, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chuyển
bớt một phần rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm khác (doanh nghiệp tái bảo hiểm)
bằng một phần tương ứng với số phí bảo hiểm, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên
bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm cho bên
thụ hưởng, sau đó bên bảo hiểm có quyền đòi bên tái bảo hiểm một khoản tiền
tương ứng với trách nhiệm họ đã cam kết. Đ 3 Luật kinh doanh bảo hiểm: Kinh
doanh tái bảo hiểm là hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích
sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh

chi trả tiền bảo hiểm sau đó được quyền yêu cầu bên thứ ba có lỗi bồi hoàn khoản tiền
mà doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả cho bên được bảo hiểm.
3.6. Nguyên tắc hợp tác và trung thực tuyệt đối:
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm để phát huy ý nghĩa của nó nguyên tắc
trung thực phảiđược tuân thủ. Nội dung của nguyên tắc này là bên yêu cầu bảo hiểm
phải cung cấp toàn bộ thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, khai báo tất cả
các khuyết tật. Về phía mình doanh nghiệp bảo hiểm không được từ chối bồi thường
khi xãy ra sự kiện bảo hiểm theo cam kết trong hợp đồng. Xuất phát từ đặc thù của các
doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cũng như khách hàng trong quan hệ bảo hiểm mà
thái độ hợp tác và thiện chí luôn luôn là nguuyên tắc mà các bên phải tuân thủ.
4. VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM
Với sự ra đời của quan hệ kinh tế thị trường bảo hiểm thực sự phát triển thành một lĩnh
vực kinh doanh, thu hút sự tham gia đông đảo của một số lượng lớn các doanh nghiệp
bảo hiểm cũng như người mua bảo hiểm
Bảo hiểm có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế và xã hội:
a) Bảo hiểm thương mại là công cụ để xử lý rủi ro , duy trì đời sống và
hoạt động bình thường cuả cá nhân và doanh nghiệp. Với nguyên tắc:”số đông bù cho
số ít”, bảo hiểm thương mại tập trung được một lượng của cải cần thiết nhằm bù đắp
các thiệt hại thuộc diện bảo hiểm khi gặp rủi ro.
b) Nâng cao khả năng ngăn ngừa rủi ro và hạn chế hậu quả phát sinh từ
rủi ro đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Bảo hiểm mang lại những lợíich hữu
hiệu cho các cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm bởi lẽ bảo hiểm ra đời và tồn tạixuất
phát từ chính những chu cầu trực tiếp là ngăn ngừa rủi ro.
c) Bảo hiểm thương mại là công cụ tập trung vốn. Hoạt động bảo hiểm
của các công ty bảo hiểm thu hút được một lượng lớn vốn , lượng vốn này sẽ được đầu
tư ngược lại nền kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển.
5. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
5.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh
bảo hiểm.

luật về bảo hiểm đã hình thành vững chắc và không ngừng được hoàn thiện tại các
nước EU. Với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, về cơ bản, cho đến
nay, các nước EU đã thành công trong việc thống nhất các quy định pháp luật về quản
lý, giám sát, cấp giâý phép cho các Công ty bảo hiểm v.v. thông qua việc ban hành các
Qui định về bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ mà tất cả các nước thành viên đều phải
tuân thủ.
Nhìn chung, tại phấn lớn các nước EU, hoạt động kinh doanh bảo hiểm chịu sự điều
chỉnh của hai luật cơ bản là luật về doanh nghiệp bảo hiểm (hay luật về quản lý giám
sát bảo hiểm) và luật về hợp đồng bảo hiểm. Một số loại bảo hiểm đặc thù như bảo
hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dan sự chủ xe cơ giới hay
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
tái bảo hiểm, thường được điều chỉnh bằng những văn bản riêng như Luật Bảo hiểm
Hàng hải năm 1906 (Anh), Luật Hàng hải (ý), Ðạo luật Bảo hiểm Trách nhiệm Dân sự
chủ xe cơ giới đối với người thứ ba (Ðức) v.v.
Ngoài ra, trong chừng mực khác nhau, các luật khác liên quan đến bảo vệ người tiêu
dùng, thương mại, lao động cũng có thể được viện dẫn đến tùy từng trường hợp. Chẳng
hạn, Bồ Ðào Nha, Hy Lạp là một trong số ít các nước có các quy định pháp luật về bảo
hiểm được tập hợp trong Bộ luật Thương mại. Trong khi đó, một số nước khác trong đó
có ý lại sử dụng Bộ Luật Dân sự để điều chỉnh nội dung, hình thức, việc giao kết, thực
hiện hợp đồng bảo hiểm.
4
PHÁP LUẬT VÊ BẢO HIỂM Ở CỘNG HOÀ LIÊN BANG NGA.
Là một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi tư nền kinh tế tập trung kế hoạch
sang nền kinh tế thị trường, pháp luật bảo hiểm Cộng hoà Liên bang Nga có những
điểm giống với pháp luật về bảo hiểm Việt Nam.
Trước năm 1992, các quan hệ bảo hiểm tồn tại như một phần trong cơ chế kinh
tế tập trung. Nhà nước độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm. Hoạt động bảo hiểm cũng
như toàn bộ nền kinh tế vận hành theo những nguyên lý của nền kinh tế kế hoạch tập
trung. Vì vậy quan hệ bảo hiểm được điêu chỉnh bởi Cơ sở chung về pháp luật dân sự
Liên Xô, Bộ Luật dân sự CHLB Nga. Sau những cải cách trong nền kinh tế ở Liên

bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Để hướng dẫn thi hành các Nghị định trên, Bộ tài chính đã ban hành một số các
Thông tư liên quan đến chế độ tài chính và các loại hỉnh bảo hiểm cụ thể.
Bên cạnh các văn bản trên, Bộ Luật Dân sự Việt Nam ngày 28/10/1995 cũng
qui định các vấn đề về bảo hiểm (từ Đ, 571 đến Đ. 584) Bộ Luật hàng hải, Luật hàng
không dân dụng, Luật dầu khí, Luật đầu tư nước ngoài cũng trực tiếp hay gián tiếp điều
chỉnh các quan hệ bảo hiểm trong những lĩnh vực nhất định.
Trong lĩnh vực bảo hiểm y tế Chính phủ ban hành NĐ số 58/NĐ-CP ngày
13/8/1998 ban hành kèm theoĐiều lệ bảo hiểm y tế.
Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội Chính phủ ban hành NĐ số 12/CP ngày
26/1/1995 về Bảo hiểm xã hội
Trong quá trình thực hiện NĐ 100/NĐ-CP , thị trường bảo hiểm Việt Nam còn
thiếu một hệ thống văn bản pháp lý hoàn chỉnh, có hiệu lực cao nhằm bảo đảm tính
đồng bộ và làm nền tảng ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam. Mặc
khác, nhiều qui định cụ thể liên quan đến tổ chức, điều hành, quản lý trong nội bộ
doanh nghiệp bảo hiểm không còn phù hợp với các qui định pháp luật khác, đặc biệt là
sau khi ban hành Luật doanh nghiệp ngày 12/6/1999. Nghị định 100 không trong khả
năng điều chỉnh một cách hữu hiệu các quan hệ bảo hiểm. Trong bối cảnh ấy dự thảo
Luật kinh doanh bảo hiểm được chuẩn bị với 18 lần chỉnh sửa. Ngày 9/12/2000 Luật
kinh doanh bảo hiểm đã được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá X thông qua.
Để hứơng dẫn thi hành Luật Kinh doanh Bảo hiểm Chính phủ đã ban hành các
Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành
một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm; Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày
01/8/2001 của Chính phủ qui định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh
bảo hiểm và doanh nghiệp mội giới bảo hiểm.
Bộ tài chính cũng ban hành các Thông tư số 98/2004/TT-BTC ngày 19/10/2004
hướng dẫn thi hành NĐ số 42 và Thông tư số 99/2004/TT-BTC ngày 19/10/2004
hướng dẫn thi hành NĐ số 43/2001/NĐ-CP.
Nhìn chung, hiện nay Chính phủ đang khẩn trương tiến hành xây dựng những

mạng, sức khoẻ, tài sản cho các cá nhân, tổ chức và xã hội nói chung. Pháp luật bảo
hiểm theo cách hiểu này bao gồm pháp luật về bảo hiểm thương mại, pháp luật về bảo
hiểm y tế, pháp luật về bảo hiểm xã hội và các loại hình bảo hiểm khác.
Pháp luật bảo hiểm theo nghĩa hẹp hay pháp luật về bảo hiểm thương mại: là
toàn bộ các qui phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có đặc tính chung
phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các
doanh nghiệp bảo hiểm.
2.2. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bảo hiểm.
Đối tượng điều chỉnh của luật bảo hiểm là các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình nhà nước tổ chức, quản lý hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và
các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các
doanh nghiệp bảo hiểm.
Đối tượng điều chỉnh của Luật bảo hiểm có thể chia làm các nhóm sau.
1. Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong việc tổ chức hệ thống bảo hiểm , quản lý
nhà nước các doanh nghiệp bảo hiểm và hoạt động bảo hiểm. Nhà nước thực hiện
chức năng của mình thông qua việc qui hoạch, xây dựng , quản lý và giám sát hoạt
động kinh doanh bảo hiểm.
2. Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, lãnh đạo điều hành nội
bộ các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quan hệ xã hội phát sinh giữa doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm và hệ thống các chi nhánh, đại lý của nó.
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm. TS. Nguyễn Văn Vân.
3. Nhóm các quan hệ xã hội phát sinh trong qúa trình thực hiện hoạt động kinh doanh
bảo hiểm. Nhóm quan hệ xã hội này có sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm
và khách hàng. Nhóm quan hệ này mang tính bình đẳng, tự do.
Tương ứng với các nhóm quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo hiểm có các nhóm
qui phạm pháp luật cấu thành nên luật bảo hiểm:
a) Nhóm các qui phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm dưới
hình thức ban hành các văn bản pháp luật, tổ chức thực hiện các chính sách phát
triển hệ thống bảo hiểm, kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh bảo
hiểm

chịu sự điều chỉnh của các qui phạm pháp luật rải rác trong các văn bản khác như: Bộ
luật hàng hải ngày 30/6/1990; Bộ luật hàng khơng dân dụng ngày 14/1/1992; Luật dầu
khí ngày 19/7/1993;Bộ luật dân sự năm 1995, luật đầu tư nưóc ngồi
7. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM:
Kh ái niệm kinh doanh bảo hiểm: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh
nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi
ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Khác với các lónh vực kinh doanh khác
trong nền kinh tế, kinh doanh bảo hiểm là một lónh vực kinh doanh đặc thù trong
lónh vực tiền tệ, tài chính. Vì vậy hoạt động kinh doanh bảo hiểm mang tính nhạy
cảm đối với tất cả các biến động của nền kinh tế đồng thời có cũng tác động ngược
trở lại với các lónh vực kinh tế-xã hội. Theo thông lệ và pháp luật Tổ chức thương
mại quốc tế động kinh doanh bảo hiểm được xếp vào một trong những loại hình dòch
vụ theo những mã số nhất đònh. Phụ lục G Hiệp đònh thương mại Việt Mỹ cũng xếp
bảo hiểm vào nhóm ngành dòch vụ theo mã số này, ví dụ: PCPC 8121: bảo hiểm
nhân thọ và tai nạn; PCPC 8129: Bảo hiểm phi nhân thọ; PCPC 81299: tái bảo
hiểm và nhượng tái bảo hiểm; PCPC 8140: dòch vụ môigiới bảo hiểm và đại lý bảo
hiểm và các dòch vụ hỗ trợ khác. Bảo hiểm là một lónh vực kinh doanh có điều
kiện, các chủ thể hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải hội đủ các điều kiện luật
đònh và chòu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Kinh doanh tái bảo hiểm: là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích
sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh
nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.
Hoạt động đại lý bảo hiểm là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc
giao kết hợp đồng bảo hiểm và các cơng việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm
theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm.
Hoạt động mơi giới bảo hiểm là việc cung cấp thơng tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm
về sản phẩm bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
và các cơng việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm

Rủi ro bảo hiểm: là những sự kiện mang tính giả đònh, nếu những sự kiện này xảy ra
thì tiến hành bảo hiểm. Trong pháp luật bảo hiểm Việt Nam hiện hành không tồn
tại khái niệm này. Rủi ro bảo hiểm phải: khách quan không mang tính tất yếu, tức
không phụ thuộc ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm. Rủi ro
bảo hiểm chỉ mang tính giả đònh trong khi đó sự kiện bảo hiểm là sự kiện có thực,
đã xảy ra, có thể đánh giá được mức độ thiệt hại. Trong thời gian thực hiện hợp
đồng bảo hiểm, rủi ro bảo hiểm có thể thay đổi theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng
nặng mức độ rủi ro
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo
hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm
sống hoặc chết.
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các
nghiệp vụ bảo hiểm khác khơng thuộc bảo hiểm nhân thọ.
Kết luận:
Những nội dung trọng tâm của chương 1:
u cầu đối với học viên:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status