Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng chè và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng theo hướng bền vững tại vùng chè đặc sản tân cương, thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên - Pdf 28

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC HÌNH 1
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 3
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 3
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu 14
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên 14
1.2.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng chè đặc sản Tân
Cương 20
CHƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 23
2.1. Đối tƣơng nghiên cứu 23
2.2. Nội dung nghiên cứu 23
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
2.3.1. Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu, số liệu 23
2.3.2. Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường và phân tích trong
phòng thí nghiệm: 24
2.3.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích và đánh giá số liệu: 25
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1. Hiện trạng môi trƣờng đất tại khu vực nghiên cứu 26
3.1.1. Hiện trạng một số thông số vật lý của đất tại khu vực nghiên
cứu 26
3.1.2. Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất tại khu vực nghiên
cứu 28
3.1.3 Hàm lượng một số thông số dinh dưỡng đất tại khu vực nghiên

Kim loại nặng
2
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng
3
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
4
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
5
VSV
Vi sinh vật
6
KHKT NLN
Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp
7
PT
Phúc Trìu
8
PX
Phúc Xuân
9
TC
Tân Cƣơng
10
MĐPT
Mẫu đất Phúc Trìu
11
MĐPX

Thái Nguyên không chỉ có tiềm năng phát triển kinh tế công nghiệp
mà còn có điều kiện cho cây chè phát triển và chè đã thực sự trở thành một
sản phẩm mang tính đặc thù của vùng đất Thái Nguyên. Khác với các vùng
đất trồng chè khác của đất nƣớc, chè Thái Nguyên đã trở thành một thƣơng
hiệu nổi tiếng đƣợc ngƣời tiêu dùng đánh giá cao. Đất Thái Nguyên, đặc
biệt là vùng chè đặc sản Tân Cƣơng đƣợc coi là một trong những vùng
cung cấp những loại chè ngon nổi tiếng. Tân Cƣơng Thái Nguyên và vùng
chè đặc sản, nổi tiếng không chỉ trong nƣớc mà còn đã có mặt ở nhiều thị
trƣờng khó tính nhƣ Mỹ, Nhật, Pháp, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn độ, Cộng
hòa Séc, một số nƣớc Trung Đông Sở dĩ ở Tân Cƣơng có những loại chè
ngon cũng bởi một phần chất đất ở đây đƣợc trời phú cho tƣơi tốt và có
“duyên” với cây chè.
Với truyền thống canh tác đã diễn ra từ rất lâu khoảng trên 50 năm vì
vậy chất lƣợng đất và chè nơi đây đang có dấu hiệu suy giảm. Trong quá
trình thâm canh ngƣời dân thƣờng sử dụng các loại phân bón hóa học,
thuốc bảo vệ thực vật… để đảm bảo và duy trì năng suất của cây chè, do
hoạt động này diễn ra trong thời gian dài sẽ có tác động rất lớn tới môi
trƣờng và đặc biệt là môi trƣờng đất cũng nhƣ ảnh hƣởng tới chất lƣợng
của sản phẩm chè.
Hiện tại, có rất ít các nghiên cứu đánh giá một cách tổng hợp về hiện
trạng môi trƣờng đất ở đây và nhằm đánh giá hiện trạng tổng thể môi

2
trƣờng đất vùng đặc sản chè Tân Cƣơng và xây dựng các giải pháp quản lý
và sử dụng đất trong canh tác chè theo hƣớng bền vững (VietGAP).
Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả tiến hành thực hiện đề tài “Đánh
giá hiện trạng môi trường đất trồng chè và đề xuất các giải pháp quản lý,
sử dụng theo hướng bền vững tại vùng chè đặc sản Tân Cương, thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”
Đề tài đƣợc thực hiện với các mục tiêu chính sau:

môi trƣờng sản xuất nông lâm nghiệp, phục hồi môi trƣờng đất các vùng đã
suy giảm. Những nội dung cơ bản của cách tiếp cận này là không làm đất
hoặc làm đất tối thiểu, luôn duy trì lớp che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ
(che phủ bằng xác thực vật khô, bằng lớp thực vật sống, luân canh và xen
canh), hạn chế sử dụng phân khoáng, hóa chất bảo vệ thực vật, tăng cƣờng
sử dụng phân vi sinh, hữu cơ vi sinh cũng nhƣ các chế phẩm sinh học, sử
dụng phân bón trung – vi lƣợng qua lá, có chế độ tƣới tiêu hợp lý. Những

4
kỹ thuật này đã giúp tăng năng suất cây trồng, đa dạng hoá thu nhập, tăng
độ phì, phục hồi môi trƣờng đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn. Những kết quả
nghiên cứu của Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự
phát triển (CIRAD) của Pháp trong lĩnh vực này, đứng đầu là Lucien
Seguy, Francis Forest, v.v đã đƣợc triển khai áp dụng trên phạm vi toàn
cầu, đi đầu là các nƣớc Mỹ La Tinh và Bắc Mỹ. Tiếp sau là các nƣớc châu
Phi và châu Âu. Ở châu Á, Ấn Độ là nƣớc đi đầu với diện tích áp dụng 1,8
triệu ha. Theo Rolf Derpsch (2005), các kỹ thuật canh tác bảo tồn đã đƣợc
áp dụng diện tích 95 triệu ha trên toàn thế giới, đứng đầu là Mỹ (25 tr. ha),
sau đó là Brasil (24 tr. ha), Argetina (18 tr. ha), Canada (12 tr. ha), Úc (9 tr.
ha) và Paraguay (1,9 tr. ha). Các biện pháp này đã hạn chế tối đa lƣợng đất
bị mất đi do xói mòn và tăng đáng kể hàm lƣợng hữu cơ trong đất, trong
khi giảm công làm đất, giảm đầu tƣ phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Chè (Thea sinensis) là cây công nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới, họ
chè (Theaceae), lá dùng để pha nƣớc uống (còn gọi là trà). Cho đến nay,
chè đƣợc sản xuất ở 39 nƣớc thuộc cả 5 châu lục, trong đó châu Á có 17
nƣớc (Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh,
Iran, Việt Nam, Malaysia, Philipines, Nepal, Triều Tiên, Pakistan,
Afganistan, Azerbaijan, Campuchia, Nhật Bản), châu Phi có 15 nƣớc
(Kenya, Malawi, Uganda, Tanzania, Mozambic, Ruanda, Zaire, Nam Phi,
Congo, Cameroon, Burundi, Maroc, Algerie, Zimbabwe, Maustius), châu

trồng chè còn 0,54%, sau 50 trồng chè chỉ còn 0,51%.
Ngƣời trồng chè ở Sri Lanca và Inđônêxia nhận thấy bón quá nhiều
phân hóa học đã làm suy giảm nghiệm trọng chất lƣợng môi trƣờng đất
trồng chè.
Các điều tra nông học của F. Roule cho thấy trong quy trình canh tác
với cây chè ở châu Âu, để chống suy thoái môi trƣờng đất, ngƣời Châu Âu

6
thƣờng hay cày vùi phân xanh ở đồi trồng chè lâu năm nhằm tạo lƣợng
phân hữu cơ. Trong công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp Nhiệt đới”,
Angladette khuyến cáo nông dân tận dụng nguồn phân xanh tại chỗ để sản
xuất phân hữu cơ bón cho chè. Điều này làm tăng dự trữ mùn cho đất, tăng
độ xốp, khả năng hút nƣớc, khả năng đệm của đất và số lƣợng vi sinh vật
trong đất, giúp cải thiện môi trƣờng đất trồng chè. Khoa học gia ngƣời Nhật
Bản Ogushi Takashi cũng khuyên nông dân trồng chè của mình nên tận
dụng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ cho cây chè
để tăng hàm lƣợng mùn trong đất.
Năm 1988, Jha, D.K và cộng sự phối trộn nấm cộng sinh Mycorrhiza
với phân bón hữu cơ sản xuất từ rơm rạ (thành phân bón hữu cơ vi sinh) và
bón cho chè tại Ấn Độ nhận thấy tỷ lệ bệnh trên chè giảm 12%, năng suất
tăng 13%, đặc biệt những vùng khô hạn năng suất tăng 18% so với đối
chứng. Từ năm 1992 - 1997, Quỹ Kellogg, W. K tài trợ thử nghiệm bón
phân hữu cơ đƣợc bổ sung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi:
Bacillus, Pseudomonas có khả năng phân giải lân, kali tại 2 vùng trồng chè
trọng điểm của Srilanca và nhận thấy năng suất chè tăng 9 – 14% so với đối
chứng có bón phân hữu cơ và tăng 17% so với đối chứng không sử dụng 2
loại phân bón này. Kết quả thí nghiệm của Christian Bruns và Christian
Schüler (2000) cũng cho thấy nếu phân hữu cơ (làm từ phân ngƣời, gia súc
và cây xanh) có bổ sung thêm Bacillus Subtilus, Lactobaccillus
Rhammossus, Bacillus Polymyxa bón cho chè thì chất hòa tan trong chè

môi trƣờng đất bị hủy hoại, đất mất sức sản xuất. Từ năm 2000 trở đi, nhiều
tỉnh đã thực hiện mạnh chƣơng trình khôi phục chất lƣợng môi trƣờng đất,
áp dụng các tiến bộ khoa học về phân bón, thuốc trừ sâu sinh học, sử dụng
nƣớc tƣới hợp lý, có chế độ che phủ đất, kiểm soát chất lƣợng nƣớc tƣới,
không khí, hàm lƣợng kim loại nặng trong đất, trong chè, và dƣ lƣợng
thuốc trừ sâu trong sản phẩm chè nhằm phục hồi môi trƣờng đất trồng
chè. Một số đã thành công, nhƣ vùng trồng chè Phổ Nhĩ của tỉnh Vân Nam.

8
Nhật Bản cũng có nhiều vùng chè nổi tiếng, chất lƣợng cao và hầu
hết là trồng trên đất dốc thuộc Kanaguwa, Shiga, Migazaki, Shizuoka. Tuy
nhiên, phổ biến ở Nhật Bản là sản xuất chè an toàn dựa trên sự đồng bộ về
các giải pháp kỹ thuật nhƣ cơ giới hoá, giống, phân bón, bảo vệ thực vật,
thu hoạch bảo quản chế biến. Điều này mặc dù giúp duy trì năng suất trong
một thời gian khá dài nhƣng chất lƣợng chè lại có xu thế suy giảm theo
từng năm thu hoạch. Nguy cơ mất dần uy tín thƣơng hiệu trà Đạo của Nhật
Bản vì vậy vào năm 1986, chính phủ Nhật Bản ra quy định yêu cầu các
vùng sản xuất đang sở hữu thƣơng hiệu chè nổi tiếng phải xây dựng hệ
thống quản lý phân bón, thuốc trừ sâu chặt chẽ thông qua Hiệp hội nông
nghiệp của các địa phƣơng, xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn khoa học từ
không khí, nƣớc, đất, dƣ lƣợng kim loại nặng, dƣ lƣợng thuốc trừ sâu trong
đất, trong chè, chọn vùng và quy hoạch, xây dựng vùng sinh thái, kỹ thuật
quản lý vùng chè.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam cũng là một trong những nƣớc có lịch sử trồng chè lâu đời.
Hiện nay, cả nƣớc có khoảng 120.000 ha chè, tuy nhiên năng suất, chất
lƣợng chè của nƣớc ta còn thấp so với các nƣớc trên thế giới. Trên khắp các
vùng trồng chè của cả nƣớc chúng ta thấy rằng những chỗ đất tốt, có độ dốc
thích hợp đã đƣợc trồng chè, những diện tích quy hoạch trồng chè còn lại ở
vùng trung du miền núi hầu hết là đất bạc màu, mới phá bỏ cây trồng trƣớc,

sản lƣợng chè tăng 19,6%. Nông trƣờng Mộc Châu tủ đất chè bằng cỏ
Tranh (Imperata cylindrica) năng suất chè tăng 46% so với không tủ.
Nguyễn Hữu Phiệt (1966 – 1967) sử dụng tế, guột, rơm rạ, cành lá
chè không qua xử lý tủ cho đất trồng chè kinh doanh trên đất phiến thạch
và phù sa cổ tại Nông trƣờng Quốc doanh Tân Trào và trại thí nghiệm của
Trƣờng Trung cấp Nông lâm Tuyên Quang cho thấy độ ẩm đất trồng chè
tầng 0 – 30 cm có tủ cỏ tăng hơn so với đối chứng là 4,57 – 5,56 % ở đất

10
diệp thạch và 6,50% ở đất phù sa cổ; nhiệt độ đất trồng chè có tủ tầng đất
mặt 10cm và tầng đất 30cm thấp và ổn định nên lợi cho hoạt động vi sinh
vật thể hiện bằng lƣợng CO
2
đo đƣợc; hàm lƣợng mùn và đạm dễ tiêu đất
chè có tủ gốc sau 5 tháng đều tăng hơn so đối chứng; cây chè non có tủ gốc
có tốc độ sinh trƣởng gấp 2 lần so đối chứng; Tại Tân Trào, Tuyên Quang
cây chè có tủ gốc đã góp phần tăng năng suất chè lên trên 25 tấn búp/ha
[12].
Từ năm 1968 – 1975, Trại Thực nghiệm chè Phú Hộ tiến hành thực
nghiệm phân bón trên 8000 m
2
chè sản xuất kinh doanh, giống chè Trung
Du 8 – 15 tuổi tại Phú Hộ, Hợp tác xã Đồng Tâm (Ninh Dân, Thanh Ba,
Phú Thọ) và Nông trƣờng Chè Vân Lĩnh, không bón phân chuồng mà thay
vào bón ép xanh, cành lá chè đốn hàng năm vào tháng 1, cộng với 800kg
sunfat đạm và 100kg clorua kali. Kết quả làm năng suất bình quân trong 8
năm đạt 8000kg búp chè/ha. Bón ép xanh cành lá già và cỏ Stilô cũng làm
năng suất chè tăng 13,9 – 24,2%. Độ xốp đất tăng 5%, độ mịn (0 – 20cm)
tăng 0,3% ở khu ép xanh bằng cành lá chè già. Độ xốp đất tăng 8,7% và
mùn tăng 0,84 – 3,87% ở khu ép xanh bằng cỏ Stilô. Tốt nhất là ép xanh

Bên cạnh việc sử dụng tế guột, rơm rạ, bồm cẫng thì phần sinh khối
chè đốn hàng năm cũng là một nguồn cung cấp hữu cơ quan trong trong
quá trình canh tác chè. Kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ năm 1981 – 1984 cho
thấy tổng sinh khối phần đốn hàng năm ở nƣơng chè kinh doanh phu thuộc
vào loại hình năng suất. Để sử dụng có hiệu quả lƣợng cành lá đốn hàng
năm (1981 – 1987) ở Phú Hộ đã triển khai nghiên cứu nội dung này trên
chè kinh doanh tuổi 7 – 12 kết quả cho thấy làm tăng đáng kể hàm lƣợng
mùn trong đất.
Viện Nghiên cứu chè (nay là Trung tâm nghiên cứu chè, Viện Khoa
học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc) năm 1996 -1997 đã sử
dụng toàn bộ cành lá chè đốn hàng năm, cây cỏ dại quanh đồi và trên

12
nƣơng chè kinh doanh ủ với vôi, supe lân cải thiện tốt chế độ mùn và năng
suất chè tăng 8 – 10%.
Ở trại chè Phú Hộ, kết quả nghiên cứu 1996 - 1997 cho thấy: Cứ hai
hàng chè đào rãnh rộng 25cm, sâu 25 cm vào trung tuần tháng 12 hàng năm
rồi bỏ phân chuồng (nếu có), nguyên liệu đốn chè cuối vụ, cỏ dại đƣa vào
rãnh, vùi toàn bộ lân, bón magie 20kg/ha, lấp đất phía gốc chè cao hơn giữa
hàng 5 – 7cm, năm sau đào rãnh ở hàng bên cạnh theo chu kỳ luân phiên 2
năm đã làm tăng đáng kể khả năng giữ ẩm của đồi chè kinh doanh, nƣơng
chè đủ ẩm cho thu hoạch búp ở cả những tháng khô hạn.
Lê Tất Khƣơng (1997) nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nâng cao năng
suất, chất lƣợng chè vụ đông xuân ở Bắc Thái, kết quả cho thấy, sản lƣợng
chè có tủ bằng các chất hữu cơ có sẵn (rơm rạ, bồm, cẫng), tƣới nƣớc và tủ
+ tƣới nƣớc, của 3 tháng 10, 11, 12 tăng tƣơng ứng từ 17 đến 110%. Tỷ
trọng vụ chè đông xuân so cả năm, của đối chứng đốn ngày 25/12 không
tƣới ủ là 22,9%, có tƣới là 32,2%; đốn 25/02 có tƣới là 37,0%; đốn 25/04
có tƣới là 56,7%… Đốn chè vào tháng 4 năm sau có tƣới + ủ, sản lƣợng
chè đông xuân thu trong 3 tháng 10, 11, 12 cao nhất đạt 2.271kg/ha so với

30% lƣợng phân khoáng bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu quả tốt nhất.
Nguyễn Thị Ngọc Bình (2011) thử nghiệm Phân lân hữu cơ vi sinh
Sông Gianh cho cây chè Trung Du trồng tại Tân Cƣơng, Thái Nguyên cho
thấy khi thay thế 50% theo giá trị đầu tƣ phân bón hóa học băng phân hữu
cơ vi sinh cho hiệu quả kinh tế cao nhất [2].
Qua những kết quả nêu trên ta thấy: Các biện pháp tủ đất, bón phân
hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh đã có tác dụng tích cực đến việc giữ ẩm, tăng
hàm lƣợng dinh dƣỡng trong đất. Nhƣ vậy đây sẽ là một trong các giải
pháp tích cực để giải quyết vấn đề thiếu nƣớc và dinh dƣỡng đang tồn tại
hiện nay trong nông nghiệp trồng chè.

14
Tóm lại các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đều chỉ ra rằng: Nếu
canh tác chè nhiều năm và quá lạm dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu
hóa học sẽ làm cho đất bị chua hóa, độ phì nhiêu và sức sản xuất của đất sẽ
giảm. Việc sử dụng các vật liệu che, tủ cho đất trồng chè, kết hợp với sử
dụng phân bón vi sinh là một trong những giải pháp đƣợc ghi nhận là đã
làm cho năng suất tăng đáng kể và cải thiện đƣợc độ phì của đất.
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên
a. Vị trí địa lý:
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du - Miền núi Bắc
bộ, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, Phía bắc giáp Bắc Kạn, phía đông giáp
các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú
Thọ. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3526,2 km
2
dân số trung bình đến
31/12/2009 là 1.127.430 nghìn ngƣời. Thái Nguyên là một trong những
trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y tế của Việt Nam nói chung, của vùng
trung du miền Đông Bắc nói riêng. Đây là một trong những vùng chè nổi

chiếm tới 90% lƣợng mƣa cả năm. Mùa đông có khí hậu lạnh (mƣa ít) từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Song do có sự khác biệt rõ nét ở độ cao và
địa hình, địa thế nên trên địa bàn Thái Nguyên hình thành các cụm tiểu
vùng khí hậu khác nhau. Sự đa dạng về khí hậu của Thái Nguyên đã tạo
nên sự đa dạng, phong phú về các tập đoàn cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt tại
Thái Nguyên, chúng ta có thể tìm thấy cả cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc
nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Đây chính là cơ sở cho sự da dạng hóa cơ
cấu sản phẩm nông nghiệp, phát huy lợi thế so sánh của các yếu tố sinh thái
của tỉnh.
c. Điều kiện địa hình:
- Là một tỉnh miền núi, Thái Nguyên có độ cao trung bình so với mặt
biển khoảng 200 - 300m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông. Tỉnh Thái Nguyên đƣợc bao bọc bởi các dãy núi cao Bắc Sơn, Ngân
Sơn và Tam Đảo. Đỉnh cao nhất thuộc dãy Tam Đảo có độ cao 1592m.
- Về kiểu địa hình, đại mạo đƣợc chia thành 3 vùng rõ rệt:
+ Vùng địa hình vùng núi: Bao gồm nhiều dẫy núi cao ở phía Bắc
chạy theo hƣớng Bắc – Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Các dãy núi kéo dài
theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam. Vùng này tập trung ở các huyện Đại Từ,
Định Hóa và một phần của huyện Phú Lƣơng. Đây là vùng có địa hình cao

16
chia cắt phức tạp do quá trình castơ phát triển mạnh, có độ cao từ 500 -
1000m, độ dốc thƣờng từ 25
o
-35
o
.
+ Vùng địa hình đồi cao, núi thấp: là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi
cao phía Bắc và vùng đồi gò đồng bằng phía Nam, chạy dọc theo sông Cầu
và đƣờng quốc lộ 3 thuộc huyện Đồng Hỷ, Nam Đại Từ và Nam Phú

phân bố ở Cúc Đƣờng, Khe Mo.
- Đá vôi xây dựng: Trữ lƣợng khá lớn (khoảng 10 tỷ tấn). Tập trung
ở khu núi Voi, La Giàng, La Hiên khoảng 222 triệu tấn.
e. Tài nguyên đất:
Kết quả tổng hợp trên bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000 của tỉnh cho thấy đất
đai của Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi (chiếm đến 85,8% tổng diện tích tự
nhiên). Do sự chi phối của địa hình và khí hậu đất đồi núi của tỉnh bị phong
hóa nhanh, mạnh, triệt để, đồng thời cũng đã bị thoái hóa, rửa trôi, xói mòn
mạnh một khi mất cân bằng sinh thái. Do tính đa dạng của nền địa chất và
địa hình đã tạo ra nhiều loại đất có các đặc điểm đặc trƣng khác nhau.
Dƣới đây là một số loại đất chính của tỉnh:
- Đất phù sa: Diện tích 19.448 ha, chiếm 5,49% diện tích tự nhiên.
Loại đất này phân bố tập trung chủ yếu dọc Sông Cầu, Sông Công và các
sông suối trên địa bàn tỉnh, trong đó có 3.961 ha đất phù sa đƣợc bồi hằng
năm ven sông thuộc huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, thị xã Sông Công và thành
phố Thái Nguyên. Đất phù sa của tỉnh thƣờng có thành phần cơ giới trung
bình, đất ít chua, hàm lƣợng dinh dƣỡng khá, rất thích hợp cho phát triển
các loại cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là cây trồng ngắn ngày (lúa, ngô,
đậu đỗ, rau mầu).
- Đất bạc màu: Diện tích chỉ có 4.331 ha, chiếm 1,22% diện tích tự
nhiên. Loại đất này phân bố ở các huyện phía nam tỉnh. Đất bằng hiện đã
đƣợc sử dụng vào sản xuất nông nghiệp.
- Đất dốc tụ: diện tích 18.411 ha, chiếm 5,20% diện tích tự nhiên.
Loại đất này đƣợc hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và lắng

18
đọng của tất cả các loại đất ở các chân sƣờn thoải mái hoặc khe dốc, nên
thƣờng có độ phì khác nhau và phân tán trên địa bàn các huyện trong tỉnh.
Đây là loại đất rất thích hợp với trồng ngô, đậu đỗ và các loại cây công
nghiệp ngắn ngày.

/s,

19
lƣu lƣợng nhỏ nhất (tháng 2) là 11,3 m
3
/s và lƣu lƣợng lớn nhất (tháng 8) là
128/m
3
/s.
- Sông Công: có lƣu vực 951km
2
bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện
Định Hóa chạy dọc chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng có lƣợng mƣa lớn
nhất trong tỉnh. Dòng sông đã đƣợc ngăn lại ở Đại Từ thành hồ Núi Cốc có
mặt nƣớc rộng khoảng 25 km
2
, chứa khoảng 175 triệu m
3
nƣớc, điều hòa
dòng chảy và có khả năng tƣới tiêu cho khoảng 12.000 ha lúa 2 vụ, màu,
cây công nghiệp cho các xã phía Đông nam huyện Đại Từ, thị xã Sông
Công, huyện Phổ Yên và cung cấp nƣớc sinh hoạt cho thành phố Thái
Nguyên và thị xã Sông Công.
- Sông Dong: Sông này chảy trên địa phận huyện Võ Nhai chảy về
Bắc Giang. Lƣu lƣợng nƣớc vào mùa mƣa 11,1m
3
/s và lƣu lƣợng mùa kiệt
là: 0,8m
3
/s. Tổng lƣợng nƣớc đến trong mùa mƣa là: 147 triệu m

không những nổi tiếng vì có sản phẩm chè ngon mà còn có cảnh quan thiên
nhiên tƣơi đẹp, có núi, sông và rất gần khu du lịch Hồ Núi Cốc. Năm 2012,
đã có khoảng 10.000 lƣợt du khách đến tham quan vùng chè đặc sản Tân
Cƣơng.
a. Xã Tân Cương:
Tân Cƣơng là một xã ngoại thành phía Tây Nam của thành phố Thái
Nguyên. Nổi tiếng với vùng chè ngon đặc sản Tân Cƣơng. Đƣợc nhiều du
khách trong và ngoài nƣớc biết đến. Với tổng diện tích 14.83 km
2
, dân số
trên 5.200 ngƣời. Chè Tân Cƣơng thơm ngon nổi tiếng, đƣợc nhiều du
khách trong và ngoài nƣớc biết đến. Do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho
cây chè sinh trƣởng và phát triển, từ lâu Tân Cƣơng đã đƣợc biết đến nhƣ
một vùng chè nổi tiếng của Việt Nam. Cho đến nay, sản phẩm chè Tân
Cƣơng đã đƣợc xuất khẩu đi nhiều nƣớc trên thế giới. Năm 2011 và năm
2013, Tân Cƣơng là địa điểm chính tổ chức các họat động của festival trà
quốc tế lần thứ nhất và lần thứ 2. Nhân sự kiện này, có nhiều công trình hạ
tầng đƣợc xây dựng tại Tân Cƣơng nhƣ: Đƣờng Tân Cƣơng, Không gian
văn hóa trà, Chợ chè Tân Cƣơng
b. Xã Phúc Trìu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status