Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
1
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƢỚC MẶT TỈNH LÂM ĐỒNG VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG
Phạm Thế Anh
(1)
và Hoàng Hưng
(2)
(1)
CN. Khoa Khoa học Môi trường - trường Đại học Yersin Đà Lạt.
(2)
PGS.TS. Trưởng Khoa MT&CNSH - trường ĐH Kỹ thuật Công nghê thành phố HCM.
Email:
ABSTRACT
The exploitation process of water resources in general and forest resources for
socio-economic development projects in particular in Lam Dong province has made
surface water resources become increasingly exhausted, degraded, distorted and
reduced in the use value.
This study aims to show the general status of water resources in Lam Dong
province in terms of volume as well as quality, possibility of exhaustation, environment
pollution, evaluation of the general management of surface water resources over the
past time, and then proposes solutions to the general management of surface water
resources in Lam Dong province in general and in Dong Nai river upstream in
particular towards sustainable development.
Keywords: general management, surface water resources, sustainable development…
Ứng dụng Hệ thống thông tin địa xây dựng các bản đồ giúp quản lý tài nguyên nƣớc.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp thu thập, tổng hợp các tài liệu có liên quan.
Phƣơng pháp khảo sát thực địa.
Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu.
Phƣơng pháp Hệ thống thông tin địa lý.
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
2
Phƣơng pháp phân tích phòng thí nghiệm.
KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
Tài nguyên nƣớc sông suối và ao hồ
Trữ lượng
Lâm Đồng có mạng lƣới sông, suối, ao hồ khá phong phú. Hiện nay trên toàn tỉnh có trên 590
hồ lớn nhỏ và khoảng 60 sông, suối có chiều dài >10 km. Một số sông, suối lớn là: Đồng Nai, Đa
Nhim, Đa Dâng, Đạ Tẻh, Đạ Huoai, Đa Tam, Đại Nga… Mật độ lƣới sông thay đổi khoảng 0,18 –
1,1 km/km
2
. Sông suối Lâm Đồng có bậc thềm sông hẹp, sƣờn dốc, nhiều thác ghềnh, dòng chảy
mạnh và lƣu lƣợng phân phối không đều trong năm.
Hình 1. Mô hình DEM địa hình tỉnh Lâm Đồng [Nguồn: Phòng HTTTĐL - Viện MT&TN TPHCM]
Tổng lƣợng dòng chảy mặt phát sinh trên toàn bộ diện tích thuộc phạm vi tỉnh Lâm Đồng là
9,8 tỷ m
3
chiếm trên 50% tổng lƣợng mƣa rơi trên diện tích toàn tỉnh.
Trung bình một ngày đêm với 1 km
2
vào tình hình diễn ra của thời tiết cũng nhƣ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tại từng đoạn
sông, nhánh sông, ao hồ đó.
Nếu đánh giá theo quy định tại Quyết định 187/2007/QĐ-TTg ngày 03/12/2007 của Thủ
tƣớng Chính phủ về phê duyệt đề án bảo vệ môi trƣờng lƣu vực hệ thống sông Đồng Nai đến năm
2020, tất cả các nguồn nƣớc trong hệ thống phải đạt loại A thì một số thông số hóa, lý (COD, NH
4
,
NO
2
) khó có thể đạt đƣợc trên toàn lƣu vực.
Suy thoái và cạn kiệt nguồn nƣớc
Dự báo nhu cầu dùng nước đến năm 2020
Suy thoái và cạn kiệt nguồn nƣớc mặt do nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú ý đến: sự
phát triển dân số, quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, nạn phá rừng, các dự án
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
3
thủy điện… Nguy cơ thiếu nƣớc phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất có nguy cơ tăng cao và bên cạnh
đó nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng nƣớc mặt là rất lớn.
Theo Báo cáo hiện trạng môi trƣờng tỉnh Lâm Đồng từ năm 2006-2010 thì nhu cầu dung nƣớc
trên toàn tỉnh nhƣ sau:
Hình 4. Diễn biến diện tích rừng và lƣợng mƣa ―trạm Bảo Lộc‖ qua các năm.
Qua biểu đồ trên chúng ta nhận thấy hiện trạng diện tích rừng tăng dần từ 2001 đến năm 2004
(617.815 ha – 624.268 ha). Tuy nhiên từ năm 2004 đến nay thì diện tích rừng có xu hƣớng bị suy
giảm và năm 2009 chỉ còn 617.173 ha giảm thấp hơn diện tích rừng năm 2001. Trung bình một năm
trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng bị mất 5.115 ha/năm.
Mƣa cũng đƣợc xem là nguồn tài nguên nƣớc mặt có vai trò rất lớn đến trữ lƣợng nguồn tài
nguyên nƣớc mặt và nƣớc ngầm. Chính sự suy giảm diện tích rừng đã kéo theo sự biến đổi của khí
hậu, điều này thể hiện rất rõ qua sự suy giảm lƣợng mƣa. Lƣợng mƣa trung bình qua các năm trạm
Bảo Lộc trở lại đây có dấu hiệu suy giảm rõ rệt. Năm 2008 và 2009 đƣợc xem là những năm có
lƣợng mƣa thấp nhất tƣơng ứng diện tích rừng bị mất lớn nhất (5.139 ha).
Nguy cơ lũ lụt
Với địa hình khá phúc tạp nên Lâm Đồng thƣờng xảy ra những trận lũ quét và sạt lở đất sau
những cơn mƣa lớn.
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
4 Bảng 1. Thống kê các công trình hồ chứa thủy điện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
STT
Tên hồ chứa
Đại Ninh
1158
6000
251,73
68,04
319,77
2
Hàm Thuận
1280
5700
523
172
695
3
Đa Mi
83
1320
11,6
129,2
140,8
4
Đa Nhim
775
4500
9
146
165
5
Bảo Lộc
1100
Tốc độ đô thị hóa ngày càng có chiều hƣớng gia tăng nhất là ở các khu vực trung tâm
thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc và các thị trấn huyện đang là áp lực lớn cho môi
trƣờng chung của tỉnh, trong đó có môi trƣờng nƣớc.
Sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp cũng đang là
nguy cơ làm ô nhiễm các nguồn nƣớc.
Nguồn tài nguyên nƣớc của Lâm Đồng còn bị tác động xấu từ việc khoan nƣớc ngầm lấy
nƣớc đang xảy ra phổ biến ở nhiều địa phƣơng trong tỉnh.
Những hạn chế công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc
Việc tổng hợp, lồng ghép quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc trong các chƣơng trình phát
triển kinh tế - xã hội chƣa đƣợc triển khai.
Nƣớc vẫn không đƣợc coi là hàng hóa kinh tế và các dịch vụ về nƣớc hiện nay có giá thu
phí thấp hơn chi phí tối thiểu.
Việc tăng cƣờng năng lực về tổ chức, bộ máy quản lý lƣu vực sông và nâng cao nhận thức
về tài nguyên nƣớc, xây dựng các chiến lƣợc quản lý tài nguyên nƣớc còn thiếu và chƣa
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Giấy phép về tài nguyên nƣớc hiện chƣa đƣợc xem là hạng mục trong quy trình lập và thực
hiện dự án.
Mặt khác, hầu hết các công trình thủy lợi đƣợc xây dựng chƣa đồng bộ, còn chấp vá vì
thiếu vốn đầu tƣ, do vậy một số công trình thủy lợi nhất là các hồ chứa chƣa đảm bảo tiêu
chuẩn phòng chống lũ lụt.
Công tác bảo vệ môi trƣờng nƣớc, xử lý nƣớc thải còn nhiều khiếm khuyết nhất là tình
trạng ô nhiễm môi trƣờng xảy ra khu vực thƣợng nguồn, khu vực công nghiệp đang phát
triển.
Chƣa có một quy hoạch, kế hoạch tổng thể về quản lý tài nguyên nƣớc.
Nguồn nhân lực và năng lực cán bộ quản lý tài nguyên nƣớc và quản lý môi trƣờng chƣa
đáp ứng nhu cầu hiện nay.
Các giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nƣớc mặt
Quản lý sử dụng tổng hợp, giải quyết các tranh chấp và sung đột tài nguyên nước
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
Kiểm soát lũ lụt chống xói lở bờ sông, bồi lắng hồ chứa
Xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa trên các dòng sông chính nhằm vận hành tối ƣu
và sử dụng hiệu quả tài nguyên nƣớc trên lƣu vực.
Trong tƣơng lai, khi các hồ thủy điện của tỉnh đi vào hoạt động hết công suất thì vấn đề
điều tiết nƣớc giữa các vùng trong lƣu vực, quy trình vận hành các hồ chứa cũng cần phải
xem xét và đánh giá lại.
Xây dựng bản đồ dự báo lũ, ngập lụt cho các tiểu lƣu vực sông.
Định kỳ nạo vết các công trình thủy lợi nhằm kéo dài tuổi thọ các công trình thủy lợi.
Quản lý xả chất thải làm ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ nguồn nước
Xây dựng quy hoạch thoát và xử lý nƣớc thải cho các đô thị.
Điều tra, thống kê toàn diện các nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trƣờng nƣớc (nƣớc
thải sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ - du lịch và sản xuất nông nghiệp…).
Hoàn thiện công tác thống kê và phân loại các cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng theo Thông
tƣ số 07/2007/TT-BTNMT ngày 3/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng.
Điều tra, thống kê, phân loại và đánh giá các nguồn tiếp nhận nƣớc thải trên lƣu vực (sông,
suối, hồ, ao…) theo các mục đích sử dụng nguồn nƣớc khác nhau (tƣơng ứng với 4 loại
A1, A2, B1 và B2 trong QCVN 08:2008/BTNMT).
Tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trƣờng và xử lý vi phạm về
xả nƣớc thải đối với các khu chế xuất, khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh
dịch vụ… trên địa bàn các lƣu vực sông.
KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu của đề tài chúng ta có thể kết luận rằng tài nguyên nƣớc mặt tỉnh Lâm
Đồng khá phong phú tuy nhiên sự phân bố của nó không đồng đều. Bên cạnh đó hiện nay trên địa
bàn tỉnh cũng đã xuất hiện rất nhiều dấu hiệu ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nƣớc cục bộ.
Kỷ yếu hội nghị Khoa học Môi trường và Công nghệ sinh học năm 2011
6
Nguyên nhân chủ yếu chính do chặt phá rừng đầu nguồn phục vụ các dự án thủy điện, du lịch