Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển ngành dệt may việt nam đến năm 2015 - Pdf 13

VIỆN DỆT MAY




Báo cáo thực hiện đề tài:

KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY
VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Sỹ Phương 7679
05/02/2010

Hà Nội, tháng 12/2009
i

VIỆN DỆT MAY


1. ông Nguyễn Sỹ Phương – Viện Dệt May
2. bà Nguyễn Diệp Linh – Viện Dệt May
3. ông Lê Quốc Ân – Hiệp hội Dệt May VN
4. ông Lê Văn Đạo - Hiệp hội Dệt May VN
5. ông Tăng Văn Hấn – Hiệp hội Dệt May VN
6. ông Nguyễn Sơn - Hiệp hội Dệt May VN
7. bà Phan Thị Diệu Hà - Hiệp hội Dệt May VN
8.
ông Phạm Đình Thúy – Tổng cục thống kê
iii

MỤC LỤC
Trang
Giới thiệu chung iv
Nguồn dữ liệu và phương pháp luận vii
Chương mở đầu - Thương mại dệt may thế giới
và các xu hướng phát triển 1
Chương 1 - Kết quả khảo sát đánh giá hiện trạng ngành dệt may
1.1 Số lượng, hình thức, tình hình phân bố các doanh nghiệp 7
1.2 Thực trạng về nguồn nhân lực ngành dệt may 9
1.3 Thực trạng về thiết bị, trình độ công nghệ 15
1.4 Hoạ
t động KHCN và Hệ thống quản lý và ứng dụng tin học 20
1.5 Thực trạng về các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan 27
1.6 Tình hình đầu tư 31
1.7 Kết quả sản xuất kinh doanh và tình hình xuất nhập khẩu 33
1.8 Đánh giá tổng hợp 39
Chương 2 - Một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp dệt may
Việt Nam đến năm 2015
2.1 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực 42

Triển vọng của ngành dệt may cũng đang sáng dần, khi nền kinh tế thế giới
đang có dấu hiệu phục hồi. Ngành may mặc được dự báo sẽ có tốc độ tăng
trưởng cao hơn, cả về doanh thu xuất khẩu và giá trị gia tăng. Trong khi
đó,
ngành dệt được dự báo tăng trưởng chậm hơn. Tuy vậy, ngành may mặc của Việt
Nam vẫn sẽ tiếp tục phụ thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu nhập khẩu để đáp ứng
cho yêu cầu sản xuất xuất khẩu. Triển vọng của ngành dệt may còn được củng cố
bởi việc Việt Nam đang và sẽ tham gia ký kết nhiều hiệp định FTA khác, qua đó
m
ở rộng tiếp cận thị trường.
Trong bối cảnh khủng hoảng, các thị trường xuất khẩu lớn có xu hướng
thực thi bảo hộ kiểu mới để giảm thâm hụt thương mại, trong đó dệt may là một
nhóm ngành dễ bị tổn thương. Hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Trung
Quốc sang Hoa Kỳ và EC được dỡ bỏ từ năm 2008, qua đó gây áp lực cạ
nh tranh
đối với doanh nghiệp Việt Nam. Cơ cấu bảo hộ thực tế theo chuỗi giá trị vẫn ít
bảo hộ các sản phẩm dệt mà bảo hộ các sản phẩm may nhiều hơn. Các doanh
nghiệp vẫn gặp phải nhiều rào cản về đầu tư trong lĩnh vực này, trong khi còn
gặp khó khăn do chưa tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.
Hầu hết các quốc gia có ngành Dệt May phát tri
ển trên thế giới hàng năm
đều tiến hành phân tích đánh giá hiện trạng phát triển ngành thông qua điều tra
cập nhật các dữ liệu về sản xuất kinh doanh, giá trị xuất nhập khẩu, nguồn
nguyên liệu – phụ liệu, nguồn nhân lực, hoạt động đầu tư, trình độ công nghệ
v

khoa học kỹ thuật, đánh giá tác động đến môi trường, Từ đó tiến hành phân
tích so sánh đánh giá các lợi thế, khai thác các lợi thế cạnh tranh, đề xuất hướng
phát triển trước mắt và dài hạn, đề xuất các giải pháp để phát triển ngành một
cách bền vững, tạo lập vị thế trên trường quốc tế và khu vực.

2015.
vi

Nội dung nghiên cứu chính
- Khảo sát, tổng hợp dữ liệu, phân tích đánh giá thực trạng ngành dệt may trên cơ
sở các dữ liệu điều tra;
- Xây dựng phần mềm quản lý các dữ liệu ngành dệt may;
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển ngành Dệt May Việt Nam đến năm
2015.
Mục tiêu kinh tế - xã hội
Góp phần phát triển ngành dệt may Việt Nam một cách bền vững, giải quyết vấ
n
đề lao động cho xã hội.
Mục tiêu khoa học công nghệ
Thu thập, tổng hợp, cập nhật hệ thống dữ liệu thống kê về ngành dệt may Việt
Nam

Kết quả đạt được
- Hệ thống dữ liệu, phân tích đánh giá về thực trạng của ngành dệt may VN;
- Phần mềm quản lý dữ liệu ngành dệt may;
- Ấn phẩm Directory Dệt May Việt Nam 2010;
- Một số gi
ải pháp phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm
2015.

vii

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Nguồn dữ liệu và đặc tính của mẫu khảo sát
- Các dữ liệu được sử dụng trong bản báo cáo được lấy từ nguồn Niên giám

viii

nghiệp Nhà nước (3,7%), 100 doanh nghiệp là công ty cổ phần (26,7%), 63
doanh nghiệp tư nhân (16,8%) và 197 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(52,8%). Trong số 374 doanh nghiệp có 52 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt
May (tỷ lệ 14%). Lý do chúng tôi phân tầng các công ty dệt may theo các thông
số trên là do các đặc tính này có vẻ như làm cho các công ty khác nhau về hiệu
quả và khả năng cạnh tranh (hình thức sở hữu và vị trí địa lý,…).
Về lực lượng lao động: có 10 doanh nghiệp (2,7%) có số lao động trên
5.000 người; 25 doanh nghiệ
p (6,7%) có trên 3.000 lao động ; 101 doanh nghiệp
(27%) có trên 1.000 lao động và 174 doanh nghiệp (46,5%) có qui mô lao động
hơn 500 người và 75 doanh nghiệp (20%) có qui mô lao động ít hơn 200 người.
Về qui mô doanh nghiệp theo tổng doanh thu năm 2008 có: 142 doanh
nghiệp (38%) có doanh thu dưới 50 tỷ đồng; 54 doanh nghiệp (14,5%) có doanh
thu trên 300 tỷ đồng; 25 doanh nghiệp (6,7%) có doanh thu trên 500 tỷ đồng và 9
doanh nghiệp (2,5%) có doanh thu trên 1.000 tỷ đồng.
Phương pháp luận
Bản Báo cáo sử dụng nhiều thông tin sơ cấp thu thập được trong khảo sát
374 doanh nghiệp dệt may.
Các phương pháp luận được sử d
ụng bao gồm:
• Phương pháp khảo sát, tổng hợp thống kê, phỏng vấn trực tiếp, thu thập
thông tin: phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập tất cả những
thông tin cần thiết để phân tích đánh giá thực trạng toàn ngành dệt may;
• Phương pháp phân tích định tính, so sánh phân tích, lí luận khoa học biện
chứng qua việc tổ chức các hội nghị, hội thảo và lấy ý kiến các chuyên gia
quản lý, chuyên gia thương mạ
i, chuyên gia kỹ thuật, am hiểu về ngành
dệt may để phân tích góp ý cho các đề xuất, nhận định được hoàn thiện;


1

Chương mở đầu - THƯƠNG MẠI DỆT MAY THẾ GIỚI VÀ CÁC XU
HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Lần đầu tiên kể từ cuối những năm 1940, nhu cầu dệt may tại Mỹ đã giảm
sút trong năm 2008. Doanh thu bán hàng của các cửa hàng chuyên bán quần áo,
phụ liệu may mặc và các cửa hàng tổng hợp nhỏ giảm sút mặc dù doanh thu tại
trụ sở các kho hàng và các siêu thị lớn vẫn tăng. Doanh thu hàng may mặc được
dự đoán sẽ sụt giảm hơn trong năm 2009 khi người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu
của họ và sử
dụng thu nhập tiết kiệm hơn.
Nhập khẩu quần áo giảm 2,7% về số lượng các chủng loại và sự sụt giảm
rõ rệt ở quần áo làm từ các loại xơ cơ bản – cotton, len, xơ tổng hợp, pha trộn tơ
tằm và các xơ thực vật mà không phải là cotton. Nhập khẩu dệt giảm 7,2%, sự
giảm sút thể hiện ở các loại sợi, các loại vải và các s
ản phẩm từ dệt. Trung Quốc
vẫn là nước cung cấp quần áo và các sản phẩm dệt lớn nhất của Mỹ trong năm
2008 với 41% thị phần. Các nước cung cấp chính khác bao gồm Pakistan, Ấn độ,
Mexico và Việt Nam. Sản xuất dệt may của Mỹ giảm sút rõ rệt, thể hiện thị
trường suy yếu cũng như sự tiếp tục dịch chuyển sản xuất tới nhữ
ng vùng ngoài
nước Mỹ mà có giá thành sản xuất rẻ. Sự sụt giảm sản xuất còn ảnh hưởng không
tốt cho người lao động. Dù sao, xuất khẩu đã tăng 1,1% cho các sản phẩm dệt và
2,6% cho quần áo.
Sản xuất dệt may của EU cũng giảm trong năm 2008 và sự sụt giảm tăng
nhanh tiếp theo sự sụt giảm trong nửa cuối năm 2007. Sản xuất may trong quí ba
năm 2008 đã giảm 4,7% so với cùng k
ỹ năm trước trong khi sản xuất dệt đã giảm

giảm sút mặc dù vẫn ở ngưỡng 0,3%. Cùng th
ời gian này, thương mại tại Bắc Mỹ
bị sụt giảm tới 16% và xuất khẩu từ Trung và Nam Mỹ tới Bắc Mỹ giảm 7%.
Thâm hụt thương mại dệt may của Mỹ tăng 3,7% lên đến 92,26 tỷ đô la
Mỹ, trong đó thâm hụt thâm hụt riêng hàng may mặc chiếm đến 87%. Thâm hụt
thương mại của 27 nước thuộc EU (EU27) tăng nhanh hơn Mỹ, lên đến 13,7%
nhưng chỉ ở m
ức 63,03 tỷ đôla Mỹ bằng 68% thâm hụt của Mỹ. Trung Quốc vẫn
tiếp tục là nước có thặng dư thương mại dệt may lớn nhất thế giới, tiếp theo là Ấn
Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Pakistan.
Quốc gia xuất khẩu các sản phẩm dệt lớn nhất thế giới trong năm 2007 là
EU27, tiếp theo là Trung Quốc, Hong Kong, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ
3

Kỳ, Pakistan và Nhật Bản. EU27 cũng là nơi nhập khẩu hàng dệt lớn nhất, tiếp
theo là Mỹ, Trung Quốc, Hong kong, Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Việt Nam,
Canada và Nga. Trong lĩnh vực may mặc, Trung Quốc là nước xuất khẩu đứng
đầu thế giới, tiếp theo là EU27, Hong Kong, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesf, Ấn Độ,
Việt Nam, Indonesia, Mexico và Mỹ. 46% tổng số hàng may mặc trên thế giới
được nhập vào các nước EU trong năm 2007, trong khi Mỹ chiếm 24% và Nhậ
t
Bản chiếm 7%, tiếp theo là một số nước thường xuyên nhập khẩu hàng may mặc
nhưng chỉ chiêm một tỷ lệ nhỏ như Hong Kong, Nga, Canada, Thụy Sĩ, Các tiểu
Vương Quốc Ả Rập, Hàn Quốc, Úc.
Phân tích chi tiết hơn cho thấy, theo khu vực, sự phát triển ngành dệt thể
hiện ở 6 trong số 7 dòng thương mại dệt của thế giới trong năm 2007. Năm trong
số sáu dòng thương mại là các nhà xu
ất khẩu châu Á. Dòng thương mại dệt chịu
sự sụt giảm là thương mại dệt ở bên trong Bắc Mỹ, giảm 5,2% trong năm 2007
trong khi việc nhập khẩu từ châu Á vào trong Bắc Mỹ tiếp tục tăng. Điều này thể

khẩu dệt từ châu Á sang Bắc Mỹ chậm hơn trong năm 2007, chỉ đạt 0,3% sau khi
tăng 9,4% trong năm trước. Giai đoạn trước năm 2006, xuấ
t khẩu đã tăng trưởng
ở mức hai con số trong vòng 4 năm. Kết quả, dòng thương mại này giữ vị trí lớn
thứ 4 trong năm 2007 với giá trị 17,4 tỷ USD.
Chỉ có bốn trong số bảy dòng thương mại may mặc chính theo khu vực
tăng trưởng trong năm 2007. Trong bốn dòng này thì ba dòng có liên quan đến
các nhà xuất khẩu châu Á trong khi dòng thứ 4 là thương mại bên trong châu Âu.
Sự tăng trưởng nhanh nhất trong năm 2007 là việc xuất khẩu quần áo từ
các nước
châu Á sang Cộng Đồng các Quốc gia Độc lập (CIS). Giá trị của dòng thương
mại này tăng ở mức khổng lồ 95% đạt 14,1 tỷ USD và kết quả là nó đã tăng từ
mức lớn thứ 6 trong năm trước lên mức lớn thứ 4 trong năm 2007. Tuy nhiên,
một phần trong sự tăng trưởng này có thể do có sự sửa đổi sau khi bị giảm 0,6%
trong năm trước. Trong năm 2006, sự tăng trưở
ng trong xuất khẩu hàng may mặc
từ châu Á sang CIS ở mức âm sau khi tăng trung bình 33,6% một năm trong giai
đoạn 2000-2005. Thương mại hàng may mặc bên trong châu Âu tăng 12,8%
trong năm 2007, vượt qua mức 100 tỷ USD. Với mức 100,8 tỷ USD, nó đã vượt
xa dòng thương mại về hàng may mặc lớn nhất của các nhà xuất khẩu quần áo từ
châu Á đến Bắc Mỹ với giá trị 60,1 tỷ USD. Hơn nữa việc tăng trưởng trong năm
2007 tiế
p tục đà tăng nhanh hơn sau khi tăng 6,1% trong năm 2006 và 2,7% trogn
năm 2005. Sự phát triển này còn nhanh hơn tỷ lệ phát triển trung bình 9,6% mỗi
5

năm được báo cáo trong 5 năm tính đến năm 2005. Thương mại hàng may mặc
bên trong châu Á tăng trưởng 9,6% đạt 39 tỷ USD trong năm 2007. Sự tăng
trưởng này tương đương với việc tăng 9,9% trong năm 2006 sau khi bị giảm
4,7% trong năm 2005. Rất nhiều các giao dịch thương mại bên trong châu Á bao


các nhà sản xuất tại Nam Mỹ khi các nhà cung cấp châu Á lại chi sẻ thị trường
Mỹ trong thời kỳ hậu quote. Hơn nữa, trong khi việc xuất khẩu từ Nam và Trung
Mỹ tới Bắc Mỹ tăng trung bình 1,8% một năm trong các năm 200-2005 thì họ lại
bị giảm 2,2% trong năm 2005 trước khi giảm sâu hơn nữa 5,6% trong năm 2006
và 7,0% trong năm 2007. Xuất khẩu hàng may mặc từ châu Á tới châu Âu giảm
0,3% xuống còn 51,2 tỷ USD trong năm 2007. Sự
sụt giảm này, mặc dù không
nhiều, nhưng là một tình trạnh sự tương phản ảm đạm so với năm 2006 khi xuất
khẩu tăng mạnh tới 41%. Nó còn là sự tương phản với mức tăng trung bình 11%
một năm trong thời gian từ 2000-2005. Sự tăng trưởng mạnh trong thời gian
2000-2005 trùng với thời gian mà thương mại được mở rộng dưới tác động của
ATC. Tuy nhiên, EU thông báo về hạn ngạch an toàn chố
ng lại Trung quốc vào
giữa năm 2005 và điều này giải thích cho việc tăng mạnh trong năm 2006 khi bên
mua tại EU đẩy nhanh hơn các đơn đặt hàng tại Trung quốc trước khi hết hạn
ngạch. Cùng thời gian đó bên mua bắt đầu tìm kiếm các nguồn cung cấp khác
ngoài Trung quốc. Kết quả của chiến dịch này là, bên mua đã có số lượng hàng
trong kho vượt quá mức họ cần và đã giảm bớt các đơn đặt hàng trong nă
m 2007.

7

Chương 1 - KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT NGÀNH DỆT MAY
1.1 Số lượng, hình thức, tình hình phân bố các doanh nghiệp
Theo số liệu của Tổng cục thống kê ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện
có 3.719 doanh nghiệp (31/12/2008).
Được phân loại theo hình thức doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp nhà nước
trung ương: 16; Doanh nghiệp nhà nước địa phương: 7; Công ty TNHH nhà
nước trung ương: 3; Công ty TNHH nhà nước địa phương: 8; Công ty CP, Công

- Đồng bằng sông Cửu Long: 145 doanh nghiệp, trong đó: Long An: 53; Tiền
Giang: 24; Bến Tre: 10; Trà Vinh: 06; Vĩnh Long: 08; Đồng Tháp: 08; An
Giang: 11; Cần Thơ: 22; Sóc Trăng: 01; Bạc Liêu: 01; Cà Mau: 01.
9
Hình 2 – Phân bố doanh ngiệp theo vùng lãnh thổ
Phân bố theo lĩnh vực sản xuất: sản xuất sợi: 145 doanh nghiệp; Dệt vải: 401
doanh nghiệp; Nhuộm in hoa và xử lý hoàn tất: 94 doanh nghiệp; May mặc:
1661 doanh nghiệp; các doanh nghiệp phụ trợ và khác: 69 doanh nghiệp
Hình 3 – Phân loại doanh ngiệp theo lĩnh vực sản xuất
1.2 Thực trạng về nguồn nhân lực ngành dệt may
Theo số liệu của Tổng cục thống kê ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện
có tổng số lao động là 901.232 người.
Số doanh nghiệp có lao động trên 5.000 người là 11 doanh nghiệp chiếm tỷ lệ
0,3% tổng số doanh nghiệp;
10

Số doanh nghiệp có lao động trên 3.000 người là 34 doanh nghiệp chiếm tỷ lệ
0,9% tổng số doanh nghiệp;

7,6%

Hình 4 – Cơ cấu lao động theo độ tuổi
Trong tổng số 901.232 người làm việc trong ngành công nghiệp dệt may, tỷ lệ
người có trình độ trên đại học chiếm 0,132% so với toàn bộ lực lượng lao động
của ngành. Tỷ lệ người có trình độ đại học chiếm 2,6%, trong đó người có bằng
kỹ sư dệt may chỉ chiếm tỷ lệ 0,5% toàn bộ lực lượng lao động toàn ngành. Tỷ
lệ
người có trình độ cao đẳng và trung cấp nghề chiếm 5% và công nhân trực
tiếp lao động chiếm 92,32% toàn bộ lực lượng lao động. Tỷ lệ kỹ sư dệt may so
với người có bằng đại học khác: 19,27%.

11

Hình 5 - Về trình độ nguồn nhân lực
Khảo sát cho thấy là sự thiếu hụt lao động có tay nghề cao và lao động
được đào tạo cao (kỹ sư và kỹ thuật viên) gây ra một số vấn đề cho các công ty
dệt may. Kết quả phân tích cho thấy là các công ty có uy tín và qui mô lớn
không phải đối mặt nhiều với sự thiếu hụt lao động có tay nghề cao. Điều này
có thể là một phần các công ty có uy tín mà các lao động có tay nghề cao cảm
nh
ận được. Các giải thích khác có thể liên quan đến qui mô của công ty và lao
động có tay nghề cao thích làm việc ở công ty lớn. Các công ty nằm ở miền
trung bị thiếu lao động có tay nghề cao hơn các nơi khác, nhất là kỹ sư và kỹ
thuật viên cao cấp, trong khi các công ty nằm ở địa bàn Hà Nội và HCM không
có nhiều vấn đề như vậy.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, sở dĩ các doanh nghiệp dệt may lâm
Hình 7 - Đánh giá về việc sử dụng các chuyên gia nước ngoài
Các doanh nghiệp đã mạnh dạn mời các chuyên gia nước ngoài làm việc
cho mình. Trong số các chuyên gia làm việc tại doanh nghiệp, 15% số người
trực tiếp làm công tác quản lý; 25% làm công tác thiết kế mặt hàng, thiết kế
công nghệ theo dõi chất lượng và 36% được sử dụng làm nhà tư vấ
n.
Đánh giá về nguồn nhân lực
- Việt Nam là nước có dân số đông và trẻ trong khu vực và trên thế giới. Số lao
động bước vào lứa tuổi lao động hàng năm là hơn 1,2 triệu người.
Đánh giá về mức độ tuyển và giữ
người lao động
7%
16%
55%
22%
Rất dễ
Dễ
Bình thường
Khó
Đánh giá về sử dụng chuyên gia
nước ngoài vào công việc
15%
25%
36%
24%

- Đội ngũ kỹ sư trẻ do cơ chế thị trường chỉ muốn theo học các ngành công
nghệ thông tin, điện tử, không tha thiết vớ
i dệt may, số lượng sinh viên học
ngành này ngày càng ít đi.
- Đội ngũ cán bộ kỹ sư trẻ mới ra trường vẫn phải đào tạo lại, đào tạo bổ sung
mới đủ năng lực, kinh nghiệm điều hành sản xuất.
14

- Lĩnh vực nhuộm hoàn tất thiếu công nhân có tay nghề, nên hiệu quả khai
thác thiết bị thấp, năng suất không cao, chất lượng không ổn định, không đáp
ứng được yêu cầu của thị trường.
- Thiếu lao động có tay nghề cao trong công nghệ, kỹ thuật, quản lý, sản xuất,
kinh doanh, do đa số trưởng thành từ thực tế.
Theo tính toán của Hiệp hội Dệt May Việt Nam, hiện nay các doanh
nghiệp dệ
t may cả nước cần khoảng 1000 cán bộ thiết kế, 1200 nhân viên
marketting và xúc tiến xuất khẩu, hàng trăm kỹ sư công nghệ dệt-nhuộm-hoá,
nhưng chưa có nguồn lao động cung ứng. Việc thiếu nguồn cung cấp vải chất
lượng cao, nguyên phụ liệu đủ tiêu chuẩn; thiếu cán bộ kỹ thuật, kinh doanh và
thiết kế thời trang giỏi dẫn đến nguồn thu thực tế trong xuất khẩu còn ít, ngành
dệ
t may Việt Nam hiện vẫn ở vị trí gia công cho các đối tác nước ngoài.
Về nănglực đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển ngành dệt may
Trong khi chiến lược phát triển ngành dệt may rất quy mô thì công tác chuẩn bị
nhân lực cho ngành thực hiện được rất hạn chế. Ở cấp đại học, hầu như chưa
quan tâm cập nhật việc đào tạo kỹ sư ngành dệt, may; trình độ cao đẳng và
trung cấ
p mới chỉ có mấy trường của Tập đoàn Dệt May Việt Nam trước đây
được nâng cấp, số lượng đào tạo chưa được nhiều.
Toàn ngành chỉ có 4 trường đào tạo với năng lực đào tạo mỗi năm

Thiết bị kéo sợi được đánh giá có trình độ công nghệ khá, trong đó:
- 20% thiết bị được đầu tư từ các nước có trình độ tiên tiến (Tây Âu và Nhật
Bản) và được đưa vào sử dụng trong vòng 5-6 năm (từ năm 2004 trở lại đây).
- 21% thiết bị đã được sử dụng từ (9-10) năm, được đầu tư từ Tây Âu, Nhật Bản
hoặc Ấn Độ và Trung Quốc. Thiết bị trong tình trạng tương đối tốt, tuy nhiên có
sự chênh lệch lớn trong quản lý công nghệ và khai thác giữa các doanh nghiệp.
- 33% thiết bị đã được sử dụng trên 10
đến 20 năm, chất lượng trung bình
- 26% thiết bị đã được sử dụng trên 20 năm, chất lượng đã xuống cấp nghiêm
trọng cần thay thế.
o Ngành dệt thoi
Theo thống kê có khoảng 401 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt vải,
trong đó có khoảng 15.000 máy dệt kiểu thoi, khoảng 6.800 máy dệt không thoi,

Trích đoạn Thực trạng về thiết bị, trỡnh độ cụng nghệ Kết quả sản xuất kinhdoanh và tỡnh hỡnh xuất nhập khẩ u Cỏc giải phỏp phỏt triển sản xuất nguyờn phụ liệ u
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status