Khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong ngành công nghệ hoá chất và dầu khí phù hợp với điều kiện việt nam - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
KỸ NĂNG NGHIỆP VỤ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thanh Tùng
Thành viên:
ThS. Cao Thu Anh
ThS. Trịnh Bá Dương
ThS. Nguyễn Thanh Hà
ThS. Nguyễn Võ Hưng
CN. Lê Quang Huy
ThS. Nguyễn Thị Phương Mai
ThS. Hoàng Văn Tuyên 7088


MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN 2

MỞ ĐẦU 5
* Đối tượng nghiên cứu 6
* Phương pháp nghiên cứu 6
* Phạm vi nghiên cứu 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 8
Chương Một MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI NIỆM 9
I. Công nghệ 9
II. Các loại hình công nghệ 10
III. Đổi mới công nghệ 11
IV. Đổi mới công nghệ và đổi mới 17
V. Quản lý công nghệ 17
VI. Khó khăn của DNN&V khi thực hiện ĐMCN 19
Chương Hai TÌM KIẾM CÔNG NGHỆ 21
I. Loại hình thông tin công nghệ 21
II. Các nguồn cung cấp thông tin công nghệ 23
III. Các bước tìm kiếm công nghệ 26
Chương Ba ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ THÍCH HỢP 30
I. Quan điểm về sự thích hợp của công nghệ đối với doanh nghiệp 30
II. Các bước đánh giá để lựa chọn công nghệ phù hợp 31
III. Tiêu chí đánh giá công nghệ thích hợp 32
IV. Tiêu chí dánh giá, lựa chọn nhà cung cấp công nghệ 35
V. Yếu tố có thể ảnh hưởng bất lợi tới đánh giá, lựa chọn công nghệ 37
Chương Bốn LỰA CHỌN HÌNH THỨC PHÙ HỢP ĐỂ CÓ ĐƯỢC CÔNG
NGHỆ MỚI 38


năng cạnh tranh của khu vực này. Trong những năm qua, hệ thống pháp
luật, môi trường kinh doanh đang dần được cải thiện, số lượng các
DNN&V gia tăng nhanh chóng, nhiều tổ chức hỗ trợ
DNN&V được thành
lập và đang đang có những bước phát triển mới về chất lượng.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, trình độ và năng lực
công nghệ của nhiều DNN&V hiện nay còn rất thấp, chưa đáp ứng được
yêu cầu cạnh tranh trong những năm tới. Cùng với nỗ lực cải thiện môi
trường đầu tư – kinh doanh, các biện pháp hỗ trợ nâng cao năng lực ĐMCN
cho các DNN&V thông qua việc cung cấp các tài li
ệu hướng dẫn, đào tạo
các kỹ năng nghiệp vụ đang giành được sự quan tâm của các cơ quan quản
lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp.
Mục tiêu của đề tài là xây dựng tài liệu hướng dẫn nhằm trang bị một
số kỹ năng nghiệp vụ cần thiết cho các nhà quản trị DNN&V ở Việt Nam
khi tiến hành ĐMCN (*)
Dựa trên kết quả điều tra nhu cầ
u của các DNN&V, đề tài tập trung
hướng dẫn một số nội dung cần thiết nhằm nâng cao kỹ năng tìm kiếm công
nghệ, lựa chọn công nghệ thích hợp, lựa chọn hình thức phù hợp để có
được công nghệ mới, đàm phán hợp đồng CGCN và huy động vốn cho
ĐMCN.

_______________________________________________________
(*) Tài liệu này không nhằm thay thế vai trò của các nhà tư vấn. Các kỹ năng nghiệp
vụ giới thiệu trong tài liệu này nhằm mục đích giúp các nhà quản trị DNN&V làm
quen với một số vấn đề để qua đó có thể trao đổi một cách hiệu quả với các nhà tư
vấn chuyên nghiệp khi có nhu cầu.

6

nhiều cuộc phỏng vấn, tọa đàm với nhiều cơ quan cung cấp dịch vụ để nâng
cao khả năng ứng dụng trong thực tiễn của tài liệu hướng dẫn. Các tổ chức
này bao gồm: tổ chức dịch vụ thông tin công nghệ, trung tâm tư vấn
CGCN, trung tâm hỗ trợ DNN&V, tổ chức tài chính (ngân hàng, công ty tài
chính, quỹ hỗ trợ, chương trình hỗ trợ).

7
* Phạm vi nghiên cứu
Để tiến hành ĐMCN đỏi hỏi các doanh nghiệp phải được trang bị
nhiều loại kỹ năng nghiệp vụ khác nhau, bao gồm: xây dựng chiến lược
kinh doanh, chiến lược công nghệ, đánh giá nhu cầu ĐMCN, xây dựng và
quản lý dự án, tìm kiếm và lựa chọn công nghệ, chuyển giao công nghệ,
huy động vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, marketing, v.v
Tuy nhiên, đây là vấn đề lớ
n và phức tạp, với nguồn lực hạn hẹp và
phù hợp với nhiệm vụ được giao, đề tài chỉ đề tập trung vào một số nội
dung liên quan đến tìm kiếm thông tin công nghệ, đánh giá và lựa chọn
công nghệ, lựa chọn hình thức phù hợp để có được công nghệ mới, đàm
phán hợp đồng chuyển giao công nghệ, và huy động vốn cho đổi mới công
nghệ. 8
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

APCCT The Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology
Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình
Dương

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

TMCP Thương mại cổ phần

UNIDO The United Nations Industrial Development Organization
Cơ quan Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc

VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

9
Chương Một
MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI NIỆM
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhiều thuật ngữ kinh tế - công
nghệ đã được du nhập vào Việt Nam, như: công nghệ, ươm tạo công nghệ,
đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, quản lý công nghệ, v.v Tuy
nhiên, việc nhận thức và vận dụng các thuật ngữ này đối với nhiều doanh
nghiệp, đặc biệt các DNN&V còn nhiề
u bất cập. Phần này giới thiệu một số
vấn đề khái niệm nhằm giúp các DNN&V nhận thức và vận dụng đúng đắn
trong các hoạt động quản lý công nghệ.
I. Công nghệ
Theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, công nghệ là tập
hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện
dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm (Quốc hội, 2000).
Về
cơ bản, công nghệ bao gồm phần mềm và phần cứng. Phần mềm
bao gồm các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, thiết kế kỹ thuật và bí
quyết kỹ thuật; phần cứng bao gồm hệ thống máy móc, thiết bị, tư liệu sản
xuất.
Trong thực tế, việc hiểu và vận dụng thuật ngữ công nghệ trong hoạt
động quản lý có thể khác nhau, tùy thuộc vào mục

hệ chặt chẽ với nhau: phần kỹ thuật, phần con người, phần thông tin và phần
tổ chức có thể được vận dụng khi tiến hành đàm phán CGCN (UN-ESCAP,
1986). Những thành phần này được mô tả như sau:
+ Phần kỹ thuật: máy móc, thiết bị, cộng cụ, ph
ương tiện;
+ Phần con người: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm;
+ Phần thông tin: thông số kỹ thuật, thiết kế, sơ đồ, công thức, quy
trình;
+ Phần tổ chức: sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng, bố trí sắp xếp
hệ thống thiết bị.
II. Các loại hình công nghệ
Dựa vào mục tiêu ứng dụng, có thể phân chia công nghệ thành hai
loại hình: “công nghệ sản phẩm” và “công nghệ quy trình”. Tùy vào điều
kiện và yêu cầu của sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể lựa chọn
một trong hai loại hình ĐMCN, nhưng trong một số trường hợp doanh
nghiệp tiến hành đồng thời cả ĐMCN sản phẩm và ĐMCN quy trình.
- Công nghệ sản phẩm. Công nghệ sản ph
ẩm liên quan đến các đặc
tính của công nghệ hàm chứa trong các sản phẩm và dịch vụ cụ thể của một
doanh nghiệp. Ví dụ, công nghệ chế tạo khuôn ép nhựa và khuôn ép kim
loại là hai loại công nghệ khác khác nhau trong ngành chế tạo khuôn mẫu.
- Công nghệ quy trình. Công nghệ quy trình bao gồm hệ thống dây
chuyền máy móc, thiết bị, cách thức tổ chức sản xuất, phân phối sản phẩm.
ĐMCN quy trình nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành s
ản phẩm và rút
ngắn thời gian đưa ra sản phẩm ra thị trường. Tuy nhiên, đối với nhiều
DNN&V, công nghệ quy trình thường được hiểu là công nghệ tổ chức hoạt
động sản xuất, tức là bao gồm hệ thống máy móc, thiết bị, phương pháp, kỹ
năng, bí quyết, kinh nghiệm vận hành máy móc, thiết bị.


và cách phân loại ĐMCN. Hiểu rõ các loại hình ĐMCN sẽ giúp các nhà
quản trị doanh nghiệp lựa chọn cách tiếp cận, giải pháp quản lý các dự án
ĐMCN hiệu quả hơn.
Dựa vào m
ục tiêu của ĐMCN, có thể phân chia ĐMCN thành hai
loại cơ bản: đổi mới công nghệ sản phẩm (đổi mới sản phẩm) và đổi mới
công nghệ quy trình (đổi mới quy trình). 1
Quan điểm này được đưa ra trong Tài liệu hướng dẫn Oslo, OECD (1992), và đã được nhiều nước áp
dụng trong hoạt động đánh giá, thông kê về ĐMCN của các DNN&V.

12
Liên quan đến mức độ của đổi mới, ĐMCN bao gồm hai mức độ:
mới và cải tiến. Theo đó, ĐMCN có thể nhằm đưa ra thị trường sản phẩm
mới (ứng dụng quy trình sản xuất mới) hoặc được cải tiến đáng kể về công
nghệ
2
.
Đổi mới sản phẩm là việc một doanh nghiệp đưa ra được thị trường
sản phẩm mới hoặc sản phẩm được cải tiến đáng kể về công nghệ với
những tính năng, công dụng mới hơn so với các sản phẩm cùng loại được
doanh nghiệp sản xuất trước đây.
Hộp 2. Sản phẩm mới và Sản phẩm được cả
i tiến về công nghệ
- Sản phẩm mới về công nghệ là sản phẩm có công dụng, tính năng
hoàn toàn mới so với các sản phẩm cùng chủng loại được doanh nghiệp sản
xuất trước đó. Sản phẩm mới có thể được tạo ra nhờ ứng dụng các công nghệ
hoàn toàn mới, hoặc bằng cách thay đổi cách thức tổ chức, tích hợp các công

loại máy này được đánh giá là loại máy móc thiết bị tiên tiến) không được xem là đổi mới quy trình
công nghệ.
3
Công nghệ Bluetooth là một công nghệ dựa trên tần số vô tuyến và bất cứ một thiết bị nào có tích
hợp bên trong công nghệ này đều có thể truyền thông với các thiết bị khác với một khoảng cách nhất
định về cự li để đảm bảo công suất cho việc phát và nhận sóng. Công nghệ này thường được sử dụng
để truyền thông giữa hai loại thiết bị khác nhau. Ví dụ: Bạn có thể hoạt động trên máy tính vớ
i một
bàn phím không dây, sử dụng bộ tai nghe không dây để nói chuyện trên điện thoại di động.

13
nhờ việc sử dụng loại nguyên vật liệu thích hợp hơn (chi phí thấp hơn hoặc tiết
kiệm năng lượng, bền hơn…), hoặc dựa trên việc đổi mới một số bộ phận/linh
kiện của sản phẩm đó. Ví dụ:
+ Một doanh nghiệp sản xuất các loại giấy thơm nay đưa ra thị trường
loại giấy thơm tiệt trùng (
đã qua xử lý thanh trùng), kết hợp với những cải tiến
về kỹ thuật sắp xếp và đóng hộp để thuận tiện cho người sử dụng thì loại sản
phẩm mới này được xem là sản phẩm được cải tiến về công nghệ.
+ Một doanh nghiệp hiện đang chế biến nước hoa quả, nay đưa ra loại
nước hoa quả giữ được các hương vị
tự nhiên thì loại nước hoa quả mới này
là sản phẩm được cải tiến về công nghệ.
Đổi mới quy trình là việc một doanh nghiệp đưa vào ứng dụng quy
trình công nghệ sản xuất mới hoặc được cải tiến đáng kể về công nghệ so
với quy trình công nghệ sản xuất được doanh nghiệp ứng dụng trước đó.
Hộp 3. Quy trình mới và quy trình được cải tiến về công nghệ
- Quy trình mới: là cách thức mới để sản xuất ra sản phẩm và thường
gắn với hệ thống máy móc - thiết bị mới, dựa trên các nguyên lý công nghệ
mới, phương pháp tổ chức sản xuất mới. Ví dụ:

dụng để hỗ trợ xây dựng chiến lược ĐMCN và lựa chọn phương pháp quản
lý công nghệ phù hợp.
Tuy nhiên, sự phân định giữa đổi mới tuần tự và đổ
i mới căn bản
chưa giúp lý giải vì sao doanh nghiệp này có nhiều lợi thế hơn doanh
nghiệp kia khi thực hiện một dự án ĐMCN. Thực tế, không ít doanh nghiệp
sở hữu các công nghệ thành phần quan trọng nhưng lại thất bại khi thực
hiện cải tiến đối với các công nghệ này để tạo ra các sản phẩm ưu việt hơn.
Mặt khác, có nhiều bằng chứng cho thấy, phầ
n lớn các ĐMCN trong thực tế
là những cải tiến nhỏ được thực hiện thường xuyên dựa trên những sản
phẩm/quy trình hiện có nhưng lại có tác động lớn đối với khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Do đó, để tạo ra một sản phẩm mới, doanh nghiệp cần phải có một
trong hai loại kiến thức cơ bản: kiến thức liên quan đến các bộ
phận hợp
thành hệ thống công nghệ và kiến thức về sự liên kết giữa các bộ phận đó.
Việc phân biệt giữa 2 loại kiến thức này là cơ sở để hiểu được sự khác nhau
giữa các loại ĐMCN.
Hình 1 phác thảo mối quan hệ giữa các loại hình ĐMCN, theo đó
chiều ngang biểu thị tác động của ĐMCN đối với các bộ phận hợp thành,
chi
ều dọc biểu thị tác động tới mối liên kết giữa các bộ phận đó. Đổi mới
căn bản tạo ra một sản phẩm hoàn toàn mới về thiết kế và thông số kỹ
thuật, vì thế yêu cầu sự tương thích của các bộ phận cấu thành được liên kết
với nhau theo một kết cấu hoàn toàn mới. Mặt khác, đổi mới tuần tự tạo ra
nhữ
ng cải tiến (về thiết kế và thông số kỹ thuật) chủ yếu đối với các bộ
phận cấu thành của sản phẩm, còn giải pháp kỹ thuật để liên kết các bộ
phận này về cơ bản không thay đổi.

Nguồn: Henderson, 1990; Narayanan, 2001. Đổi mới căn bản
Đổi mới kết cấu
Đổi mới tuần tự
Đổi mới mô-đun
Tác động ít tới kết cấu hệ thống công nghệ
Tác đ

n
g
ít tới côn
g
n
g
h

h
ợp

p
hần
Tác động lớn tới công nghệ hợp phần

Trên cơ sở đó, có thể phân chia ĐMCN thành bốn loại hình cơ bản:
Đổi mới tuần tự, đổi mới mô-đun,
đổi mới cấu trúc và đổi mới căn bản. Cụ
thể có thể phân thành bốn loại sau:
- Đổi mới tuần tự. Đổi mới tuần tự là loại hình đổi mới tạo ra những
cải tiến về công nghệ dựa trên những sản phẩm, quy trình sản xuất hiện có
của doanh nghiệp. Loại đổi mới này dựa trên các kiến thức, kỹ năng và
kinh nghiệm được doanh nghi
ệp học hỏi, tích lũy thông qua quá trình sản
xuất - kinh doanh. Kết quả của đổi mới này vẫn là những sản phẩm thuộc
dòng sản phẩm được doanh nghiệp sản xuất trước đó, hoặc là những quy
trình sản xuất đã được doanh nghiệp ứng dụng vào sản xuất. Mặc dù loại
đổi mới này không đòi hỏi phải có kiến thức mới, nhưng để thành công
doanh nghiệp cầ
n phải có một số năng lực công nghệ, đặc biệt là năng lực
thích nghi, cải tiến đối với sản phẩm hoặc quy trình công nghệ hiện có. Đổi
mới tuần tự thường được nhiều DNN&V lựa chọn do có thể tận dụng được
các nguồn lực sẵn có.
- Đổi mới mô-đun. Đổi mới mô-đun
là loại đổi mới tạo ra những thay đổi
đáng
kể đối với một số công nghệ hợp phần của
sản phẩm hoặc quy trình dựa trên các kiến
thức sẵn có về thiết kế và tích hợp hệ thống.
Đổi mới mô-đun đòi hỏi doanh nghiệp phải
có kiến thức mới về một hoặc một số công
nghệ hợp phần.
- Đổi mới kết cấu hệ thống công nghệ
. Ngược lại với đổi mới mô-
đun, đổi mới kết cấu công nghệ là loại đổi mới dựa trên việc tái tổ chức các

mới thành lập) thuộc loại này.
IV. Đổi mới công nghệ và đổi mới
Tùy phạm vi của hoạt động đổi mới được nói đến, một số trường hợp
gọi chung là đổi mới, nhưng cũng có trường hợp g
ọi cụ thể hơn là ĐMCN.
ĐMCN thường nhấn mạnh tới đối tượng cụ thể được đổi mới là công nghệ,
còn đổi mới nói chung bao gồm nhiều vấn đề khác, như hoạt động quản lý,
tiếp thị, sản xuất và phân phối, v.v…
Ở Việt Nam, hoạt động ĐMCN chưa thực sự được nhiều DNN&V
quan tâm. Điều này cho thấy, các dịch vụ hỗ tr
ợ phát triển kinh doanh phát
triển khá mạnh so với các dịch vụ hỗ trợ ĐMCN.
Kinh nghiệm thành công về ĐMCN cho thấy, hoạt động ĐMCN và
phát triển kinh doanh thường được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, có tác dụng hỗ trợ nhau. Vì vậy, gần đây nhiều chương trình hỗ
trợ ĐMCN cho các DNN&V có xu hướng gọi chung là đổi mới thay vì
trước đây chỉ nhấn mạnh về
ĐMCN.
V. Quản lý công nghệ
Để nâng cao khả năng cạnh tranh dựa trên ĐMCN, vấn đề quản lý
công nghệ cần phải được nhận thức và áp dụng một cách đúng đắn.
Quản lý công nghệ là một hoạt động mang tính tổng hợp cao, đòi hỏi
một sự tiếp cận có hệ thống tất cả các hoạt động sản xuất - kinh doanh và
đổi mới của một doanh nghiệp, trong
đó chú trọng tới các hoạt động liên
quan đến công nghệ (quản lý chiến lược công nghệ, quản lý dự án ĐMCN,
Đổi mới kết cấu hệ thống công
nghệ
Một doanh nghiệp từng sản
xuất quạt bàn trước đây, nay

Gaynor, chuyên gia nổi tiếng về quản lý công nghệ đã phác thảo 5
giai đoạn cơ bản với các hoạt
động chủ yếu liên quan đến quản lý công
nghệ (Gaynor, 1996).
Hình 2. Các giai đoạn của quản lý công nghệ
- R&D - R&D
- Thiết kế
- Sản xuất
- R&D
- Thiết kế
- Sản xuất
- Marketing
- Bán hàng
- Phân phối
- Dịch vụ khách
hàng
- R&D
- Thiết kế
- Sản xuất
- Marketing
- Bán hàng
- Phân phối
- Dịch vụ khách
hàng
- Hệ thống thông tin
- Nguồn nhân lực
- Tài chính
- Mua bán
- Patăng và luật
pháp

(Giai đoạn 1) thì chưa được coi là quản lý công nghệ. Giai đoạn 2 có thêm
hoạt động thiết kế và sản xuất, như vậy đã gắn nghiên cứu và phát triển với
sản xuất. Tuy nhiên, để được xem là có thực hiện quản lý công nghệ thì
doanh nghiệp phải tiến hành thêm các hoạt động marketing, bán hàng, phân
phối, và dịch vụ hỗ trợ khách hàng (Giai đoạn 3).
Nghiên cứu mới đây về quản lý công nghệ trong các DNN&V cho
thấy, mặc dù nhiều hoạt động liên quan đến này không phải là mới đối với
nhiều doanh nghiệp, nhưng thực hiện các hoạt động này trong mối tương
quan mật thiết v
ới nhau, kết hợp với nhau đòi hỏi các nhà quản trị doanh
nghiệp cần có một tư duy mới, cách tiếp cận mới (Ca, 2003).
VI. Khó khăn của DNN&V khi thực hiện ĐMCN
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy, bên cạnh những lợi thế
nhất định, DNN&V có nhiều bất lợi so với các doanh nghiệp lớn khi tiến
hành các hoạt động ĐMCN (Bảng 1).
Bảng 1. Lợi thế và bấ
t lợi của DNN&V so với doanh nghiệp lớn
Lợi thế Bất lợi
Quản lý
Cơ cấu quản lý gọn nhẹ, quá trình ra
quyết định nhanh chóng.

Thiếu kỹ năng, kinh nghiệm quản lý.
Liên kết
Dễ dàng hợp tác giữa các bộ phận chức
năng trong doanh nghiệp.

Thiếu nguồn lực để phát triển mạng lưới
hợp tác với các đối tác bên ngoài.
Marketing

Thiếu kỹ năng quản lý phù hợp để khai
thác hiệu quả tiềm năng này.
Pháp lý
Chính phủ có nhiều chính sách khuyến
khích, ưu đãi cho ĐMCN.

- Thiếu kỹ năng cần thiết để đáp ứng các
điều kiện hỗ trợ theo quy định.
- Thiếu thông tin về về các chính sách ưu
đãi, các chương trình hỗ trợ.
Khả năng học hỏi
Quá trình học hỏi nhanh chóng, thích
ứng nhanh với những thay đổi của thị
trường và công nghệ.

Nguồn: The Handbook for Industrial Innovation, 1996
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng,
cộng đồng DNN&V trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm tới
khi áp lực cạnh trang ngày càng gia tăng. Các khó khăn chủ yếu cản trở
hoạt động ĐMCN của các DNN&V bao gồm:
- Thiếu kỹ năng nghiệp vụ và thực trạng các nguồn thông tin để tìm
kiếm công nghệ nên không biết tìm kiếm bằng cách nào và tìm ở đ
âu.
- Không biết đánh giá như thế nào để lựa chọn công nghệ thích hợp
nên chi phí đầu tư thường cao hơn so với giá trị thương mại của công nghê
mua về.
- Chưa quen với việc mua công nghệ theo con đường chính thức nên
thiếu kỹ năng, kinh nghiệm trong việc lựa chọn hình thức phù hợp để mua
công nghệ và đàm phán hợp đồng CGCN với các nhà cung cấp.
- Chưa chú trọng đầu tư cho các hoạt độ

Bảng 2. Các hạng mục thông tin về công nghệ
1. Tên công nghệ
2. Lĩnh vực công nghệ
3. Công dụng
4. Tính năng nổi trội
5. Thông số kinh tế - kỹ thuật
6. Lĩnh vực ứng dụng
7. Mức độ phát triển của công nghệ
8. Điều kiện nhân lực để ứng dụng công nghệ
9. Điều kiện cơ sở hạ tầng nhà xưởng để vận hành dây chuyền thiết bị
10. Tác động môi trường
11. Hình thức chuyển giao
12. Tình trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ
13. Các nước mà công nghệ được chào bán, tìm mua

22
14. Bên chào bán công nghệ (*)
15. Giá tham khảo (*)
16. Mức độ hiện đại (*)
17. Khả năng hỗ trợ của bên bán (*)
18. Các nhà cung cấp công nghệ liên quan (*)
19. Các nhà cung cấp thiết bị liên quan(*)
20. Bài học thành công, thất bại (*)
(*): Các loại thông tin này thường được cung cấp theo phí dịch vụ.
Khác với thông tin khoa học, thông tin công nghệ liên quan trưc tiếp
tới sản xuất - kinh doanh và sinh lợi. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ phải trả phí
để có được những thông tin hữu dụng. Nói chung, các tổ chức kinh doanh
dịch vụ thông tin chuyên nghiệp ở nước ngoài thường tổ chức việc cung
cấp thông tin theo các gói dịch vụ khác nhau. Về cơ bản, có hai loại: miễn
phí và phải trả tiền. Cụ thể như sau:

Thực tế, vì phục vụ cho các mục đích, đối tượng khác nhau nên mỗi
nguồn thông tin thường chuyên sâu vào từng loại thông tin khác nhau. Các
nguồn này đều có những đi
ểm mạnh và hạn chế nhất định. Vì vậy,
DNN&V cần khai thác tốt nội dung thông tin từ nhiều nguồn để có những
căn cứ đánh giá, so sánh phục vụ cho việc lựa chọn công nghệ phù hợp.
Nói chung, khi tiến hành tìm kiếm công nghệ các DNN&V cần chú ý
tới các nguồn thông tin sau:
- Doanh nghiệp khác cùng ngành;
- Khách hàng, nhà cung cấp thiết bị;
- Hội chợ, triển lãm hàng công nghiệp;
- Chợ công nghệ và thiết bị, sàn giao dịch công nghệ trên mạng;
- Trung tâm hỗ trợ DNN&V;
- Công ty tư vấn kỹ thuật, tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ;
- Hiệp hội, hội chuyên ngành;
- Viện nghiên cứu, trường đại học công nghệ.
II.2. Thực trạng của một số nguồn cụ thể
1. Tìm kiếm từ các doanh nghiệp khác cùng ngành
Nhu cầu công nghệ thường xuất phát khi thấy rõ được tính hữu dụng
của công nghệ trong thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Vì thế
, không ít
trường hợp, nhu cầu mua công nghệ có thể nẩy sinh sau các chuyến công
tác, thăm quan nhà máy của các doanh nghiệp khác (trong nước, nước
ngoài). Ngoài ra, khai thác tốt mối quan hệ cá nhân với đội ngũ kỹ sư, thợ
lành nghề của doanh nghiệp khác cũng là cách làm hiệu quả. Qua đó, có thể
biết được ít nhất một nguồn công nghệ có thể mua hoặc bắt chước làm theo.
24

qua đó các doanh nghiệp có thể thu thập được một số thông tin sơ bộ trước
khi chính thức tiếp cận các nhà tư vấn chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, chất lượng thông tin của các trung tâm dịch vụ của nhà
nước có những điểm hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được nhu cầu cụ thể
của doanh nghiệp. Một phần là do mô hình sở hữu và cơ chế quản lý các
trung tâm này không phù hợp. Mặ
t khác, các trung tâm này thường có quy
mô khá lớn, đa ngành, trong khi năng lực quản lý và phát triển lại rất hạn
chế nên chất lượng thông tin.

25
5. Tìm kiếm thông qua các tổ chức quốc tế
Các tổ chức dịch vụ thông tin công nghệ ở nước ngoài, đặc biệt ở
một số nước trong khu vực (Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia,
Ấn Độ, v.v ) cũng là những kênh thông tin cần được các DNN&V quan
tâm nhiều hơn. Việc tiếp cận các nguồn thông tin này thường đòi hỏi chi
phí khá tốn kém so với các kênh trong nước.
Một số tổ chức dịch vụ thông tin công nghệ khu vực và quố
c tế cũng
được thành lập với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế (APCTT, UNIDO,
ASEAN) nhằm hỗ trợ các hoạt động chuyển giao công nghệ giữa các
DNN&V. DNN&V trong nước cần khai thác tốt các kênh thông tin này
nhằm giảm bớt các chi phí ban đầu trước khi tiếp cận các nguốn thông tin
công nghệ quốc tế. Để thực hiện công việc này các doanh nghiệp cần thuê
chuyên gia tư vấn thông thạo ngoại ngữ.
6. Trung tâm hỗ trợ
DNN&V
Trong nhiều năm qua, một số trung tâm hỗ trợ DNN&V đã các trung
tâm này đã có nhiều hoạt động tích cực trong việc hỗ trợ các DNN&V phát
triển sản xuất - kinh doanh, mở rộng thị trường. Hoạt động hỗ trợ tìm kiếm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status