ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN
NGUYỄN THỊ THANH HUỆ
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC THẢI
BẰNG THỰC VẬT THỦY SINH
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN
NGUYỄN THỊ THANH HUỆ
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC THẢI
BẰNG THỰC VẬT THỦY SINH
LUÂ
̣
N VĂN THA
̣
C SI
̃
NHIÊN
̃
NGUYỄN THỊ THANH HUỆ
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC
THẢI BẰNG THỰC VẬT THỦY SINH
Chuyên nga
̀
nh: Khoa học môi trường
LUÂ
̣
N VĂN THA
̣
C SI
̃
KHOA HO
̣
C
NGƯƠ
̀
I HƯƠ
́
NG DÂN KHOA HO
̣
C
PGS.TS NGUYỄN THỊ LOAN
H Ni – 2012
Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh
Nguyễn Thị Thanh Huệ K17 Cao học môi trường
1
2
3.2. Kết quả nghiên cứu về tính khả thi của loài thực vật lựa chọn 47
3.3. Đề xuất mô hình xử lý nước rỉ rác cho bãi chôn lấp rác thải của thị trấn
Hùng Quốc – Huyện Trà Lĩnh – Tỉnh Cao Bằng 51
3.4. Mô hình hệ thống xử lý nước rỉ rác bằng cỏ Vetiver 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 617
PHỤ LỤC……………………………………………… …………… 62
Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả xử lý nước rỉ rác
bằng thực vật thủy sinh
Mở đầu
Sự phát triển ngày một cao của nền kinh tế đi đôi với quá trình đô thị
hóa đã làm cho diện tích đất ngày càng thu hẹp trong đó có quá trình
chuyển hóa đất ngập nước sang sản xuất nông nghiệp hoặc nuôi trồng thủy
sản hay san lấp để tạo ra các vùng đất cho phát triển công nghiệp, đô thị.
Trong khi đó, đất ngập nước lại có một vai trò hết sức quan trọng đối với
cuộc sống con người. Một vai trò hết sức quan trọng của đất ngập nước đó
là khả năng đồng hóa và xử lý chất ô nhiễm bởi tự nhiên và các hoạt động
của con người gây ra…
Hiện nay, xử lý nước rỉ rác từ các bãi chôn lấp rác hiện đang là vấn đề
"nóng" tại các đô thị lớn ở Việt Nam. Ðây là nguồn nước thải độc hại do có
chứa nhiều chất độc hại hủy diệt đối với sinh vật và con người như ni-tơ, a-
mô-ni-ắc, vi khuẩn gây bệnh đường ruột, BOD
Có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng xử lý nước rỉ rác, nhưng phần
lớn các công trình này hiệu quả đều không cao, không đáp ứng được yêu
cầu xử lý đạt tiêu chuẩn thải với các chỉ tiêu COD và ni-tơ tổng. Cùng với
các nghiên cứu về việc sử dụng ĐNN nhân tạo để xử lý nước rỉ rác, chúng
tôi nhận thấy các loại đất ngập nước có thể được kết hợp để đạt được hiệu
quả xử lí cao hơn, đặc biệt là với xử lí nitơ.
trên xuống và thẳng đứng từ dưới lên.
So với hệ đất ngập nước tự nhiên, hệ đất ngập nước nhân tạo được kiểm
soát tốt hơn, do đó tạo cơ sở cho việc thiết lập các hệ thống xử lí nước thải
thử nghiệm với hàm lượng chất ô nhiễm, loại thực vật và kiểu dòng chảy
được xác định rõ ràng. Ngoài ra, hệ đất ngập nước nhân tạo còn có thêm
một số ưu điểm so với các vùng đất ngập nước tự nhiên bao gồm việc lựa
chọn vị trí, đa dạng về kích thước, và quan trọng nhất là tải thủy lực và thời
gian lưu được kiểm soát chặt chẽ.
Thực vật trong đât ngập nước có sự thích nghi về tổ chức cơ thể, hình
thái, chức năng cho phép chúng tiếp tục tồn tại trong những điều kiện khắc
nghiệt. Trong nhiều hệ sinh thái ĐNN, thực vật ĐNN tái sinh bằng hạt
trong suốt những thời kỳ phơi dài đủ để nảy mầm và thiết lập hạt giống.
Mặt khác, sự phơi và làm ẩm lại của hạt sẽ quyết định giải phóng hạt khỏi
tình trạng ngủ, giai đoạn ẩm - lạnh cũng làm tăng phần nào của tình trạng
này. Sự sống tiếp tục và sự phát triển của hạt phụ thuộc vào khả năng chịu
ngập trong nước hoàn toàn hoặc đối với cây mọc cao đủ để các lá cây duỗi
thẳng đến khu vực phía trên mặt nước.
Thực vật đất ngập nước ngoài khả năng sản xuất sinh khối, còn là thành
phần then chốt của hệ sinh thái đất ngập nước bởi vì chúng cung cấp lớp vỏ
che chở cho sự sinh sản, nơi ẩn náu thú săn mồi và nơi nghỉ cho các vật ở
dưới nước cùng nhiều loài hoang dã. Theo đó, thực vật ĐNN tạo dựng nên
những chức năng hữu ích của ĐNN, chúng có giá trị xã hội đáng kể như
quản lý chất cặn và sự vận chuyển chất dinh dưỡng. Những giá trị về giải trí
và giá trị cảnh quan thẫm mỹ được cải thiện nhờ quản lý thành công thực
vật ĐNN.
Thực vật thuỷ sinh là những loài có khả năng thích nghi cao với môi trường
sống ngập trong nước và một số trong các loài đó có khả năng xử lý các
chất ô nhiễm trong nguồn nước với hiệu quả rất cao. Thực vật thuỷ sinh
được sử dụng để xử lý nước ô nhiễm có thể chia làm 3 loại: nhóm thực vật
bài, cùng tên phân loại là Vetiver zizanioides L được tìm thấy ở Miền
Trung, quanh vùng Pleiku và Ban Mê Thuột, nó tự nhân giống để tồn tại
bằng hạt của mình, vì vậy chắc chắn loại cỏ này không bắt nguồn từ Nam
Ấn Độ như loại Monto.
Ngoài ra, dựa vào hình dáng cây, hoa và đặc biệt là mùi thơm đặc
trưng của bộ rễ, một số nhà khoa học đã đặt tên theo địa phương gồm ba
giống như sau:
(1) Giống Đồng Nai có hoa tím, hạt lép không nảy mầm, rễ có mùi
thơm đặc trưng của cỏ Vetiver.
(2) Giống Bình Phước có hoa tím, hạt lép không nảy mầm, hình dạng
giống như giống Đồng Nai nhưng rễ không có mùi thơm.
(3) Giống Đắc Lắc có hoa tím, hạt lép không nảy mầm và rễ có mùi
thơm đặc trưng như giống Đồng Nai.
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là: phương pháp tổng
quan, phương pháp tổng quan thu thập tài liệu, phương pháp điều tra và
phỏng vấn ngoài thực địa, phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích tổng hợp đánh giá và các
phương pháp tính toán để xây dựng bể yếm khí, ô đất ngập nước.
Kết quả nghiên cứu
Căn cứ vào hiện trạng quả lý chất thải rắn tại thị trấn Hùng Quốc, cùng
với nguồn kinh phí hạn chế, đặc biệt nơi đây có địa hình chủ yếu chia cắt
bởi các ngọn núi, đồi; việc đi lại khó khăn, khả năng cung cấp điện hạn chế.
Trong khí đó hệ thống đất ngập nước có thể được vận hành ở những nơi
thiếu điện.
Dựa trên thiết kế bãi rác của thị trấn cùng với quỹ đất còn lại trong bãi rác
và lượng nước rác tạo ra mỗi ngày là 110 m
3
nước rác để xây dựng hệ thống
đất ngập nước. Tại bãi rác đã xây đựng bể thu nước rác và nước mưa chảy
tràn với S = 36m
chuyển oxy lớn hơn nhiều, và do đó, tạo điều kiện cho quá trình nitrat hóa
tốt hơn. Tuy nhiên, trong hệ thống thẳng đứng sự khử nitrat xảy ra rất hạn
chế. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hệ thống đất ngập nước dòng chảy
ngang có hiệu quả xử lý thấp với nồng độ cao. Trong khi đó, hệ thống kết
hợp lại thể hiện ưu thế hơn.
Thiết kế được hệ thống đất ngập nước để xử lý nước rỉ rác cho bãi rác
của thị trấn Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Hệ thống kết hợp
dòng chảy ngang và dòng thẳng đứng, sử dụng Cỏ Vetiver với tổng diện
tích là 186 m
2
. Trong đó, một hệ chảy ngang đặt ở đầu, bao gồm: 3 hệ
thống dòng chảy ngang nhỏ với kích thước (19m×1,9m×2m) và một hệ
thẳng đứng, bao gồm: 2 hệ chảy thẳng đứng kích thước (19m×1,9m×2m) ở
giai đoạn thứ hai.
Và khi nghiên cứu về một số loài thực vật ở một số nước trên Thế giới, Việt
Nam được sử dụng trong xử lý nước rỉ rác như: sậy, cỏ nến và cỏ Vetiver.
Cho thấy, cỏ Vetiver có khả năng chịu đựng trong điều kiện hạn hán, lũ lụt
kéo dài (chịu được trong luồng nước sâu từ 0,6-0,8m liên tục trong vòng 45
ngày), sống được trong môi trường nghèo chất dinh dưỡng, có khả năng xử
lý nước thải ở nồng độ cao (khi COD ~ 1500 mg/L), và đặc biệt chúng là
loài cây đã được sử dụng lâu năm trong mục đích chống xói mòn, sạt nở ở
đất nước chúng ta.
Ở Việt Nam, giống C. nemoralis hiệu quả không cao nhưng người dân một
số tỉnh ven biển Miền Trung Việt Nam (tiếng địa phương gọi là Cỏ Đế) và
Tây Nguyên từ lâu đã biết ích lợi của nó và đã trồng để giữ cho bờ ruộng
lúa được vững chắc và quan trọng hơn là bộ rễ của nó ngắn, không thích
hợp để ổn định những sườn đất dốc. Hơn nữa, cũng chưa có công trình
nghiên cứu nào về khả năng của nó trong xử lý nước thải, phục hồi và cải
thiện môi trường nên sử dụng sử dụng giống V. zizanioides. Cùng với