MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hệ thống không gian xanh là một thành phần không thể thiếu của cấu trúc đô
thị, có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người, là bộ phận quan trọng của
hệ sinh thái tự nhiên, có tác dụng lớn trong việc cải tạo khí hậu, bảo vệ môi trường
sinh thái, cũng là yếu tố quan trọng trong việc trang trí và tạo nên chất lượng kiến
trúc cảnh quan đô thị. Từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh nhân loại, cây xanh luôn
giữ vai trò quan trọng về mặt trang trí cảnh quan. Qua các thời kỳ phát triển của xã
hội loài người, đô thị dần dần được hình thành và không ngừng phát triển, cùng với
đó là sự phát triển của hệ thống cây xanh trong các khu đô thị. Đến giữa thế kỷ XX
do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự gia tăng của các
phương tiện giao thông làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm
trọng. Vì vậy, bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ và là yêu cầu hết sức cấp bách
hiện nay.
Con người và cây xanh luôn có mối quan hệ tương hỗ, cây xanh cung cấp cho
chúng ta khí O
2
để thở và hấp thụ khí CO
2
. Vì thế mà cây xanh rất cần thiết và là
một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Trong những năm gần
đây, các nghiên cứu về lâm nghiệp đô thị cho thấy cây xanh đô thị nói chung và cây
xanh đường phố nói riêng có giá trị gấp nhiều lần không chỉ là những vật chất hữu
hình mà còn là vật chất vô hình. Trong đó cây xanh đường phố là một bộ phận trong
hệ thống cây xanh và cảnh quan đô thị cần được coi trọng, hệ thống này mang
những ý nghĩa đặc thù khác với các yếu tố cảnh quan khác ở chỗ, đây là một hệ sinh
thái nhân tạo, có sự sinh trưởng và phát triển, có tác dụng làm sạch môi trường,
giảm nhiệt độ, tiếng ồn, tăng cường sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cư dân,
duy trì các hệ sinh thái, cải thiện tiểu khí hậu Nhờ hệ thống cây xanh trên các
đường phố đã góp phần làm cho bộ mặt của thành phố trở nên sinh động và mang
tính bền vững hơn. Tổ chức dải cây xanh cho các tuyến phố và các không gian xanh
Việc trồng cây xanh đường phố ở thành phố Lào Cai trong những năm qua tuy đã
được quan tâm và tiến hành ngay sau khi tách tỉnh, nhưng còn thiếu quy hoạch, tổ
chức thực hiện còn nhiều bất cập, cây trồng trên đường phố hiện nay chủ yếu là do
người dân tự trồng nên rất lộn xộn, một số chủng loại không phù hợp nên khả năng
phát huy tác dụng kém, chưa tạo được vẻ đẹp mĩ quan đô thị và thiếu tính bền vững.
Mặt khác, việc đánh giá thực trạng cây xanh đường phố để từ đó tìm ra được những
điểm mạnh, điểm yếu, rút ra được bài học kinh nghiệm để đề xuất các giải pháp
phát triển còn chưa được quan tâm, tới nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu
có hệ thống về vấn đề này. Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn đó, đề tài: “Đánh
2
giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển cây xanh đường phố tại thành
phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai” được đặt ra là thực sự cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng, rút ra được ưu, nhược điểm và những bài học
kinh nghiệm trong việc phát triển trồng cây xanh đường phố tại thành phố Lào
Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất được các giải pháp phát triển trồng cây xanh đường phố phù
hợp với yêu cầu phát triển của thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu về hệ thống cây xanh thân gỗ trồng trên các tuyến đường
phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng gây trồng và quản lý cây xanh
đường phố làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển cây xanh đường phố tại thành
phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; đề tài không đánh giá hiệu quả kinh tế của cây xanh
đường phố.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài phân tích và làm rõ được thực trạng gây trồng và quản lý cây xanh
trung cổ. Khi thương mại và giao thông phát triển, cây trồng được chuyển từ nước
này đến nước khác và các vườn thực vật lớn nhỏ bắt đầu xuất hiện. Điều này góp
phần làm gia tăng chủng loại cây trồng, kiến thức về trồng và chăm sóc cây ngày
càng phong phú hơn.
Khái niệm lâm nghiệp đô thị được xây dựng dựa trên một lịch sử hơn 45 năm
và có nguồn gốc từ Bắc Mỹ. Thế nhưng lịch sử trồng cây dọc theo các tuyến đường
đã có từ thế kỉ X trước Công nguyên. Tuyến đường được trồng cây trong giai đoạn
này tuyến đường nối từ Kolkata của Ấn độ đến Afghanistan nằm ở chân dãy
Himalaya, mục đích của việc trồng cây xanh trên tuyến đường này xuất phát vì mục
đích quân sự. Cây trên đường được trồng thành 3 hàng, một hàng chính giữa trung
tâm đường và hai hàng cây hai bên đường. Vào thời kỳ đó đường còn có một tên
gọi khác là đường cây lớn “Grand trunk road” [27]. Sau đó đến khoảng giữa thế kỉ
VIII trước Công nguyên vùng Lưỡng hà (Mesopotania), khi xây dựng cung điện
4
người ta đã trồng các hàng cây Tùng, Cây Bách Italia (Italian crypress) thành hàng
đối xứng dọc theo các tuyến đường trong khu vực cung điện. Đây cũng được xem là
mốc lịch sử trồng cây xanh đường phố của các quốc gia vùng châu Âu [29].
Nowak và Dwyer (2000) đưa ra các mục tiêu phát triển lâm nghiệp đô thị và
kết quả từ việc duy trì một hệ thống cây xanh đến việc tạo lập một thành phố được
tán cây che phủ bởi một tỷ lệ cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định [23]. Trên
cơ sở hoạt động, lâm nghiệp đô thị vẫn còn chủ yếu là chăm sóc, bảo vệ, và thay thế
cây xanh [24].
Ở châu Âu, sau thời kỳ văn nghệ phục hưng, một số quốc gia vùng châu Âu
công tác trồng cây đường phố phát triển khá nhanh. Điển hình là ở nước Pháp, năm
1552 Henri 2 đã từng công bố pháp lệnh trồng cây ngay từ năm 1552, phát động
nhân dân trong cả nước trồng cây trên các tuyến đường chính trong các khu ở và
trồng cây trên các tuyến đường quốc lộ. Cũng trong thời kỳ này Đế chế Áo - Hung
(Austro - hungarian empire) cũng đưa ra kế hoạch trồng cây Ngô đồng Pháp dọc
theo các tuyến đường chính trong cả nước với mục đích là bổ sung nguồn gỗ cung
cấp cho các hoạt động quân sự [15].
quốc Anh. Jorgensen giới thiệu các khái niệm về lâm nghiệp đô thị tại Đại học
Toronto, Canada vào năm 1965 [22] “Lâm nghiệp đô thị không chỉ liên quan đến
cây xanh thành phố hay quản lý cây cá thể, mà còn quản lý cây xanh trong toàn bộ
khu vực chịu ảnh hưởng và sử dụng bởi cư dân đô thị”.
Anh Quốc là một trong những quốc gia từ thủa sơ khai đã có nhiều đóng góp
cho nhân loại về các vấn đề có liên quan tới cây xanh độ thị. Jame Lyte (1578)
trong cuốn Dodens đã sử dụng thuật ngữ “Nhà trồng cây” (Chadwich, 1970). Năm
1618, William Lawson đã viết khá chi tiết về chăm sóc cây đô thị trong cuốn sách
“Vườn và vườn giống mới”. John Evelyn, năm 1662 đã đề cập đến tất cả các lãnh
vực cây trồng (cây ăn trái, cây lâm nghiệp) trong một cuốn sách có tên là Sylva
((Eve, 1970). Trong cuốn sách này ông chú trọng đến việc nghiên cứu cây trồng
đường phố, cây cảnh. Như vậy, từ thế kỷ 17, 18 đã có nhiều nghiên cứu và sách viết
về cây xanh trên nhiều lĩnh vực như: trồng, chăm sóc và phát triển nó ở các đô thị
Châu Âu. Đầu thế kỷ 19, nhiều không gian xanh được hình thành xung quanh các
khu nhà ở đô thị, hình thành các khu cư trú tiện nghi và yên tĩnh (Zube, 1973) (dẫn
theo Trần Viết Mỹ, 2001) [8]. Cây xanh trong thời kỳ này là một trong các yếu tố
kiến trúc, cảnh quan và cũng chỉ giới hạn ở nội đô, nơi tập trung dân cư đông đúc
mà chưa gắn được với hệ thống công viên, rừng ở ngoại vi. Đến cuối thế kỷ 19, dân
cư đô thị ngày càng đông đúc hơn và phạm vi cư trú không còn giới hạn ở nội đô
mà được mở rộng ra ngoại vi, đô thị ngày càng phát triển. Nhu cầu nghỉ ngơi giải trí
cho cư dân đô thị ngày càng tăng cao, điều này đòi hỏi các nhà quản lý đô thị phải
tính đến việc xây dựng thêm nhiều mảng xanh hơn, không những chỉ ở nội đô - nơi
6
đất chật người đông, mà phải mở rộng ra ngoại vi - nơi đất đai còn nhiều. Đến giữa
thập niên 60 của thế kỷ 20, việc thống nhất quan niệm về sự quản lý cây xanh nội
đô và hệ thống ngoại vi vẫn chưa được thừa nhận, phải đến những năm cuối thập
niên 70, đầu những năm 80, khi khái niệm mảng xanh đô thị, lâm nghiệp đô thị đã
được thừa nhận thì các công trình liên quan đến cây xanh đô thị trên thế giới ở
nhiều khía cạnh khác nhau mới được quan tâm.
Ở Mỹ, theo Nowak (1994) đưa ra rằng diện tích phủ xanh ở Mỹ trải từ 55% ở
vai trò của cây xanh trong điều hòa khí hậu, ngăn cản gió, hạn chế tiếng ồn,… đã
được nhiều nhà khoa học như: Rowntree và Nowal (1991) [28]; Heisler (1986,
1989) [20], [21],… đề cập tới.
Tuy nhiên, một số tác giả không dừng lại ở các nghiên cứu riêng lẻ về cây
xanh đô thị mà nghiên cứu rất tổng hợp từ khâu chọn loài cây trồng, môi trường đô
thị đến lợi ích kinh tế, quản lý cây xanh đô thị,… (Grey G.W và Deneke F.J, 1978)
[19]. Một số tác giả khác như Rowntree R.A và Nowal D.J (1991) [28] hoặc
Bouvarel P. (1989) [16] đã nghiên cứu vai trò của cây xanh đô thị trong việc giảm
lượng C0
2
do con người thải ra trong quá trình sinh hoạt và sản xuất đã góp phần
xác định hiệu quả của việc trồng cây xanh đô thị phục vụ cho việc cân bằng nhu cầu
sinh thái trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu hiện nay.
Từ các công trình nghiên cứu về vai trò của cây xanh đường phố của các tác
giả đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện tiểu khí hậu, ngày nay chúng
ta đã có một cái nhìn tương đối đầy đủ về vai trò của cây xanh trong việc:
1) Điều hòa nhiệt độ: Ở các vùng đô thị có xu hướng nóng hơn vùng ngoại ô
xung quanh trung bình 0,5 - 1,5
0
C (Federer, 1970) hoặc 3 - 5
0
C (Moll, 1991) (dẫn
theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) [13].
2) Ngăn chặn gió và sự di chuyển của không khí: Những hàng cây xanh đường
phố vuông góc với hướng gió chính có thể làm giảm tốc độ gió từ 2 - 5 lần chiều
cao của cây cao nhất ở phía trước hàng cây [14].
3) Tăng độ ẩm, tác động tích cực vào chu kỳ tuần hoàn nước: Vào mùa hè trên
các đường phố có cây xanh, ở công viên, vườn thực vật,… độ ẩm tương đối thường
cao hơn những nơi bên ngoài khoảng trống từ 7 - 12%, đôi khi lên đến 20%, tăng
dần từ trên xuống [14].
x
, Cl
2
, HCl, CO, SO
x
và hơi
Hg, Pb…. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh, trong một phạm vi nồng độ
nhất định, thực vật có tác dụng hấp thu và làm sạch nhất định đối với các loại khí
độc hại nói trên (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Thu) [14].
7) Hấp thu các chất có tính phóng xạ: Căn cứ thử nghiệm của các nhà khoa
học Mỹ, khi sử dụng hỗn hợp bức xạ Nơtron và tia gama với liều lượng khác nhau
chiếu xạ lên 5 khoảnh rừng, đã phát hiện ra rằng khi liều lượng dưới 15 Gy (Gray-
đơn vị phóng xạ) cây rừng có thể hấp thu mà không ảnh hưởng đến phát triển của
cành nhánh (dẫn theo Nguyễn Thị Bích Thu) [14].
8) Hút giữ bụi: Nhiều thành phố công nghiệp, mỗi một km
2
mỗi năm lượng bụi
bình quân vào khoảng 500 tấn, những thành phố tập chung nhiều nhà mày xí nghiệp
lượng bụi lắng đọng thậm chí còn có thể lên tới trên 1000 tấn. Ở những khu công
nghiệp nồng độ bụi lơ lửng trong không khí ở khu vực có trồng cây xanh so với khu
đối chứng không trồng cây xanh thì hàm lượng bụi ở khu vực có trồng cây xanh
thấp hơn khu không trồng cây xanh từ 10% - 50%.
9) Cây gỗ có tác dụng giảm bớt lượng vi khuẩn trong không khí: Theo quan
trắc của Pháp, mỗi m
3
không khí ở khu vực của hàng bách hoá có chứa 4000.000
con vi khuẩn, trong khi đó mỗi m
3
trong công viên chỉ có khoảng 100 con. Có
những nghiên cứu, theo dõi chứng minh rằng nhiều loài thực vật trong họ
1.2. Nghiên cứu về cây xanh đường phố ở Việt Nam
Ở Việt Nam công tác phát triển cây xanh đô thị hiện đã được các cấp, các
ngành đặc biệt quan tâm. Diện tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số
lượng và chất lượng, cây trồng đặc biệt ở các đường phố lớn ngày càng đa dạng và
phong phú.
Từ sau ngày miền Bắc được giải phóng, công tác trồng cây làm xanh tươi lại
đất nước đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và đặc biệt Hồ Chủ Tịch hết sức
10
quan tâm. Đảng và Chính phủ đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị vạch ra phương hướng
và nhiệm vụ cho công tác trồng cây, gây rừng thực hiện việc trồng cây trong cả
nước. Trong hoàn cảnh đất nước trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của
giặc Mỹ, công tác cải tạo và xây dựng đô thị bị đình đốn, công tác cây xanh không
phát triển. Nơi nào nhận thức được lợi ích của cây xanh đô thị và quan tâm chỉ đạo
thì phong trào trồng cây đường phố, bảo vệ cây và các công viên, vườn hoa làm tốt,
điển hình là Hà Nội, Hải Phòng. Nhiều nơi công tác cây xanh không được chú ý,
không có tổ chức chuyên trách, thiếu kế hoạch ươm và trồng cây. Nhiều nơi đã
trồng cây một cách tuỳ tiện và cây trồng không đúng tiêu chuẩn quy phạm xây dựng
đô thị đã làm hư hỏng nhà cửa và các hệ thống công trình ngầm, hạn chế ánh sáng
và gió mát. Nhưng từ những nỗ lự ban đầu đó, kết quả đã trồng được nhiều cây
bóng mát, cây phong cảnh cho đường phố, khu nhà ở, những nơi sinh hoạt văn hoá
công cộng. Trồng được những đai cây xanh ở ngoại ô có tác dụng phòng hộ cho
thành phố, diện tích cây xanh đô thị được tăng lên gấp từ 3 đến 5 lần so với thời
gian trước khi miền Bắc giải phóng.
Tại Hà Nội phần lớn cây xanh trên đường phố, công viên và trong các vườn
Bách thảo được người Pháp trồng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Như có
hơn 1.400 cây Sấu cổ thụ, trồng ở khắp nơi trong thành phố và nhiều nhất ở phố
Phan Đình Phùng được người Pháp trồng vào cuối thế kỷ XIX. Ở phố Lò Đúc, con
phố duy nhất trồng Sao đen ở Hà Nội đầu thế kỷ XX. Hồ Gươm trước đây khá rộng,
nhà dân ở ra sát mép hồ. Tháng 11năm 1885 giải tỏa các hộ dân sống xung quanh
hồ và khởi công đổ đất cạp hố, cho san lấp những vùng trũng thấp. Đến đầu năm
2
cây
xanh/người.
Như vậy, vấn đề về phát triển cây xanh đường phố ở Việt Nam có lịch sử hơn
100 năm và nay nó được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây.
- Chỉ thị 45-TTg năm 1974 Về công tác trồng cây xanh ở các đô thị do Thủ
tướng Chính phủ ban hành [3].
- TCVN4449:1987. Quy hoạch xây dựng đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế [12].
- Tập I - Quy chuẩn xây dựng Việt Nam: Nghị định 08/2005 về Quy hoạch
Xây dựng [9].
- Luật quy hoạch đô thị “điều 68” Quản lý cây xanh, công viên, cảnh quan tự
nhiên và mặt nước [11].
- Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 01/QĐ-BXD ngày 05 tháng 01
năm 2006 về TCVN 362 : 2005 - “Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong
các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế” quy định các chỉ tiêu diện tích cây xanh sử dụng
công cộng trong các đô thị và các nguyên tắc thiết kế, được đã xác định cây xanh
12
trong đô thị bao gồm: cây xanh công cộng, cây xanh sử dụng hạn chế, cây xanh
chuyên dụng [2].
- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ
về “quản lý cây xanh đô thị”, theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý cây xanh đô
thị, có phân công, phân cấp trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nhà nước có
trách nhiệm đầu tư, phát triển cây xanh đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích cộng
đồng; khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân tham gia quy
hoạch, trồng, chăm sóc, ươm cây, bảo vệ cây xanh đô thị.
- Thông tư của Bộ xây dựng số 20/2005/TT-BXD ngày 20 tháng 12 năm 2005
hướng dẫn quản lý cây xanh độ thị [10].
Từ việc xác định rõ vai trò quan trọng của cây xanh đô thị nói chung và cây
xanh đường phố nói riêng nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy
hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến
không đồng nhất cho từng địa bàn.
Nghiên cứu của tác giả Trần Viết Mỹ (2001) [8] đã cho thấy mức độ ô nhiễm
môi trường thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là ở
khu vực nội thành. Đến năm 2010, các hoạt động sản xuất, giao thông, sinh hoạt sẽ
thải vào bầu khí quyển thành phố hơn 5.000 tấn bụi và bụi chì, 2.850.000 tấn CO
2
và khí thải khác, tiếng ồn vào giờ cao điểm lên đến 90 - 91dB. Để đảm bảo cân
bằng sinh thái, điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường, về số lượng thành phố cần
15.000 - 18.000 ha diện tích xanh, trong đó nội thành cần 7.500 ha, nội thành mở
rộng cần 4.100 - 5.500 ha. Tác giả đã dựa vào hiện trạng, dự báo tổng lượng khí thải
đến năm 2010 và khả năng hấp thụ các chất này của cây xanh tính toán nhu cầu diện
tích xanh bình quân đầu người nội thành là 25 m
2
/người, tỷ lệ che phủ 53,5 - 54,0%,
nhưng tiềm năng quỹ đất tối đa chỉ có thể giải quyết 10,2 m
2
/người và tỷ lệ che phủ
21,9%; nội thành mở rộng 18,5 - 20 m
2
/người; tỷ lệ che phủ 13,9 - 18,4% nhưng
tiềm năng quỹ đất tối đa có thể giải quyết đến 56,6 m
2
/người và tỉ lệ che phủ 41,0%;
diện tích khuôn viên đạt 3180 - 3680 ha. Bên cạnh đó, dựa vào đặc điểm sinh học
loài cây và sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal tác giả đã bước đầu sắp xếp lại các
loài cây trồng hiện hữu ở thành phố Hồ Chí Minh theo từng nhóm phù hợp với từng
khu vực cụ thể (đường phố, vườn hoa công viên, trường học, công sở, bệnh viện,
đình chùa,…) và bổ sung thêm 22 loài cây trồng mới dự kiến dẫn nhập từ rừng và
nhập nội để làm phong phú thêm tập đoàn cây trồng đô thị, đồng thời đưa ra khuyến
cáo không nên trồng một số loài cây làm cảnh quan đô thị.
m
2
/người (Nha Trang: 4,7 m
2
/người; Nam Định: 3,13 m
2
/người).
- Các đô thị loại III và IV như thị xã Vĩnh Yên, thành phố Bắc Giang, thị xã
Bến Tre tỷ lệ diện tích đất xanh trung bình khoảng 4,3 m
2
/người.
- Các đô thị loại V tỷ lệ này rất thấp hầu như không đáng kể [1].
Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước Việt Nam đã
cho thấy nhiệt độ không khí trong vùng có cây xanh thấp hơn những nơi không có
cây xanh. Ở vườn Bách Thảo Hà Nội, nhiệt độ nơi không có cây là 32,3
0
C, dưới tán
cây là 28,29
0
C. Nhiệt độ trên mặt đường nhựa là 39,5
0
C và dưới tán cây bóng mát là
34,3
0
C. Lượng bụi trung bình khu vực không có cây xanh là 0,9 mg/m
3
, dưới tán
cây gỗ là 0,52 mg/m
3
không khí. Như vậy, cây xanh có khả năng làm giảm lượng
thuật trồng, cơ chế hưởng lợi ích từ cây trồng phân tán, chính sách phát triển cây
trồng phân tán,…Nghiên cứu về cây xanh đường phố ở nước ta còn khá mới mẻ,
các công trình nghiên cứu còn rất ít, phạm vi nghiên cứu còn hẹp, tản mạn và chưa
có hệ thống; hiệu quả ứng dụng trong quy hoạch, thiết kế cải tạo cây xanh chưa cao,
chưa đưa ra được các giải pháp đồng bộ cho việc phát triển cây xanh đường phố.
Ở thành phố Lào Cai trong những năm qua cây xanh đường phố cũng được
phát triển cùng với quá trình mở rộng thành phố, đã góp phần cung cấp các giá trị
dịch vụ môi trường, cảnh quan cho thành phố. Mặc dù vậy, việc quản lý và phát
triển cây xanh đô thị ở đây vẫn còn nhiều bất cập, từ việc quy hoạch, chọn loài cây,
thiết kế, trồng và chăm sóc cây xanh,… gây ảnh hưởng không nhỏ đến mỹ quan
thành phố và môi trường sống của người dân đô thị.
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
16
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thành phần loài cây xanh đường phố và các biện pháp kỹ thuật đã
áp dụng tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá tình trưởng và chất lượng cây xanh đường phố tại thành phố Lào
Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá công tác tổ chức, quản lý cây xanh đường phố tại thành phố Lào
Cai, tỉnh Lào Cai.
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm
trong quản lý và phát triển cây xanh đường phố tại thành phố Lào Cai.
- Đề xuất các giải pháp phát triển cây đường phố tại thành phố Lào Cai, tỉnh
Lào Cai.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp luận
Thực vật nói chung và thực vật thân gỗ nói riêng khi tồn tại ngoài tự nhiên đều
phải hình thành đặc điểm thích nghi với môi trường sống để có thể tồn tại và phát
triển, đặc điểm thích nghi của loài được thể hiện thông qua tỷ lệ sống, khả năng sinh
khu vực nghiên cứu
Điều tra thành phần
loài cây và các biện
pháp kỹ thuật đã áp
dụng trên địa bàn
nghiên cứu
Sinh trưởng và chất
lượng cây xanh
đường phố trên địa
bàn nghiên cứu
Đánh giá công tác tổ
chức quản lý cây
xanh đường phố
trên địa bàn nghiên
cứu
Phân tích SWOT và bài
học kinh nghiệm
Đề xuất các giải pháp
phát triển
Đánh giá cây xanh
đường phố
- Đề tài kế thừa các thông tin, tài liệu, số liệu, công trình nghiên cứu đã công
bố có liên quan tới phát triển cây xanh đô thị trên thế giới và ở Việt Nam.
- Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn thành
phố Lào Cai.
- Kế thừa các báo cáo, cơ sở dữ liệu về công tác quản lý và phát triển cây xanh
đường phố của Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị tỉnh Lào Cai.
- Các thông tin, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, của Bộ và của
UBND tỉnh Lào Cai về thiết kế, quy hoạch trồng cây xanh đô thị.
2.2.2.2. Phương pháp điều tra, đánh giá cụ thể
+ Đường phố rộng: Là tuyến đường phố có tổng bề rộng của lòng đường, vỉa
hè và dải phân cách từ > 24 m. Tổng số điều tra 10 phố.
Các tuyến đường phố điều tra được lựa chọn bao gồm cả các tuyến đường phố
cũ và đường phố mới. Trong 30 tuyến đường phố điều tra có 22 đường phố cũ và 8
đường phố mới.
Trên mỗi tuyến đường phố, tiến hành điều tra các thông tin sau:
- Tên phố điều tra.
- Mô tả đặc điểm đường phố.
- Loài cây trồng trên đường phố.
- Đặc điểm cây trồng đường phố.
- Tình hình quản lý cây xanh đường phố.
Chi tiết, xem từ phụ biểu 2 đến phụ biểu 31.
Danh sách các tuyến đường phố đã điều tra được trình bày ở bảng 2.1.
20
Bảng 2.1. Danh sách các tuyến đường phố điều tra cây xanh
Đường phố rộng Đường phố trung bình Đường phố hẹp
Tên đường
phố
Rộng mặt
đường, vỉa
hè và dải
phân cách
(m)
Tên
đường phố
Rộng mặt
đường, vỉa
hè và dải
phân cách
(m)
(B2) 25
15. Lương
Khánh Thiện 18
25. Ngô Văn
Sở 12
6. Mỏ Sinh
(B6) 25
16. Nguyễn
Đức Cảnh 18
26. Mường
Than 12
7. Châu úy
(B3) 25
17. Minh
Khai 18
27. Nguyễn
Tri Phương 12
8. Lùng
Thàng (B4) 25
18. Lê Quý
Đôn 16,5
28. Tôn Thất
Thuyết 12
9. Cốc Sa
(B4a)
25
19. Ngô
Quyền 16,5 29. Nậm Thi 12
10. Hoàng
Liên 28
3 Sao đen 16
4 Phượng vĩ 17
5 Bằng lăng tím 15
6 Long não 14
7 Muồng đen 16
8 Muồng hoàng yến 15
9 Hoa sữa 14
10 Ngọc lan 14
11 Xà cừ 8
12 Dầu nước 7
Đề tài tiến hành đánh giá chất lượng sinh trưởng của 12 loài cây trồng chủ
yếu ở thành phố Lào Cai theo 3 cấp sinh trưởng: Tốt, trung bình, xấu.
- Cây tốt: Là những cây sinh trưởng khỏe mạnh, thân thẳng, cân đối, tròn đều,
tán lá cân đối không bị sâu bệnh.
- Cây trung bình: Là những cây sinh trưởng bình thường, tán nhỏ hoặc hơi
lệch, phân cành sớm.
- Cây xấu: Là những cây thân cong queo, tán lệch, bị sâu bệnh.
Sau khi đánh giá về thành phần loài cây trồng, sinh trưởng, chất lượng cây
trồng,…đề tài tiến hành đánh giá khả năng đáp ứng cảnh quan môi trường của cây
xanh đường phố theo các tiêu chí sau:
- Khả năng phù hợp về điều kiện sinh thái: Thông qua đánh giá sinh trưởng, chất
lượng cây trồng, sự phù hợp về nhu cầu sinh thái của loài cây với lập địa trồng,
- Khả năng đáp ứng yêu cầu cảnh quan được đánh giá dựa trên 2 tiêu chí:
+ Khả năng đáp ứng yêu cầu cảnh quan của bản thân loài: Loài được chọn để
trồng cây xanh đường phố phù hợp phải là những loài cây thường xanh, có hoa quả
đẹp, cây có hình dáng đẹp,…
22
+ Khả năng đáp ứng cảnh quan của cách thiết kế, bố trí loài cây: Đánh giá
mức độ phù hợp về cảnh quan của cách bố trí, thiết kế loài cây xanh đường phố.
- Khả năng đáp ứng yêu cầu về môi trường: Cây xanh đường phố đáp ứng tốt
- Xử lý các số liệu điều tra phỏng vấn, thu thập thông tin bằng phương pháp
phân tích xã hội học.
- Sử dụng ma trận SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để phân
tích và đánh giá vấn đề. Việc lập một ma trận SWOT bao gồm các bước như sau:
1) Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong.
2) Liệt kê các điểm yếu bên trong.
3) Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài.
4) Liệt kê các thách thức (các đe dọa) quan trọng bên ngoài.
5) Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả chiến
lược SO vào ma trận.
6) Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến
lược WO vào ma trận.
7) Kết hợp điểm mạnh bên trong với thách thức (mối đe dọa) bên ngoài và ghi
kết quả của chiến lược ST.
8) Kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của
chiến lược WT vào ma trận.
Mục đích kết hợp trong 4 bước cuối cùng là để đề ra các chiến lược khả thi có
thể chọn để thực hiện.
- Một số phần mềm chuyên môn sẽ được sử dụng để phân tích các số liệu trên
như: SPSS, Excel.
- Các kết quả phân tích trên sẽ được tổng hợp để đưa ra những đề xuất, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác trồng cây xanh đường phố tại thành phố
Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Chương 3
TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
24
Thành phố Lào Cai là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Lào
Cai; có cửa khẩu quốc tế nối liền với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Là thành phố
- Đất mùn vàng đỏ trên núi cao (HF) diện tích: 5.436ha, chiếm 23,6% tổng
diện tích.
- Đất Feralít đỏ vàng trên núi thấp và trung bình (F) diện tích: 4.480ha, chiếm
19,5% tổng diện tích.
- Đất Feralít đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FL) diện tích: 6.676ha, chiếm
29% tổng diện tích.
- Đất thung lũng và sản phẩm dốc tụ (D) diện tích: 2.323,2ha, chiếm 10,2%
tổng diện tích.
3.1.4. Khí hậu
25