BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT LÊ VĂN LƯỢNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN,
TRỮ LƯỢNG VÀNG GỐC VÙNG PHƯỚC SƠN - QUẢNG NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS TRƯƠNG XUÂN LUẬN
2. PGS.TS NGUYỄN PHƯƠNG
Hà Nội - 2014
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vùng Phước Sơn tỉnh Quảng Nam có cấu trúc địa chất phức tạp, biểu hiện
khoáng sản khá phong phú; đặc biệt là vàng gốc. Kết quả tìm kiếm, thăm dò,
khai thác của Công ty vàng Phước Sơn trong những năm gần đây cho thấy vùng
có tiềm năng lớn về vàng gốc với những biểu hiện khoáng hoá, điểm quặng, mỏ
quặng có quy mô khác nhau, phân bố trong các trầm tích biến chất hệ tầng Núi
Vú. Vấn đề nghiên cứu đặc điểm quặng hoá và lựa chọn mô hình đánh giá tài
nguyên, trữ lượng vàng gốc trong vùng chưa được quan tâm đúng mức. Để làm
sáng tỏ đặc điểm quặng hoá vàng gốc; đặc biệt là việc lựa chọn mô hình đánh giá
tài nguyên, trữ lượng phù hợp, làm cơ sở định hướng cho công tác thăm dò, khai
thác là nhiệm vụ cần thiết. Luận án dành học vị tiến sĩ Địa chất với đề tài
“Nghiên cứu lựa chọn mô hình đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc
vùng Phước Sơn - Quảng Nam” được NCS lựa chọn nhằm góp phần đáp ứng
yêu cầu do thực tế đòi hỏi.
2. Mục tiêu của luận án
- Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chất khoáng sản dạng biểu bảng trên
cơ sở ứng dụng phần mềm Surpac 5.1 và CSDL trong GIS để quản trị bản đồ số;
- Nghiên cứu sử dụng các mô hình toán thống kê (một chiều, hai chiều),
hàm cấu trúc (Variogram), hình học mỏ, mặt cắt địa chất để mô hình hoá đối
tượng nghiên cứu, làm cơ sở lựa chọn phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ
lượng vàng gốc;
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp Kriging, nghịch đảo khoảng cách để
tính trữ lượng, tài nguyên xác định và phương pháp tính thẳng theo thông số
quặng hoá, phương trình hồi quy để dự báo tài nguyên chưa xác định.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
- Luận án đóng góp những cứ liệu bổ sung vào sự hiểu biết toàn diện
hơn về thành phần vật chất quặng, đặc điểm quặng hoá và biến đổi không
gian của các thông số địa chất thân quặng vàng gốc vùng nghiên cứu;
3
- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện phương pháp luận thăm dò;
trọng tâm là nghiên cứu lựa chọn các mô hình phù hợp để mô hình hoá và
đánh giá tài nguyên, trữ lượng vàng gốc.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp cho các nhà quản lý và các doanh nghiệp cơ sở dữ liệu địa
chất khoáng sản vàng gốc vùng Phước Sơn đảm bảo độ tin cậy và là tài liệu
tham khảo định hướng công tác tìm kiếm, thăm dò, đầu tư khai thác vàng gốc
trong vùng.
- Cung cấp cho cơ sở sản xuất hệ phương pháp nhằm nâng cao độ tin
cậy trong đánh giá tài nguyên, trữ lượng; lựa chọn mạng lưới thăm dò phù
hợp với kiểu quặng vàng gốc Phước Sơn và các vùng khác có điều kiện địa
chất khoáng sản tương tự.
7. Những điểm mới của luận án
- Vàng gốc vùng Phước Sơn thuộc kiểu thạch anh - sulfua đa kim -
theo quy trình đề xuất trong Luận án (hình 2.11); trong đó phương pháp
Kriging là chủ đạo, đảm bảo độ tin cậy và tiện ích cho sử dụng tài liệu trong
quy hoạch thăm dò và khai thác mỏ.
9. Cơ sở tài liệu
- Các công trình đo vẽ bản đồ địa chất khu vực tỷ lệ 1:200.000, 1:50.000.
- Báo cáo kết quả thăm dò, khai thác vàng gốc phân khu Bãi Đất và Bãi
Gõ, vùng Phước Sơn.
- Tài liệu trong các công trình nghiên cứu chuyên đề, khảo sát, tìm
kiếm, thăm dò vàng gốc trong vùng.
- Các nguồn tài liệu trong và ngoài nước về đánh giá tài nguyên, trữ
lượng khoáng sản rắn nói chung và vàng gốc nói riêng.
- Tài liệu do NCS thu thập từ 2009 đến nay.
5
10. Nơi thực hiện luận án
Luận án được hoàn thành tại Bộ môn Tìm kiếm Thăm dò, khoa Địa
chất, trường Đại học Mỏ - Địa chất dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS
Trương Xuân Luận, PGS. TS Nguyễn Phương. NCS xin trân trọng bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các thầy hướng
dẫn khoa học.
NCS nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của Bộ môn Tìm kiếm Thăm
dò, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Lãnh đạo Văn phòng
Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia. Tác giả cũng nhận được sự
động viên giúp đỡ, góp ý tận tình của TS Nguyễn Tiến Dũng, TS Lương Quang
Khang, PGS. TS Nguyễn Văn Lâm, PGS. TS Nguyễn Quang Luật, GS. TS
Đồng Văn Nhì, PGS. TS Đặng Xuân Phong, PGS. TS Lê Thanh Mẽ, PGS. TS
Trần Thanh Hải, TS Đỗ Văn Nhuận, TS Nguyễn Mai Quân, TS Đặng Văn
Lãm, TS Trần Văn Miến, TS Hoàng Văn Khoa, TS Quách Trọng Tín, TS Bùi
Hoàng Bắc, TS Khương Thế Hùng, TS Nguyễn Quốc Phi và các nhà khoa học
trong và ngoài trường Đại học Mỏ - Địa chất. NCS xin bày tỏ lòng biết ơn chân
chất và khoáng sản khu vực có J. H. Hofet (1941), Fromaget (1952) đã đo vẽ
Bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:2.000.000 và 1:500.000, ngoài ra còn một
số công trình nghiên cứu chuyên đề về địa tầng, kiến tạo và magma của
La Croix A, Trần Huỳnh Anh (1932-1968); nghiên cứu tuổi đồng vị của
T. C. V. Hilde (1967); C. Faure (1969).
1.1.2.2. Giai đoạn sau năm 1975
Công tác nghiên cứu địa chất và tìm kiếm khoáng sản mang tính hệ
thống trong vùng được các nhà địa chất Việt Nam tiến hành từ năm 1980, bao
gồm: Đo vẽ bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do Trần Đức Lương và
Nguyễn Xuân Bao đồng chủ biên (1988); Bản đồ địa chất khoáng sản nhóm
tờ Huế - Quảng Ngãi (1986) tỷ lệ 1:200.000 của Nguyễn Văn Trang và nnk;
Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 nhóm tờ Bà Nà do Nguyễn Đức Thắng và nnk
7
hiệu đính năm 2006. Bản đồ địa chất Việt Nam - Lào - Campuchia tỷ lệ 1:
1.000.000 của Phan Cự Tiến và nnk (1989).
Hình 1.1. Sơ đồ vùng Phước Sơn trong cấu trúc địa chất Nam Trung Bộ,
tỷ lệ in 1:3.500.000 “Nguồn: Trần Văn Trị và Vũ Khúc 2010”[24]
Công trình đo vẽ Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000, phía Đông có nhóm tờ
Tam Kỳ - Hiệp Đức của Koliada A. A và nnk (1990); Phía Bắc có nhóm tờ A
Hội của Bùi Thế Vinh và nnk (2011); Phía Nam là nhóm tờ Đăk Glêi - Khâm
Đức của Đỗ Văn Chi và nnk (1997).
Trong các công trình nêu trên, công trình của Bùi Thế Vinh đã xếp các
trầm tích biến chất phân bố chủ yếu ở vùng Phước Sơn vào hệ tầng Núi Vú
8
(NP-
1
và phân bố ở trung tâm vùng. Thành phần thạch học gồm đá phiến thạch anh -
biotit, actinolit - albit, actinolit - chlorit và đá vôi hoa hoá, phiến sét vôi [5].
Thế nằm đá biến đổi mạnh, góc dốc phổ biến 30-50
0
. Trong các đới dập vỡ,
khe nứt của các đá phiến thạch anh - biotit, phiến sét vôi, phân bố các thân
9
quặng thạch anh - sulfua đa kim - vàng dạng mạch, mạng mạch, mạch thấu
kính. Chiều dày phân hệ tầng khoảng 1.300m.
- Hệ tầng A Vương (€
2
-O
1
av) phân bố dạng dải nhỏ ở phía đông bắc, giới
hạn từ đứt gãy tây Khâm Đức về phía Bắc. Thành phần thạch học gồm phiến
thạch anh - biotit, thạch anh - biotit - chlorit, sericit - thạch anh, biotit - chlorit, đá
phiến giàu vật chất than, cát kết ít khoáng. Chiều dày hệ tầng 800 - 1.600m.
Trong các tập đá phiến thạch anh - biotit, phiến sét vôi thuộc hệ tầng Núi
Vú, phân hệ tầng trên có chứa các thân quặng thạch anh - sulfua đa kim - vàng.
Đây là tiền đề thạch địa tầng thuận lợi cho tìm kiếm quặng vàng gốc trong vùng.
1.1.4. Khái quát về magma xâm nhập
Diện lộ lớn nhất là xâm nhập granođiorit, granit - biotit phức hệ Bến
Giằng - Quế Sơn phân bố ở phía tây, ít hơn là đá olivinit, pyroxenit phức hệ
Hiệp Đức phân bố hạn chế ở phía nam và granosyenit phức hệ Đèo Cả phân bố
dạng khối nhỏ ở phía đông; ngoài ra còn có các đai đá mạch không rõ tuổi.
1.1.4.1. Phức hệ Hiệp Đức (σPZ
1
hđ) gồm nhiều thể đá siêu mafic nhỏ phân bố
dọc theo đứt gãy K7, xuyên cắt gây biến chất nhiệt hệ tầng Núi Vú. Thành
giao nhau giữa Au và Mo (hình 1.3). Với kết quả phân tích các nguyên tố vi
lượng cho thấy pha 2 phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn có chứa các nguyên tố:
V, Ti, Co, Ni, Cu, Ag, Pb [26].
Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Trung (1979) cho thấy: phức hệ Bến
Giằng - Quế Sơn thuộc kiểu I - granit. Về địa hóa, các nguyên tố vi lượng Cr,
Co, Ni, Cu có trị số lớn hơn Clark từ 1,07 - 3,5 lần. Các nguyên tố Cu, Pb và
Zn biến đổi mạnh. Tại vị trí tiếp xúc giữa xâm nhập phức hệ Bến Giằng - Quế
Sơn và hệ tầng Núi Vú phát hiện các biểu hiện khoáng hoá vàng gốc.
Trong đới Đăk Rông - A Lưới nằm về phía tây bắc vùng Phước Sơn,
Nguyễn Tiến Thành, trong Luận án của mình đã chứng minh vàng gốc liên quan
đến magma xâm nhập phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn [22].
Lê Văn Hải và nnk đã lấy và phân tích mẫu trong xâm nhập
granođiorit. Kết quả phân tích mẫu tại khu Trà Long - Suối Cây hàm lượng
Au là 0,17g/T; khu K7 có 01 mẫu hàm lượng Au là 0,18g/T [5].
11
Kết quả đo vẽ địa chất tờ Bà Nà (phía đông bắc vùng nghiên cứu), Nguyễn
Văn Trang và nnk (1997) đã phát hiện quặng vàng gốc liên quan đến xâm nhập
acid phức hệ Hải Vân và phức hệ Đại Lộc. Tuy nhiên, trong khu vực Phước Sơn
không thấy mối liên hệ giữa quặng vàng với 2 phức hệ xâm nhập này.
Hình 1.2. Sơ đồ địa chất vùng Phước Sơn “Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010, có
chỉnh lý) [5]
Từ các dẫn liệu nêu trên, NCS đồng tình với quan điểm của Huỳnh
Trung (1979), Lê Văn Hải (2010) và nnk cho rằng vàng gốc trong vùng liên
quan với đá magma thuộc pha 2 phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn.
12
0
, phân bố các mạch thạch anh - sulfua đa
kim - vàng ở khu K7, Đăk Sa [5], [20].
13
Từ các dẫn liệu trên cho thấy, trong 3 đứt gãy, chỉ có đứt gãy K7 có
liên quan đến khoáng hoá vàng gốc trong vùng.
1.1.5.2. Nếp uốn
Trong vùng Phước Sơn thể hiện rõ nhất và có ý nghĩa trong tìm kiếm
khoáng sản là nếp lồi Sông Giang [20], phân bố ở phía đông nam, trục nếp
uốn phương tây bắc - đông nam kéo dài 14 - 15km từ Đăk Sa, qua K7 đến
Sông Giang, hai bên cánh góc dốc 30 ÷ 40
0
. Tại Đăk Sa phân bố các mạch
thạch anh - sulfua đa kim - vàng trên cánh tây nam [5]. Đây là tiền đề thuận
lợi để tìm kiếm quặng vàng gốc trong vùng.
Tóm lại, vùng Phước Sơn nằm trong á địa khu Nam Ngãi có cấu trúc địa
chất phức tạp, phân bố chủ yếu trầm tích biến chất hệ tầng Núi Vú, phân hệ
tầng trên bao gồm đá phiến thạch anh - biotit, xen các tập đá vôi bị hoa hoá,
tập phiến sét vôi. Các thân quặng thạch anh - sulfua đa kim - vàng liên quan
đến đứt gãy K7, trong các mặt tách lớp của các tập đá phiến thạch anh - biotit,
đá phiến sét vôi, thường phân bố trên cánh của nếp lồi Sông Giang. Đây là cơ
sở góp phần khoanh định diện tích có triển vọng vàng gốc trong vùng.
1.2. ĐẶC ĐIỂM QUẶNG HOÁ VÀNG GỐC VÙNG PHƯỚC SƠN
Trong vùng nghiên cứu đã xác định được 8 khu phân bố quặng vàng gốc
đó là: Đăk Sa, Bãi Chuối, K7, Trà Long - Suối Cây, Bãi Bướm, Vàng Nhẹ, Bãi
Gió và Núi Vàng. Trong đó khu Đăk Sa đã được thăm dò, các khu còn lại được
tìm kiếm tỉ mỉ. Kết quả tìm kiếm, thăm dò trong vùng đã xác định các đới
khoáng hoá và một số thân quặng vàng gốc có giá trị công nghiệp.
1.2.1. Đặc điểm các đới khoáng hoá
1.2.1.4. Đới khoáng hoá Bãi Bướm gồm các mạch thạch anh - sulfua - vàng phân
bố trong mặt tách lớp phương á vĩ tuyến phát triển trong đá phiến thạch anh,
graphit, chlorit thuộc hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên, kéo dài khoảng 200m,
rộng 5m, chiều sâu khoảng 50m; được khống chế bởi các vết lộ quặng, lò khai
thác thủ công và 02 lỗ khoan. Hàm lượng khoáng vật pyrotin 0,5 - 1%, mẫu rãnh
15
hàm lượng Au: 0,12 - 64,37g/T. Tại công trình khoan gặp đới biến đổi chứa sulfua
nhưng không thấy vàng. Hàm lượng Au trung bình đới khoảng 1g/T.
1.2.1.5. Đới khoáng hoá Vàng Nhẹ gồm các mạch thạch anh sulfua vàng phân
bố trong tập đá phiến thạch anh - biotit hệ tầng Núi Vú, phân hệ tầng trên, kéo
dài phương tây bắc - đông nam khoảng 400m, rộng 30m, cắm về tây nam với
góc dốc 60 - 70
0
, duy trì theo chiều sâu khoảng 100m. Trong đới đã lấy và
phân tích 19 mẫu cục, 61 mẫu rãnh ở các vết lộ quặng, công trình khai thác
thủ công. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu gồm pyrit và pyrotin chiếm
đến 3%. Kết quả phân tích mẫu cục hàm lượng Au từ 0,11 đến 17,17g/T, các
mẫu còn lại đều có hàm lượng Au nhỏ hơn 1g/T. Hàm lượng Au trung bình
đới khoảng 3,27g/T.
1.2.1.6. Đới khoáng hoá Bãi Gió gồm các mạch thạch anh - sulfua - vàng
phân bố ở vòm nếp lồi trong đá phiến thạch anh - biotit, kéo dài khoảng 200m
theo phương á kinh tuyến, rộng 10m, chiều sâu dự kiến khoảng 50m; được
khống chế bằng 4 hào trên mặt và 9 lỗ khoan, lò khai thác thủ công. Kết quả
phân tích 412 mẫu rãnh, hàm lượng Au thấp, phần lớn nhỏ hơn 1g/T, duy nhất
01 mẫu đạt hàm lượng 1,26g/T. Khoan gặp 01 mạch quặng dày 0,8m hàm
lượng Au: 4,46g/T. Trung bình đới hàm lượng Au khoảng 0,5g/T.
1.2.1.7. Đới khoáng hoá Núi Vàng phát hiện 02 dị thường địa hoá liên quan đến vàng
gốc, kéo dài theo phương á kinh tuyến. Dị thường (I) dài 300m, rộng 90m. Dị thường
(II) dài 200m, rộng 80m. Hàm lượng vàng thấp, trung bình khoảng 0,1g/T.
TQ BĐUQ
17
Thân quặng BĐMQ được cấu thành bởi các mạch thạch anh - sulfua đa
kim - vàng duy trì khá ổn định, có ranh giới tương đối rõ ràng với đá vây quanh
(Ảnh 1.1), chiều dày: 0,2 ÷ 9,58m, trung bình 2,96m, biến đổi không ổn định
(Vm = 70%), chu vi đường viền: 1,23, thuộc loại đơn giản. Khoáng vật quặng
chủ yếu gồm pyrit, pyrotin, galenit, sphalerit, (có thể có electrum) và vàng tự
sinh. Tổng hàm lượng sulfua thay đổi 3 ÷ 65%, trong đó pyrit: 2%, pyrotin:
1%, galenit: từ ít đến 12%, sphalerit từ ít đến 50%, (electrum) và vàng tự sinh.Ảnh 1.1. Thân quặng BĐMQ, ranh giới tương đối rõ ràng với đá vây quanh
“Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010”
Hình 1.5. Mặt cắt địa chất tuyến BB’ TQ QTZ3 “Nguồn: Lê Văn Hải và nnk 2010” (chỉ
dẫn xem phụ lục 2 kèm theo) [5]
Ranh giới TQ
với đá vây quanh
Thân quặng BĐMQ
18
1.2.2.2. Phân khu Bãi Gõ có 6 chùm thân ký hiệu SERP, BGUQ, SC2, MB2,
BGLQ, QTZ4 và 02 thân đơn SC3, MB1 (phụ lục 2, hình 2 đến hình 7).
Trong đó chùm thân SERP gồm 4 thân ký hiệu: SERP1, SERP2, SERP3,
SERP4; chùm thân BGUQ gồm 3 thân ký hiệu: QTZ1, BGUQ1, BGUQ2;
chùm thân SC2 gồm 6 thân ký hiệu 1, 2, 3, 4, 5, 6; chùm thâm MB2 gồm 2
thân 1 và 2; chùm thân BGLQ gồm 2 thân QTZ2, QTZ3; chùm thân QTZ4
gồm 3 thân 1, 2, 3. Trong đó thân quặng QTZ3 thuộc chùm thân BGLQ (hình
a. Thành phần khoáng vật quặng
Kết quả phân tích mẫu khoáng tướng cho thấy khoáng vật quặng tương
đối đơn giản, giống nhau về đặc điểm hình thái khoáng vật tiêu biểu và điển
hình bao gồm: pyrit, pyrotin, galenit, sphalerit, (có thể có electrum) và vàng
tự sinh, song biến đổi cạnh mạch phức tạp (chi tiết mục 1.2.3.6).
Tổng hàm lượng khoáng vật sulfua trong các thân quặng cụ thể ở các
phân khu như sau:
- Phân khu Bãi Đất khoáng vật quặng chủ yếu là pyrit, galenit,
sphalerit, (có thể có electrum) và vàng tự sinh dạng lấp đầy các khe nứt,
chiếm 1 ÷ 65%. Trong đó sphalerit từ ít đến 50%, galenit từ ít đến 12%, pyrit
đến 2%, ít hơn là pyrotin đến 1%.
- Phân khu Bãi Gõ khoáng vật quặng chủ yếu gồm pyrotin, pyrit,
sphalerit, galenit, (có thể có electrum) và vàng tự sinh; tổng khoáng vật sulfua
dao động 2 ÷ 15%, cục bộ lên đến 45%.
Hàm lượng khoáng vật sulfua phân khu Bãi Đất thường cao hơn so với
phân khu Bãi Gõ, đặc biệt là khoáng vật galenit và sphalerit, trong đó khoáng
vật sphalerit chiếm ưu thế hơn cả, có thể là do phân khu Bãi Đất có sự phân
bố tập đá vôi ưa chì và kẽm.
b. Đặc điểm khoáng vật chính
+ Pyrit (FeS
2
) gồm 2 thế hệ I và II, dạng hạt tha hình, kích thước hạt 0,03
- 1mm, xâm tán rải rác trong nền thạch anh. Quan sát rõ pyrit bị galenit và
sphalerit thay thế, gặm mòn, gắn kết ở một số nơi. Pyrit II có quan hệ tiếp xúc
phẳng (đồng sinh) với vàng tạo thành THCSKV, thể hiện rất rõ trên ảnh 1.9.
20
+ Pyrotin (FeS) có thể phân biệt 2 thế hệ pyrotin: pyrotin I chiếm 90%
tổng số pyrotin trong mẫu, dạng hạt tha hình với kích thước chủ yếu 0,2 -
1mm, xâm tán thành ổ và rải rác trong thạch anh. Nhiều vị trí gặp pyrotin I bị
tự sinh, hạt tha hình xâm tán rải rác trong thạch
anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.3. Mẫu LV1.2, tầng lò 1, TQ BĐMQ. Vàng tự sinh,
hạt đẳng thước, xâm tán trong thạch anh, tiếp xúc phẳng
với galenit và sphalerit (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.4. Mẫu LV2-2.1, tầng lò 2 TQ BĐMQ. Vàng
tự sinh hạt tha hình xâm tán theo các vi khe nứt
trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 50x1.7)
Ảnh 1.5. Mẫu LV2-2.2, tầng lò 2, TQ BĐMQ. Vàng
tự sinh hạt kéo dài nấp đầy theo vi khe nứt trong
thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7) Ảnh 1.6. Mẫu LV3-3.1, tầng lò 3, TQ BĐMQ. Vàng tự
sinh, hạt tha hình xâm tán trong thạch anh, tiếp xúc phẳng
với galenit và sphalerit (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.7. Mẫu LV3-3.2, tầng lò 3, TQ BĐMQ. Vàng
tự sinh hạt đẳng thước xâm tán trong thạch anh cùng
galenit và sphalerit (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
22Ảnh 1.8. Mẫu LV3-3.3, tầng lò 3, TQ BĐMQ. Vàng
tự sinh, hạt tha hình xâm tán cùng galenit trong thạch
anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.9. Mẫu DSDH24.1, Lỗ khoan DSDH24, TQ
BĐMQ. Vàng tự sinh tiếp xúc phẳng với pyrit tạo
thành THCSKV xâm tán trong thạch anh (Nikon
+, độ phóng đại 200x1.7)
Ảnh 1.16. BG 7.3 (lò 1) TQ QTZ3. Vàng tự sinh (Au) kích thước lớn tạo thành THCSKV với
sphalerit (Spl), galenit (Gal) pyrotin II trong thạch anh (Nikon +, độ phóng đại 200x1.7)
(Ảnh: PGS.TS Nguyễn Quang Luật, 2013)
c. Khoáng vật phi quặng
Khoáng vật không quặng chủ yếu là thạch anh, dolomit, calcit, rất ít
sericit và chlorit.
1.2.3.2. Thành phần hoá học quặng
a. Nguyên tố Au
- Trong các đới khoáng hoá: kết quả lấy mẫu trên các vết lộ, hào tìm
kiếm, các lò khai thác thủ công, hàm lượng Au: 0,1 - 98,16g/T (K7); dưới sâu
hàm lượng Au: 0,1 - 69,7g/T; trung bình đới 0,5 - 3,27g/T.
- Trong các thân quặng: TQ BĐMQ hàm lượng Au: 0,13 ÷ 76g/T (đã xử
lý mẫu đặc cao), trung bình 18,65g/T; hệ số biến thiên hàm lượng Vc = 267%,
thuộc loại đặc biệt không đồng đều; TQ QTZ3 hàm lượng Au: 0,11 ÷ 48g/T (đã
xử lý mẫu đặc cao), trung bình: 9,57g/T, hệ số biến thiên hàm lượng Vc = 206%,
cũng thuộc loại đặc biệt không đồng đều.