Nghiên cứu xây dựng quy trình đánh giá tài nguyên nước mặt và áp dụng cho vùng kinh tế đông nam bộ - Pdf 14


Bộ tài nguyên và môi trờng
Cục quản lý tài nguyên nớc
Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ

Nghiên cứu xây dựng qui trình đánh giá
tài nguyên nớc mặt và áp dụng cho vùng
kinh tế đông nam bộ Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Lê Tuấn
KS. Nguyễn Sĩ Khôi Cục Quản lý tài nguyên nước
KS. Nguyễn Vũ Trung Cục Quản lý tài nguyên nước
ThS. Nguyễn Thị Việt Hồng Cục Quản lý tài nguyên nước
KS. Đỗ Văn Lanh Cục Quản lý tài nguyên nước
PGS, TS. Trần Thanh Xuân Viện Khoa học KTTV và
MT
Hà Nội, ngày tháng năm 2008
Ch
ủ nhiệm đề tài Nguyễn Lê Tuấn
Hà Nội, ngày tháng năm 2008
Thủ trưởng cơ quan chủ trì
Hà Nội, ngày tháng năm 2008
Chủ tịch Hội đồng đánh giá chính thức

II. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC 7
II.1 Khái niệm chung về đánh giá tài nguyên nước 7
II.2 Một số công trình đánh giá tài nguyên nước 7
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 12
III.1 Một số vấn đề chung trong công tác đánh giá tài nguyên nước 12
III.2 Sự cần thiết xây dựng quy trình đánh giá tài nguyên nước mặt 13
III.3 Phạm vi và các nội dung nghiên cứu của đề tài 14
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẠM VI KHÔNG GIAN TRONG
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT 16

I. TỔNG HỢP MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC
THỰC HIỆN 16
I.1 Một số kết quả đánh giá tài nguyên nước mặt cho toàn quốc 16
I.2 Một số vấn đề liên quan đến phạm vi không gian 19
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT
NAM 20
III. ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT THEO VÙNG LÃNH THỔ 22
III.1 Những yêu cầu về đánh giá tài nguyên nước cho vùng lãnh thổ 22
III.2 Tính toàn diện của các thông tin đánh giá tài nguyên nước 23
III.3 Yêu cầu về đánh giá tài nguyên nước của các hồ chứa 24
IV. SAI SỐ VÀ ĐỘ TIN CẬY TRONG ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT 26
IV.1 Chuẩn hoá 26
IV.2 Kiểm soát chất lượng 26
IV.3 Một số vấn đề về sai số 28
IV.4 Đánh giá độ chính xác của các thông tin khái quát theo không gian 31
V. MỘT SỐ NHẬN XÉT 40
Chương 3 CÁC KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ CHỦ YẾU SỬ DỤNG
TRONG ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT 43


IV.2 Xử lý, khôi phục, bổ sung dữ liệu 85
IV.3 Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá tài nguyên nước mặt 91
IV.4 Đánh giá về đặc trưng lưu vực sông và mạng lưới sông ngòi 92
IV.5 Phân tích, tổng hợp, đánh giá về mưa 93
IV.6 Phân tích, tổng hợp, đánh giá số lượng nước sông 95
IV.7 Đánh giá chất lượng nước sông 97
IV.8 Đánh giá số lượng và chất lượng nước hồ chứa 98
IV.9 Xây dựng các báo cáo đánh giá tài nguyên nước mặt 99
IV.10 Xây dựng các bản đồ chuyên đề, các bảng biểu 99
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆC ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC 100
V.1 Bảo đảm các nguồn lực thực hiện chương trình đánh giá tài nguyên nước 100
V.2 Huy động sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan 100
V.3 Yêu cầu về sản phẩm 100
Chương 5 ỨNG DỤNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC
MẶT CHO VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ 101

I KHÁI QUÁT VỀ VÙNG KINH TẾ ĐÔNG NAM BỘ 101

iii
I.1 Điều kiện tự nhiên 101

I.2 Điều kiện kinh tế xã hội 107
II. ỨNG DỤNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT CHO VÙNG KINH TẾ
ĐÔNG NAM BỘ 109
II.1 Mạng lưới sông suối, mạng lưới trạm đo 110
II.2 Tài nguyên nước mưa 115
II.3 Số lượng nước sông 128
II.4 Phân phối lượng nước mặt của các sông trong vùng 133
II.5 Chất lượng nước sông 138
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 144

Hình 5.7 Bản đồ đẳng trị mưa bình quân tháng VII khu vực ĐNB 121
Hình 5.8 Bản đồ đẳng trị mưa bình quân tháng VIII khu vực ĐNB 122
Hình 5.9 Bản đồ đẳng trị mưa bình quân tháng IX khu vực ĐNB 123
Hình 5.10 Bản đồ đẳng trị mưa bình quân tháng X khu vực ĐNB 124
Hình 5.11 Bản đồ đẳng trị mưa bình quân tháng XI khu vực ĐNB 125 v

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Độ chính xác khuyến nghị (mức độ không chắc chắn) ở mức tin cậy 95% 27
Bảng 2.2 Tỷ lệ bản đồ dòng chảy phụ thuộc vào mật độ lưới trạm 34
Bảng 2.1 - Các thành phần cần chú ý khi đánh giá tài nguyên nước theo những thông tin khái
quát hóa theo không gian 38

Bảng 3.1 Ví dụ về các mức chi tiết khác nhau khi mô phỏng dòng chảy 45
Bảng 3.2 Tổng hợp về một số mô hình mô phỏng lưu vực sông 49
Bảng 4.1 Các hoạt động đánh giá chất lượng nước 76
Bảng 4.2 Mục tiêu, mục đích của các hoạt động đánh giá chất lượng nước 77
Bảng 4.3 Mức độ phức tạp của chương trình giám sát chất lượng nước đa mục đích 83
Bảng 4.4 Tổng hợp về các thông số đánh giá theo các mức đánh giá và các vấn đề về chất
lượng nước của hồ chứa 84

Bảng 4.5 Cấp lưu vực để xác định tiểu lưu vực/tiểu vùng trong đánh giá TNN mặt 86
Bảng 5.1 Phân bố địa hình vùng kinh tế Đông Nam Bộ 102
Bảng 5.2 Danh sách trạm khí tượng trong vùng ĐNB 104
Bảng 5.3 Tốc độ gió trung bình tại một số vị trí trong vùng ĐNB 105
Bảng 5.4 Nhiệt độ trung bình tại một số vị trí trong vùng ĐNB và phụ cận 105
Bảng 5.5 Lượng bốc hơi trên ống Piche tại một số vị trí vùng ĐNB và vùng phụ cận 106
Bảng 5.6 Độ ẩm tương đối trung bình hàng tháng tại một số vị trí trong vùng ĐNB 106


1
MỞ ĐẦU
Nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát
triển của nền văn minh nhân loại, là yếu tố sống còn cho tất cả các loại hình của
sự sống trên hành tinh. Sự gia tăng của dân số, phát triển kinh tế - xã hội và biến
đổi khí hậu toàn cầu là những nguyên nhân chính làm cho nhu cầu nước ngày
càng tăng lên. Với lượng dòng chảy sông ngòi hàng năm vào khoảng 850 tỷ m
3
,
tương ứng với mức bảo đảm 2570.10
3
m
3
/km
2
và 12700 m
3
/người.năm, Việt
Nam được xếp vào loại quốc gia có tài nguyên nước dồi dào. Tuy nhiên, lượng
nước đó ẩn chứa nhiều nguy cơ đe dọa tính bền vững. Thứ nhất, trên 60% được
hình thành trên lãnh thổ nước ngoài và chảy vào Việt Nam. Thứ hai, sự phân bố
rất không đều theo thời gian và không gian. Lớp dòng chảy trung bình năm của
các vùng lãnh thổ có thể chênh lệch nhau tới hàng chục lần; lượng dòng chảy
trong 3 – 5 tháng mùa lũ có thể chi
ếm tới 60 – 90% lượng dòng chảy năm. Thứ
ba, tình trạng ô nhiễm nguồn nước dẫn đến sự suy thoái chất lượng nước đang
diễn ra với phạm vi và mức độ đáng lo ngại. Chính vì thế, yêu cầu đánh giá tài
nguyên nước dựa trên những thông tin được cập nhật đầy đủ, chính xác và
những tiến bộ về khoa học và công nghệ luôn được đặt ra cấp thiết.

lớn như Ủy ban Nước và Vệ sinh của Liên hợp quốc, Tổ chức nông lương thế
giới, Quỹ Môi trường toàn cầu tiến hành.
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã được sự quan tâm, giúp đỡ có hiệu quả
của Vụ Khoa học - Công nghệ, Vụ Kế hoạch - Tài chính; sự
chỉ đạo sát sao của
lãnh đạo Cục Quản lý tài nguyên nước, sự phối hợp chặt chẽ của Viện Khí tượng
Thủy văn, Trung tâm KTTV Quốc gia và các cộng tác viên, các đồng nghiệp.
Tuy nhiên, công tác quản lý tài nguyên nước theo hướng tổng hợp, bền
vững cũng mới được đặt ra thường xuyên, cấp bách hơn trong những năm gần
đây; nhiều vấn đề có liên quan đến việc đánh giá tài nguyên nước còn rất mới
mẻ, phức tạp đối với chủ nhiệm đề tài. Hơn nữa, đây là vấn đề có liên quan đến
nhiều ngành khoa học, nhiều lĩnh vực khác nhau. Với mong muốn đóng góp một
phần kết quả nghiên cứu vào công tác quản lý tài nguyên nước nhưng do khả
năng và hiểu biết của chủ nhiệm đề tài còn hạn chế, các kết quả của đề tài không
thể tránh khỏi những khiếm khuy
ết. Chủ nhiệm đề tài rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các nhà quản lý và bạn
bè, đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.

3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ CÁC VẤN ĐỀ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT
I. TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐỐI
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
I.1 Các dạng tài nguyên nước và chu trình của nước trong tự nhiên
Tài nguyên nước: bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới

Theo kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học [64], lượng nướ
c tham
gia vào chu trình tuần hoàn mỗi năm chỉ chiếm khoảng 0,04% tổng lượng nước
trên địa cầu và cứ 12 ngày sông lại thay nước mới một lần, 9 ngày bầu khí quyển
lại thay hơi nước mới một lần.
Chu trình của nước trong tự nhiên là một chu trình tuần hoàn liên tục, vĩnh
viễn, bất di bất dịch, không ngưng nghỉ.
4

Hình 1.1 Chu trình của nước trong tự nhiên
I.2 Vai trò của nước đối với sự phát triển kinh tế xã hội
“Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự
sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước; mặt
khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường” (Luật Tài
nguyên nước).
Tài nguyên nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đáp ứng các
nhu c
ầu thiết yếu của con người như ăn uống, tắm rửa, vệ sinh cá nhân Các
nhu cầu này có liên quan trực tiếp đến sức khỏe của từng người và cả cộng
đồng. Lượng nước cho các nhu cầu này tuy không lớn về mặt số lượng nhưng lại
đòi hỏi rất cao về mặt chất lượng. Hiện nay, sự khan hiếm nước cũng như vấn đề
chất lượ
ng nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới.
Chính vì thế, trong Tuyên bố thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc (9/2000) đã đặt
ra mục tiêu đến năm 2015 sẽ giảm một nửa số người không tiếp cận được với
nguồn nước uống an toàn. Nhân lực vừa là đối tượng phục vụ vừa là yếu tố động
lực cho các kế hoạch phát triển kinh t
ế - xã hội của mọi quốc gia. Khi nguồn
nhân lực không bảo đảm sức khỏe thì cũng đồng nghĩa với việc các chương
trình, kế hoạch phát triển khó có khả năng triển khai trong thực tế. Theo tổ chức

nhiên liệu để sản xuất. Ở nhiều nơi, đây là ngành sử dụng nhiều nước nhất. Việc
đáp ứng nhu cầu lương thực cho dân số ngày càng gia tăng luôn là thách thức
đối với nhiều quốc gia. Trước sức ép về tăng năng suất, việc sử dụng phân bón,
thuốc trừ sâu và các loại hóa chất trong ngành nông nghiệp đã trở nên phổ biến
và không được kiểm soát chặt chẽ. Do v
ậy, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do các
hoạt động sản xuất nông nghiệp là rất lớn. Cùng với nông nghiệp, ngành thủy
sản cũng là ngành dùng nhiều nước và gây ra nguy cơ ô nhiễm cao. Tại những
nơi có tiềm năng về du lịch và dịch vụ, các ngành này được phát triển mạnh mẽ.
Du lịch và dịch vụ sử dụng nước để duy trì sức hấp dẫn của các điểm du lịch và
b
ản thân du khách. Ở Việt Nam, hầu hết các danh lam, thắng cảnh nổi tiếng đều
gắn liền với nước. Hiện nay, loại hình du lịch sinh thái đang được phát triển
mạnh ở nước ta và nước là một trong những yếu tố quyết định sự thành công đối
với loại hình du lịch này. Giao thông vận tải thủy là ngành kinh tế sử dụng tài
nguyên nước. Với điều kiện sông suối phát triển, nhấ
t là ở hai vùng đồng bằng
sông Hồng và sông Cửu Long, nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển giao
thông vận tải thủy.
Tóm lại, nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động của đời
sống xã hội và là động lực cho quá trình phát triển kinh tế. Ngày nay, con người
đã thừa nhận mối quan hệ mật thiết giữa số lượng, chất lượng và thuộc tính phân
bố
theo không gian, thời gian của tài nguyên nước với các chỉ tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia. Đặc biệt, kết quả của nhiều nghiên cứu đã chỉ ra
rằng tính bền vững của các thành công trong việc xóa đói giảm nghèo tại các
nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào tiềm năng nguồn nước cũng như
phương thức quản lý tài nguyên nước tại các nước đó.
I.3 Nhận thứ
c của con người về tài nguyên nước và mối quan hệ với đánh

bảo vệ các yếu tố tự nhiên và môi trường liên quan đến khả năng tái tạo của
nguồn nước.
- Cũng giống như bất kỳ một tài nguyên nào khác, nước là một tài nguyên
có giá trị kinh tế trong tất cả các các hình thức khai thác, sử dụng và vì thế khi
khai thác, sử dụng phải phát huy giá trị kinh tế của tài nguyên nước, trên c
ơ sở
bảo đảm hiệu quả tổng hợp cao nhất về kinh tế - xã hội và môi trường. Nói cách
khác, phải đánh giá đúng giá trị của tài nguyên nước và có những cơ chế, chính
sách phù hợp, thực sự coi nước là hàng hoá, có thể mua bán, trao đổi hay áp
dụng những quy tắc thương mại như bất kỳ một loại hàng hoá nào khác.
Các nhận thức đúng đắn, phù hợp như trên về tài nguyên nước đóng vai trò
hế
t sức quan trọng đối với việc đánh giá tài nguyên nước. Nếu như trước kia,
trong rất nhiều trường hợp, đánh giá tài nguyên nước là một nhiệm vụ xuất phát
từ các yêu cầu nghiên cứu khoa học hay giảng dạy thì hiện nay, việc đánh giá tài
nguyên nước là một nhiệm vụ nhằm đáp ứng mối quan tâm của cộng đồng và
toàn xã hội. Mọi cá nhân, mọi cộng đồng hay mọi hộ khai thác, sử d
ụng tài
nguyên nước đều muốn biết được thông tin như “chúng ta có bao nhiêu nước?”
“chất lượng nước thế nào?” Đây chính là những đòi hỏi từ thực tế cuộc sống,
từ thực tiễn của quá trình phát triển, là “đầu bài” quan trọng, thiết yếu cho việc
đánh giá tài nguyên nước và cũng chính là yếu tố bảo đảm sự thành công của
các chương trình, dự án đánh giá tài nguyên nước.
7
II. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC
II.1 Khái niệm chung về đánh giá tài nguyên nước
Đánh giá tài nguyên nước bao gồm việc xác định vị trí các nguồn nước,
phạm vi, diễn biến theo không gian, thời gian của các đặc trưng về số lượng và
chất lượng của nguồn nước; các yếu tố tự nhiên và các hoạt động của con người
có ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng các nguồn nước này. Kết qu

giới của các tác giả khác nhau, đưa ra các kết quả về tổng lượng nước tích trữ và
chu trình nước trên thế giới. Dựa trên số liệu quan trắc của 2400 trạm khí tượng
thuỷ văn với thời gian quan trắc từ 5 đến 178 năm trên toàn thế giới, tác giả đã
đưa ra đánh giá về mặt tổng lượng nước trên trái đất, hệ số biến động của tổ
ng
lượng nước cũng như tiềm năng nước sẵn có theo các lục địa. Công trình cũng
đưa ra các dạng phân bố trong năm, xu thế biến đổi của tổng lượng tài nguyên
nước trong thời kỳ nhiều năm của một số khu vực và lưu vực điển hình. Công
trình đã tiến hành đánh giá sơ bộ về chất lượng của tài nguyên nước trên thế
giới, tình hình ô nhiễm nguồn n
ước cũng như tác động đi theo sự suy thoái của
chất lượng nước. Cũng từ kết quả của công trình này, tác giả đã xuất bản bài viết
8
“Appraisal and Assessment of World Water Resources” đăng trên chuyên khảo
“Water International” (Tập 25, số 1, Trang 11-32, ra tháng 3 năm 2000) do Hội
Tài nguyên nước quốc tế (International Water Resources Association) ấn bản.
Bài báo đã nêu lên mục tiêu của việc đánh giá tài nguyên nước:
Đánh giá tài
nguyên nước có thể sử dụng được bao gồm việc khảo sát, phát hiện các nguồn
nước, kiểm kê chế độ của dòng chảy sông ngòi (bao gồm chế độ trong năm và
nhiều năm), và đánh giá chất lượng nước, làm cơ sở xác định khả năng sử dụng
và bảo vệ nguồn nước.
- Năm 1987, Cục Thuỷ văn, Bộ Thuỷ lợi điện l
ực Trung Quốc đã xuất bản
công trình “Đánh giá tài nguyên nước nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”
(dựa trên chuỗi số liệu quan trắc từ 1956 đến 1979. Công trình do tập thể các
cán bộ của Cục Thuỷ văn, Viện Nghiên cứu Khoa học thuỷ lợi thuỷ điện, Sở
Nghiên cứu Thuỷ văn – Tài nguyên nước Nam Kinh cùng rất nhiều chi cục, sở
thuỷ văn, thuỷ lợi ở các tỉnh thuộc Bộ Thu
ỷ lợi điện lực Trung Quốc tiến hành.

lần thứ nhất và lần thứ hai vào năm 1978. Sau đó, Hội đồng giải thể vào đầu
những năm 1980 và từ 1984, Cơ quan điều tra địa chất (U.S Geological
Survey) thuộc Bộ Nội vụ Mỹ đã liên tiếp tiến hành đánh giá tài nguyên nước
9
theo các khía cạnh chuyên sâu như lượng nước, chất nước, sử dụng nước
thông qua một chương trình “Tóm tắt về nguồn nước quốc gia” (National Water
Summary). Chương trình tiến hành đánh giá tài nguyên nước trên toàn nước Mỹ
và theo các bang, kết thúc vài năm 1991. Hiện nay, hai chương trình lớn đang
được tiến hành là chương trình Chất lượng nước và chương trình Thông tin.
- Trên cơ sở đề xuất của Ủy ban phát triển bền vững (CSD) về việc hệ
th
ống các cơ quan thuộc Liên hợp quốc cần định kỳ đưa ra “Báo cáo phát triển
nước trên thế giới” và Tuyên bố cấp Bộ trưởng tại diễn đàn nước thế giới tổ
chức ở Hague vào 3/2000, Chương trình đánh giá nước thế giới (World Water
Assessment Program) đã được tiến hành. Chương trình có các nhiệm vụ: (1) Xác
định và mô tả bản chất các khủng hoảng về nước; (2) Đánh giá khả năng giả
i
quyết/ứng phó của xã hội; (3) Đánh giá hiệu quả của hệ thống chính sách; (4)
Xây dựng các chỉ tiêu giám sát, báo cáo tiến độ theo mục tiêu đề ra; (5) Nâng
cao năng lực của các quốc gia trong việc thực hiện chương trình. Chương trình
có mục tiêu:
• Xây dựng và tăng cường năng lực về việc đánh giá và báo cáo trong lĩnh
vực tài nguyên nước;
• Tiếp tục xây dựng sự phối hợp lâu dài trong hệ thố
ng các cơ quan của
Liên hợp quốc;
• Tạo ra cơ sở tri thức về tài nguyên nước;
• Hình thành tập chỉ tiêu cần thiết cho việc đánh giá tài nguyên nước.
Chương trình tiến hành đánh giá hiện trạng tài nguyên nước trong tự nhiên,
bao gồm nước mặt, ẩm trong đất và nước dưới đất. Các đặc trưng được đánh giá

tiêu chí đánh giá của dự án gồm 3 trạng thái là tác động gia tăng, tác động không
thay đổi và tác động được giảm đi. Mức độ của các tác động tài nguyên nước
theo các phương diện khác nhau được chia làm 4 mức: Tác động nghiêm trọng,
tác động trung bình, tác động nhẹ và không có/không nhận biết được tác động.
II.2.2 Một số công trình trong nước
- Năm 1976, Cục Thủy văn thuộc Bộ Thủy lợi đã hoàn thành vi
ệc phân
chia lưu vực và kiểm kê sông suối trên nền bản đồ 1:100.000 và 1:500.000 và
xuất bản tài liệu “Đặc trưng hình thái lưu vực sông Việt Nam” tập I cho 1266
sông suối thuộc miền Bắc (đến hệ thống sông Kiến Giang) và 13 phân lưu có
chiều dài từ 10 km trở lên có nước chảy thường xuyên. Sau khi có những thay
đổi về tổ chức, đến năm 1985, Viện Khí tượng Thủy văn thuộc Tổng cục Khí
tượng Thủy v
ăn đã hoàn thành việc xác định các đặc trưng hình thái cho các lưu
vực sông miền Nam và xuất bản tài liệu “Đặc trưng hình thái lưu vực sông Việt
Nam” chung cho cả nước. Theo tài liệu này, 2.360 con sông đã được kiểm kê và
xác định các đặc trưng hình thái bao gồm các chỉ tiêu: Tên sông, Tên sông, hồ
hoặc biển mà sông được kiểm kê đổ vào, khoảng cách từ cửa phụ lưu đến cửa
sông chính, vị trí nguồn sông, vị trí cửa sông, độ cao nguồn sông, chiều dài
sông, chiều dài lưu vực, diện tích hứng nước, diện tích giữa hai phụ lưu liên tiếp,
độ cao bình quân lưu vực, độ dốc bình quân lưu vực, chiều rộng bình quân lưu
vực, mật độ lưới sông, hệ số phát triển đường phân nước, hệ số không đối xứng,
hệ số không cần lưới sông, hệ số hình dạng, hệ số uốn khúc.
- Từ năm 1981, GS. TS. Ngô Đình Tuấn
với đề tài nghiên cứu độc lập cấp
nhà nước “Đánh giá nguồn nước mặt lãnh thổ Việt Nam” (mã số 06-03-01-04).
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này đã được công bố năm 1984 đối với phần
các tỉnh phía Bắc, năm 1986 đối với các tỉnh ven biển miền Trung, năm 1987
đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên và Nam Bộ. Theo các kết quả này, tài nguyên
nước lãnh thổ Việt Nam là 830 tỷ m

ngòi; các loại dòng chảy của sông ngòi Việt Nam; phân vùng thủy văn. Công
trình cũng đã đề cập đến vấn đề sử dụng dòng chảy sông ngòi trong khí hậu
nhiệt đới gió mùa Việt Nam.
- Chương trình Nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Cân bằng
bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước quốc gia” do TS. Nguyễn Trọng
Sinh, Viện Quy hoạch Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến
hành từ 1991 đến 1995. Đề tài đã tiến hành đánh giá và tính toán cân bằng nước
cho 6 vùng lãnh thổ và toàn quốc cũng như đưa ra các khuyến cáo, giải pháp để
sử dụng có hiệu quả nguồn nước quốc gia. Đây là một chương trình mang tính
tổng hợp, vừa mang tính khoa học, tính kinh tế vĩ mô, tính kinh tế chuyên
ngành, tính xã hội nhân văn đồng thời cũng mang tính tổ chức quản lý ở mức độ
cao. Các nội dung khoa học của chươ
ng trình khá phong phú, từ khía cạnh tổ
chức pháp lý, nghiên cứu cơ chế kinh tế đến nghiên cứu các giải pháp khoa học.
Về nghiên cứu cân bằng nước, chương trình đã tiến hành kiểm kê, chỉnh lý, phân
tích, đồng nhất hoá các đặc trưng tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước dưới
đất; đã xác định nhu cầu dùng nước theo những đối tượng dùng nước chính trên
lãnh thổ Việt Nam; đã tiến hành cân bằng giữa khả năng và yêu cầu dùng nước
trong các giai đoạn phát triển. Chương trình sử dụng chuỗi số 1960 – 1990 để
tính toán, đánh giá.
- PGS. TS. Trần Thanh Xuân (2000) với đề tài nghiên cứu cơ bản
“Nghiên cứu quy luật biến đổi trong thời kỳ nhiều năm của đặc trưng dòng chảy
năm của sông ngòi Việt Nam” đã dựa trên chuỗi số liệu dòng chảy trung bình
năm của các sông chính trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tiến hành phân tích, tổng
hợp và khái quát hoá nhằm đưa ra quy luậ
t biến đổi trong thời kỳ nhiều năm của
đặc trưng dòng chảy năm.
- Báo cáo “Đánh giá tổng quan ngành thuỷ lợi” do Ngân hàng Thế giới,
ngân hàng châu Á, FAO, UNDP, NGO phối hợp cùng với các nhóm nghiên
cứu về Tài nguyên nước và chính phủ Việt Nam thực hiện (1996). Báo cáo đã

Tuy nhiên, một số vấn đề chính về mặt khoa học và công nghệ của các
công trình đánh giá tài nguyên nước đã thực hiện có thể tóm tắt như sau:
- Về vi
ệc phân tách đánh giá tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước dưới
đất. Trước hết, cần thống nhất khái niệm “tài nguyên nước” khi nói về đánh giá
tài nguyên nước. Nhìn chung, trong các công trình đã nêu, khái niệm “tài
nguyên nước” được hiểu là phần nước trong chu trình tuần hoàn của nước trong
tự nhiên chảy trong sông ngòi và ngấm xuống các tầng nước dưới đất [49]. Tức
là được phân ra làm tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước dưới đất. Đối với
nhiều quốc gia, vấn đề
đầu tiên được đặt ra là xác định loại hình nguồn nước nào
sẽ được đánh giá. Tại các quốc gia hiếm nước, “lượng nước không tái tạo được”
(lượng nước có trong các tầng chứa nước có mức độ bổ cập không đáng kể)
chính là lượng nước sẵn có để phục vụ các yêu cầu khai thác, sử dụng và chiếm
phần đáng kể so với lượng nước “tái tạo được” (như nướ
c sông). Các dạng tài
nguyên nước không mang tính thông thường như lượng nước thải được tái sử
dụng hay nước đã được khử mặn cũng đóng vai trò quan trọng tại các quốc gia
này. Chính vì thế, việc đánh giá tài nguyên nước mặt ở đây, nhất là trên cơ sở
vòng tuần hoàn nước, sẽ chỉ được thực hiện trong một số ít các công việc thực tế
của lĩnh vực tài nguyên nước, mà chủ yế
u tập trung vào nước ngầm, nước tái sử
dụng hoặc nước đã qua xử lý. Việc phân tách nước mặt và nước dưới đất thường
dẫn đến kết quả đánh giá thiên lớn trong đánh giá tài nguyên nước cho một vùng
nào đó. Nguyên nhân chính ở đây là việc xác định các biên đánh giá (giới hạn
không gian của vùng đánh giá). Thông thường, lưu vực sông và lưu vực nước
13
ngầm được coi là trùng nhau nhưng thực tế thì ít khi xảy ra trường hợp này.
- Về việc phân tách đánh giá tài nguyên và đánh giá tình hình khai thác, sử
dụng: Trong một lưu vực sông, rõ ràng có hiện tượng: lượng nước đã qua khai

ết hợp chặt chẽ, tạo ra thông tin đánh giá tổng hợp về tài
nguyên nước cho một vùng, một lưu vực nào đó.
- Chưa tiến hành đánh giá tài nguyên nước của các hồ chứa (tự nhiên và
nhân tạo), các vùng đất ngập nước.
- Số liệu điều tra, khảo sát về chất lượng nước vừa thiếu lại rất phân tán, do
nhiều cơ quan tiến hành với các phương pháp khác nhau.
- Cho đến hiện nay, chư
a xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về tài
nguyên nước. Các thông tin tài liệu được lưu trữ phân tán, chưa được hệ thống
hóa và thống nhất quản lý.
- Chưa đánh giá được đầy đủ, toàn diện các tác động của hoạt động kinh tế
- xã hội đến số lượng và chất lượng tài nguyên nước và trên cơ sở đó đưa ra các
giải pháp khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nướ
c trong các lưu vực sông,
vùng lãnh thổ.
14
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng trên là công tác quản lý
tài nguyên nước theo hướng tổng hợp và thống nhất chưa được quan tâm đầy đủ
trong một thời gian dài. Các chính sách quản lý tài nguyên nước còn bị ảnh
hưởng mạnh bởi lợi ích của ngành, dẫn đến tình trạng cục bộ, phân tán; quản lý
nhà nước về tài nguyên nước cũng mới chỉ bước đầu được phân tách ra khỏi
quản lý các dịch vụ cung ứng nước. Hiệ
n nay, ở tầm quốc gia, còn thiếu những
quy định cụ thể cho công tác đánh giá tài nguyên nước. Thực tế, nhiều công
trình đánh giá tài nguyên nước được tiến hành theo những mục tiêu độc lập,
thiếu sự thống nhất trong phương pháp tiến hành. Chính vì thế, các kết quả đánh
giá khó có thể so sánh được với nhau và do vậy khả năng kế thừa, hoàn chỉnh
thêm của các kết quả này còn hạn chế. Nhằm góp phần từ
ng bước khắc phục
những bất cập trên đây, việc xây dựng một quy trình đánh giá tài nguyên nước,

ng nhà quản lý - từ khâu chuẩn bị hành lang pháp lý, thể chế,
chính sách đến khâu lập kế hoạch, giám sát, quản lý việc thực hiện kế hoạch,
công bố và quản lý các kết quả của chương trình, đề án đánh giá tài nguyên
nước mặt.
15
- Thứ hai, đó là quy trình kỹ thuật, tức là trình tự hay các bước tiến hành,
xác định các chỉ tiêu và phương pháp tính toán, đánh giá chỉ tiêu theo các nội
dung của việc đánh giá tài nguyên nước mặt đã đề ra.
Đề tài sẽ nghiên cứu xây dựng loại quy trình thứ hai, đó là quy trình mang
tính kỹ thuật.
Với những giới hạn về đối tượng nghiên cứu, mục tiêu của đánh giá tài
nguyên nước và loại hình quy trình như đã trình bày ở trên, ngoài các phần Mở

đầu, Kết luận và kiến nghị, báo cáo tổng hợp đề tài gồm các chương sau:
Chương 1: Tổng quan về tài nguyên nước và các vấn đề có liên quan đến
đánh giá tài nguyên nước mặt;
Chương 2: Một số vấn đề về phạm vi không gian trong đánh giá tài nguyên
nước mặt;
Chương 3: Các kỹ thuật, công nghệ chủ yếu sử dụng trong đánh giá tài
nguyên nước mặt;
Chương 4: Đề xuất quy trình đánh giá tài nguyên nước mặt;
Chương 5: Ứng dụng quy trình đánh giá tài nguyên nước mặt cho vùng
kinh tế Đông Nam Bộ.

16
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẠM VI KHÔNG GIAN
TRONG ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT
I. TỔNG HỢP MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC
VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN

của sự tổng hợp các đặc điểm của khí hậu nhiệt đới có nền nhiệt ẩm cao với khí
hậu gió mùa có một chế độ phân hoá mạnh mẽ theo mùa. Trong điều kiện khí
hậu đó, nước ta có lượng mưa tươ
ng đối phong phú, trung bình nhiều năm trên
toàn lãnh thổ đạt xấp xỉ 1960 mm, tức là xấp xỉ 650 km
3
/ năm. Tuy nhiên, do
phụ thuộc vào nguồn cung cấp ẩm (những khối không khí gió mùa) và những tác
nhân gây mưa (động lực, nhiệt lực và địa hình), chế độ mưa ở nước ta có những
hình thái rất đa dạng và phân bố không đều theo không gian. Miền núi mưa
nhiều hơn vùng đồng bằng và các vùng trũng khuất gió. Chênh lệch giữa vùng
có lượng mưa lớn và vùng có lượng mưa nhỏ vào khoảng 5 ÷ 6 lần. Ở những
vùng cá bi
ệt, chênh lệch này có thể lên tới xấp xỉ 10 lần. Lượng mưa trung bình
nhiều năm trên 3000 mm xuất hiện ở những vùng núi cao đón gió mùa ẩm như
vùng Bắc Quang (Hà Giang), Hoàng Liên Sơn, Mường Tè (Lai Châu), Móng
17
Cái (Quảng Ninh), Bắc đèo Hải Vân (Bạch Mã), Tây Bảo Lộc, Trà My, Ba Tơ…
Các tâm mưa nhỏ thường xuất hiện ở thung lũng hay vùng đồng bằng khuất gió
như ở vùng sông Mã, Yên Châu, Lạng Sơn, Mường Xén, Ea Sup, Cheo Reo, Gò
Công… Vùng ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận có lượng mưa năm nhỏ nhất
nước ta, khoảng 500 – 600 mm. Ngay trong một lưu vực sông loại vừa, lượng
mưa giữa các vùng cũng biến động khá mạnh. Chẳng hạn, ở
lưu vực của dòng
chính sông Thu Bồn với diện tích lưu vực 3825 km
2
(tính đến Giao Thuỷ), lượng
mưa giảm mạnh từ phía thượng nguồn (trên 4000 mm ở Trà My) đến trung lưu
(dưới 3000 mm ở Nông Sơn) về hạ lưu (gần 2500 mm ở Giao Thuỷ). Theo thời
gian, sự phân bố lượng mưa cũng rất không đều. Trong một năm chia làm hai

0,5 km/km
2
trở xuống. Đặc biệt, vùng sông Phan, sông Dinh (Bình Thuận), mật
độ chỉ đạt 0,12 ÷ 0,15 km/km
2
.
I.1.2 Tài nguyên nước sông
Tương ứng với lượng mưa trung bình năm trên toàn lãnh thổ nước ta
khoảng 650 km
3
/năm đã sinh ra lượng dòng chảy trung bình năm trên lãnh thổ
nước ta khoảng 340 km
3
[3,42], ứng với hệ số dòng chảy trung bình năm là 0,5.
Lượng dòng chảy nếu rải đều trên toàn bộ diện tích nước ta thì có độ sâu dòng
chảy trung bình năm đạt gần 1000 mm (lớn hơn 3 lần lớp dòng chảy trung bình
của Châu Á: 315 mm). Nếu tính cả lượng nước từ ngoài lãnh thổ chảy vào qua
hệ thống sông Mê kông, sông Hồng và một số sông khác thì tổng lượng nước đạt
xấp xỉ 850 km
3
. Như vậy, trung bình hàng năm trên 1 km
2
nhận được khoảng 2,7
triệu m
3
nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status