đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo vệ rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng ở xã đồng rui huyện tiên yên tỉnh quảng ninh - Pdf 14

Luận văn tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) luôn gắn với cuộc sống của loài người đã
từ rất lâu. Mỗi loại tài nguyên đều có những giá trị kinh tế, xã hội hay giá trị môi
trường nhất định. Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái (HST) đa dạng có
nhiều tài nguyên quí giá và có vai trò quan trọng, đóng góp cho đời sống con
người, đặc biệt là cư dân vùng cửa sông ven biển. RNM cung cấp gỗ củi, tanin,
các loài cây làm thuốc. Các loài động vật trong RNM cho thịt và nhiều nguồn lợi
thuỷ sản. RNM có vai trò vận chuyển chất hữu cơ đến chuỗi thức ăn ven biển,
ổn định vật lý đối với bờ biển như chống xói mòn, sạt lở, bảo vệ các vùng nội
địa khỏi sự phá hoại của bão gió và sóng biển và có tác dụng như những bồn
chứa dĩnh dưỡng và cácbon. RNM cũng là tài nguyên du lịch sinh thái đầy tiềm
năng. Tuy nhiên do phương thức quản lý và sử dụng chưa thật hiệu quả, RNM
hiện nay đang chịu nhiều sức ép, đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những cố gắng đáng
khích lệ trong công tác quản lý bảo vệ TNTN cũng như RNM. Mục tiêu cuối
cùng của công tác này là bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên, đồng thời
đáp ứng được nguyện vọng và nhu cầu của con người hướng tới phát triển bền
vững. Bởi vậy, việc tham gia vào quá trình quy hoạch quản lý và khai thác sử
dụng tài nguyên của các cộng đồng có liên quan là khâu then chốt. Đó cũng
chính là phương thức quản lý TNTN dựa vào cộng đồng (Community based
conservation management - CBCM).
RNM ở xã Đồng Rui huyện Tiên Yên (cửa sông Ba Chẽ), tỉnh Quảng
Ninh là một HST đặc thù, nhạy cảm, có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao và
đang chịu nhiều áp lực do đói nghèo, do phát triển kinh tế - xã hội. Xã Đồng Rui
bao gồm 4 thôn (thôn Trung, thôn Thượng, thôn Hạ và thôn Bốn) với tổng diện
tích tự nhiên là 4.955,17 ha, trong đó có 1.456,9 ha RNM tự nhiên và 125 ha
rừng trồng, thu nhập từ đánh bắt hải sản và nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) chiếm
trên 1/2 tổng thu nhập của xã. Tuy nhiên những năm gần đây, sản lượng đánh
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
1

1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Ðông Bắc Việt Nam, trải từ từ 20
o
đến 21
o
44 vĩ độ Bắc và từ 106
o
sang 108
o
kinh độ Đông. Chiều ngang từ đông
sang tây khoảng dài nhất là 195 km; chiều dọc từ Bắc xuống Nam khoảng dài
nhất là 102 km. Về địa giới, Bắc giáp Lạng Sơn (dài 58 km), giáp Quảng Tây,
Trung Quốc (dài 132 km), Tây giáp Bắc Giang, Bắc Ninh (dài 71 km), Hải
Phòng (78 km), Hải Dương (21 km); phía Nam và Đông là biển Ðông với bờ
biển dài 250 km (Hình 1).
Hình 1: Địa phận hành chính Tỉnh Quảng Ninh
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
3
Đồng
Rui
Luận văn tốt nghiệp
1.1.1.2.Địa hình
Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải với hơn hai nghìn hòn đảo nổi
trên mặt biển. Diện tích đất Quảng Ninh có trên 80% đất đồi núi được chia thành
các kiểu địa hình sau đây:
Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình
Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập
Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là Đông Bắc - Tây Nam

o
C.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm 82%. Lượng mưa hàng năm vào khoảng
1.700-2.400 mm, số ngày mưa hàng năm từ 90-170 ngày. Mưa tập trung nhiều
vào mùa hạ (hơn 85%) nhất là các tháng 7 và 8. Mùa đông chỉ có lượng mưa
khoảng 150 đến 400 mm.
So với các tỉnh ở miền Bắc Bộ, Quảng Ninh chịu ảnh hưởng gió mùa
đông bắc mạnh hơn. Gió thổi mạnh và so với các nơi cùng vĩ độ thường lạnh
hơn từ 1
o
C- 3
o
C. Trong những ngày gió mùa đông bắc, ở vùng núi cao Bình
Liêu, Hải Hà, nhiệt độ có khi xuống dưới 0
o
C. Quảng Ninh cũng chịu ảnh hưởng
lớn của bão tố. Bão thường đến sớm vào các tháng 6, 7 và 8.
Tuy nhiên địa hình kéo dài lại bị chia cắt mạnh nên ở Móng Cái thường
có nhiệt độ thấp hơn nhưng lượng mưa lại cao hơn so với các vùng khác trong
tỉnh (nhiệt độ trung bình hàng năm là 22
o
C, lượng mưa trung bình năm tới 2.751
mm). Trong khi ở huyện Yên Hưng, nhiệt độ trung bình năm là 24
o
C, lượng
mưa trung bình năm là 1.700 mm. Vùng núi cao của Hoành Bồ, Ba Chẽ, khí hậu
khắc nghiệt, mỗi năm thường có 20 ngày sương muối và lượng mưa hàng năm
thấp. Miền vùng núi Bình Liêu có mưa lớn (2.400 mm) và mùa đông kéo dài tới
6 tháng. Vùng hải đảo có lượng mưa thấp, chỉ từ 1.700 đến 1.800 mm/năm, và
nhiều sương mù về mùa đông.

− Đất chuyên dùng: 25.289 ha (chiếm 4,29% diện tích tự nhiên);
− Đất ở nông thôn và đô thị: 6.634 ha (chiếm 473,57% diện tích tự
nhiên).
Quỹ đất chưa sử dụng còn nhiều, trong đó tiềm năng sử dụng vào mục
đích nông, lâm, ngư nghiệp còn rất lớn có thể khai thác 173,087 ha đất chưa sử
dụng vào mục đích sản xuất (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2004):
−Sản xuất nông nghiệp: 20.672 ha (chiếm 11,94% diện tích tự nhiên);
−NTTS: 23.369 ha (chiếm 13,50% diện tích tự nhiên);
−NTTS kết hợp với trồng trọt: 247 ha (chiếm 0,14% diện tích tự nhiên);
−Sản xuất lâm nghiệp: 128.779 ha (chiếm 74,40% diện tích tự nhiên).
Diện tích RNM trước năm 1970 là 39.777 ha, đến năm 2006 chỉ còn
17.682,55 ha. Nguyên nhân suy giảm là do phá RNM để làm đầm nuôi tôm;
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
6
Luận văn tốt nghiệp
khoanh vùng lấn chiếm biển để sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp; phá RNM để
làm đồng muối; đô thị hoá.
b. Tài nguyên nước
Quảng Ninh có địa hình phức tạp, đồng bằng nhỏ hẹp, sông suối có độ
dốc lớn, ngắn, đổ trực tiếp ra biển.
Toàn tỉnh chia làm 4 lưu vực sông:
− Lưu vực sông Man, sông Trới, sông Diễn Vọng: gồm Hoành Bồ,
thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả.
− Lưu vực sông Đá Bạch: gồm các huyện Đông Triều, Uông Bí, Yên
Hưng
− Lưu vực sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên: gồm Ba Chẽ, Đầm Hà, Hải Hà.
Nguồn nước mặt: Mạng lưới sông ngòi gồm 30 sông lớn có chiều dài >
10 km (Kalong, Tiên Yên, Đá Bạch). Tiềm năng nước mạch phong phú có thể
đáp ứng được nền kinh tế trong tương lai.
Nguồn nước ngầm: Trữ lượng nước dưới đất 562 triệu m

Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp 433.224 ha bao gồm 3 loại:
216.888 ha rừng sản xuất, 187.275 ha rừng phòng hộ và 29.061 ha rừng đặc
dụng.
Về rừng tự nhiên: Tổng diện tích là 140.000 ha với tài nguyên thực vật
phong phú, hệ thực vật Quảng Ninh chịu ảnh hưởng của hệ thực vật Hoa Nam
và nằm trong vùng di cự thực vật Đông Nam Trung Quốc, có khoaảng 250 loài
thuộc 80 họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó nhiều loài thực vật quý hiếm cần
được bảo vệ.
Về rừng trồng: Quảng Ninh là tỉnh có truyền thống và nhiều kinh nghiệm
trong phát triển rừng. Tổng diện tích rừng trồng là 100.000 ha.
Tổng diện tích RNM là 18.645,88 ha (gồm 13.637,6 ha hỗn giao va
6.008,28 ha thuần loài, rừng tự nhiên chiếm 92,2%, rừng trồng chỉ chiếm 1,8%).
e. Tài nguyên biển
Quảng Ninh có chiều dài bờ biển 250 km, có 2077 đảo lớn nhỏ tạo ra
nhiều vùng sinh thái biển khác nhau. Sinh vật biển phong phú, đa dạng, tiềm
năng khai thác lớn.
Động vật không xương sống phát hiện có 169 loài, 111 giống, 70 họ,
trong đó có 100 loài động vật thân mềm (59,18%), 40 loài giáp xác (23,67%), 23
loài giun nhiều tơ (13,60%), 6 loài da gai, hải quỳ (3,55%).
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
8
Luận văn tốt nghiệp
Thực vật biển có 26 loài phổ biến là trang, sú, mắm biển, vẹt dù, đước vòi
và một số loài sống ở vùng nươc lợ.
Khu hệ cá rất phong phú.
1.1.2 Đặc điểm xã hội
1.1.1.7. Dân số và lao động
a. Dân số
Dân số Quảng Ninh năm 2003 là 1.058.752 người, chiếm 1,31% dân số cả
nước (Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh , 2003).

quân cả nước, là điều kiện rất thuận lợi cho việc đào tạo ngành nghề và tiếp thu
nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật
b. Lao động
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
9
Luận văn tốt nghiệp
Nguồn lao động ở Quảng Ninh rất dồi dào. Năm 2003 có 644,8 nghìn
người, chiếm 61,3% so với dân số của tỉnh. Số lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật chiếm trên 25% là tỷ lệ cao so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng (chỉ
sau Hà Nội) là lợi thế lớn của Quảng Ninh. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu phát
triển nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới đòi hỏi
phải khẩn trương đào tạo mới và đào tạo lại một đội ngũ lao động kỹ thuật trong
tỉnh.
Dự báo năm 2010 dân số của tỉnh nếu tính cả tăng cơ học có khoảng
1.500 nghìn người và năm 2020 khoảng 1.800 nghìn người. Dân số trong độ tuổi
lao động đến năm 2010 khoảng 713,8 nghìn người và đến năm 2020 có khoảng
780 nghìn người, tăng thêm trong thời kỳ 2003-2010 khoảng 69 nghìn người,
thời kỳ 2011-2020 tăng ít hơn, khoảng 64 nghìn người.
Nguồn lao động tăng thêm là lực lượng lao động dồi dào, bổ sung cho các
ngành kinh tế của tỉnh, song cũng đặt ra vấn đề cần giải quyết việc làm và đào
tạo cho lực lượng lao động tăng thêm này để đáp ứng với công cuộc phát triển
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
1.1.1.8. Dân tộc
Quảng Ninh có 21 thành phần dân tộc khác nhau, song chỉ có 6 dân tộc có
dân số từ trên một nghìn người. Bao gồm Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán
Chỉ, Hoa. Tiếp đến là hai dân tộc có dân số từ trên một trăm người là Nùng và
Mường. Mười bốn dân tộc còn lại có số dân dưới 100 người gồm Thái, Kh'mer,
Hrê, Hmông, Êđê, Cờ Tu, Gia Rai, Ngái, Xu Đăng, Cơ Ho, Hà Nhì, Lào, Pup
cô. Đây là những người gốc các dân tộc thiểu số từ rất xa như từ Tây Nguyên
theo chồng, theo vợ là người Việt (Kinh) hoặc người các dân tộc khác về đây

dự án làm sân bay tại đảo Kế Bào huyện Vân Đồn
b. Cảng biển và các dịch vụ cảng biển
Quảng Ninh có bờ biển dài, nhiều khu vực kín gió, nước sâu, ít lắng đọng
để phát triển cảng biển. Đặc biệt Cái Lân và Cửa Ông là hai khu vực nằm trong
vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, được các dãy núi đá vôi bao quanh chắn sóng,
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
11
Luận văn tốt nghiệp
gió. Luồng tàu hiện tại đã có thể cho phép tiếp nhận các tàu có trọng tải hàng
vạn tấn ra, vào nhận, trả hàng hoá.
1.1.1.10.Phát triển kinh tế
a. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội:
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của Quảng Ninh giai đoạn
2000 - 2010 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 988/TTg ngày
30/12/1996 với mục tiêu khai thác mọi tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý và các
nguồn tài nguyên để xây dựng tỉnh Quảng Ninh phát triển nhanh, ổn định, bền
vững; đưa tỉnh trở thành một trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du
lịch và là một trong những "cửa mở" lớn của phía Bắc để cùng với một số tỉnh,
thành phố khác hợp thành khu kinh tế trong điểm thúc đẩy sự phát triển của
vùng và phát triển chung của cả nước.
b. Một số mục tiêu chủ yếu giai đoạn 2000 - 2010
Nhịp độ tăng trưởng GDP hàng năm từ 11,5% - 12%. Trong đó, công
nghiệp, xây dựng tăng từ 13 - 14%/năm, nông-lâm-ngư nghiệp tăng 5%/năm, du
lịch-dịch vụ tăng 13%/năm.
Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 18 -20%. Tổng thu ngân
sách tăng bình quân hàng năm 10-12%. Có sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế
của tỉnh; đến năm 2000, tỷ trọng công nghiệp chiếm 38%, nông-lâm-ngư nghiệp
14%, du lịch-dịch vụ 48% trong tổng GDP của tỉnh.
1.2 Tổng quan về RNM
1.2.1 Vai trò của RNM

dùng các loài cây thuốc nam đó chữa được nhiều bệnh. Hiện nay đã điều tra
được 15 loài cây ngập mặn nước ta có thể dùng làm thuốc.
g. Mở rộng đất liền: Ở các bãi mới bồi ven biển, cửa sông có một số loài
cây ngập mặn như cây mắm, bần có khả năng mọc trên đất bùn lỏng, mặn và
chịu ngập sâu. Đó là những loài cây tiên phong xâm chiễm bãi lầy. Nhờ các rễ
cây hô hấp dày đặc trên mặt bùn giúp phù sa lắng đọng nhanh, đất được bồi tụ
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
13
Luận văn tốt nghiệp
dần tạo thuận lợi cho loài cây khác như đước, vẹt, dà… đến sau và phát triển
thành rừng.
h. Nhiều bãi nổi ở cửa sông, ven biển ngày nay trở thành những khu
rừng có giá trị kinh tế cao như Cồn Trong, Cồn Ngoài (Minh Hải), Cồn Lu, Cồn
Ngạn (Nam Định) đều là nơi phát triển của các cây ngập mặn.
i. Hải sản: RNM cung cấp mùn, bã hữu cơ (do cành, lá, hoa quả rụng
xuống được các vi sinh vật phân huỷ) làm thức ăn cho nhiều loài động vật vùng
triều, trong đó có các nhóm hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm he, cua, biển,
sò, ốc, cá bớp Nghề đánh bắt hải sản ven bờ phụ thuộc rất nhiều vào RNM.
j. Chim và dơi: RNM là nơi thu hút nhiều loài chim nước và chim di cư.
Hiện nay RNM Minh Hải, Xuân Thuỷ là địa điểm lý tưởng cho chim non trong
mùa sinh sản, trong đó có nhiều loài quý hiếm, được ghi tên trong sách đỏ Việt
Nam và sách đỏ IUCN như cò thìa, già đẫy, hạc cổ trắng
k. Bảo vệ bờ biển, bờ sông: RNM được ví như bức tường xanh, bảo vệ
vùng cửa sông ven biển. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết trồng và bảo vệ các dải
rừng tự nhiên và trồng thêm rừng trên bãi bồi ven biển, cửa sông để hạn chế tác
hại của sóng và gió bão
l. Điều hoà khí hậu: Cũng như các rừng nội địa, RNM có tác dụng to
lớn trong việc điều hoà khí hậu. Về mùa hè, các cây thoát hơi nước nhiều, làm
tăng độ ẩm không khí. Do đó cũng làm tăng lượng mưa ở địa phương. RNM thu
nhận một khối lượng khí cácboníc thải ra trong sinh hoạt, trong công nghiệp và

ven biển Nam Trung bộ, đồng bằng sông Cửu Long cũng không còn quĩ đất để
phục hồi mặc dù biết rằng mất RNM kéo theo suy giảm nguồn lợi thủy hải sản
và thiệt hại sẽ vô cùng to lớn khi thiên tai xảy ra. Hơn nữa, việc bảo vệ và phát
triển RNM vẫn gặp nhiều khó khăn do nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người
dân vẫn chưa được đáp ứng.
Trong thời gian qua chúng ta đã nỗ lực trồng RNM mới nhưng phần lớn
chỉ trồng có một loài cây (cây Trang ở miền Bắc, cây Đước đôi ở miền Nam)
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
15
Luận văn tốt nghiệp
nên hiệu quả kinh tế và môi trường phòng chống thiên tai không cao. Đó là chưa
nói đến sự cố khi có dịch bệnh, sâu hại và thiên tai rất dễ bị tàn phá vì rừng chủ
yếu chỉ có một loài cây. Chúng ta đang thiếu các giải pháp kỹ thuật thích hợp và
áp dụng cho từng vùng trong việc phục hồi RNM, cải thiện chất lượng rừng hiện
có và trồng mới RNM đáp ứng nhu cầu phòng chống thiên tai và bảo vệ môi
trường ở từng địa phương cụ thể.
Có thể nói rằng chúng ta đang lãng phí rất lớn khi chưa phối hợp, lồng
ghép những hoạt động cụ thể của những đề án mới với các chương trình hiện có
của quốc gia, quốc tế và các tổ chức phi chính phủ nhằm phục hồi, bảo vệ và sử
dụng bền vững RNM. Mặt khác, chúng ta đang thiếu sự phối hợp liên ngành,
chưa tạo ra được cơ chế tài chính bền vững nhằm huy động các nguồn thu cho
công tác phục hồi, quản lý các khu bảo vệ, đề xuất thành lập các khu bảo tồn
RNM có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế.
Một số mô hình phục hồi và bảo tồn hiệu quả RNM có sự tham gia của
cộng đồng như ở Ninh Hòa (Nha Trang), Rú Trá (Huế), Thạch Hà (Hà Tĩnh),
Sóc Trăng… chưa được nhân rộng, chưa có cơ chế huy động cộng đồng tham
gia, công tác xã hội hóa việc phục hồi RNM cho phòng chống thiên tai chưa
được coi trọng nhất là trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Thực tế RNM vẫn tiếp tục bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau:
Đổ chất phế thải trong khai thác than đã vùi lấp các dải RNM

Nước biển dâng
Hiện tượng này được tạo ra bởi tổ hợp của nhiều yếu tố, đặc biệt do sự
tăng khí thải công nghiệp, nông nghiệp như CO
2
, CH
4
và mất RNM. Những dự
báo cho biết trong thế kỷ này, Trái đất sẽ ấm lên, mức nước biển sẽ dâng cao
hơn mức hiện nay có thể từ 60-100cm. Trong điều kiện đó nhiều vùng đất thấp
ven biển, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị chìm ngập trong nước
biển, các rừng cây ngập mặn, các đầm tôm cũng không còn nữa.
1.1.1.12.Rừng ngập mặn Quảng Ninh
a. Sự suy giảm RNM
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
17
Luận văn tốt nghiệp
Tổng số RNM đã bị hao hụt từ năm 1988 đến năm 2003 là 2509 ha chiếm
gần 11 % số diện tích RNM toàn tỉnh (Bảng 1).
b. Nhiệm vụ quy hoạch RNM tỉnh Quảng Ninh năm 2006 -2015
Nhiệm vụ quy hoạch RNM tỉnh Quảng Ninh năm 2006 -2015 bao gồm:
− Bảo vệ rừng hiện có: 17.682,55 ha
− Khoanh nuôi có trồng bổ xung: 3.720,45 ha
− Trồng rừng mới: 3.000,00 ha
− Sản xuất lâm ngư kết hợp: 2.000,00 ha
Mục tiêu tiến độ bảo vệ RNM ở Quảng Ninh thể hiện trong bảng 2.
Bảng 1. Diện tích RNM chuyển đổi mục đích sử dụng
TT
Tên
huyện
Tổng

212 212 Lê Lợi
7
Yên
Hưng
236 236
Hoàng Tân, Hà An,
Minh Thành
8 Cẩm Phả 133 133
Cẩm Hải, Cửa Ông,
Mông Dương
9 Vân Đồn 2 2
Tổng 2509 2375 134
(Nguồn: Sở Nông Nghiệp & PTNT Quảng Ninh, 2004)
Bảng 2. Tiến độ bảo vệ RNM Quảng Ninh 2006-2015 (ha)
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
18
Luận văn tốt nghiệp
Hạng mục Tổng
Giai đoạn
2006-2010
Giai đoạn
2011-2015
Tổng
193.800,0
5
88.412,75 105.387,15
Bảo vệ rừng hiện có 167.697,8 88.412,75 79.285,05
Bảo vệ rừng khoanh nuôi có
trồng bổ xung
18.602,25 18.602,25

1.3.1 Các giải pháp chung
1.1.1.13.Kinh doanh RNM: Một nguyên lý cơ bản cần phải quan tâm là
quản lý trên cơ sở ổn định sản lượng lâu dài của các loài cây kinh tế chủ yếu và
giữ cân bằng sinh thái của vùng cửa sông, ven biển. Do đó trong kinh doanh lâm
nghiệp phải chú ý đến những vấn đề chính dưới đây:
a. Khai thác hợp lý và duy trì tối đa trữ lượng cây rừng để sử dụng gỗ,
củi, than và các sản phẩm phụ khác một cách lâu dài, tạo công ăn việc làm ổn
định cho nhân dân địa phương, hạn chế thấp nhất việc phá rừng bừa bãi. Khi
diện tích, chất lượng rừng bị suy giảm, cần có thời gian ngừng khai thác lâm sản
để phục hồi RNM.
b. Bảo vệ bãi đẻ và nơi nuôi dưỡng những hải sản có giá trị kinh tế cao
cũng như các động vật hoang dã quý hiếm khác trong RNM và vùng kế phụ cận
bằng cách duy trì, phát triển rừng ở mức độ thích hợp.
c. Tạo điểu kiện thuận lợi cho việc tái sinh tự nhiên bằng cách giữ lại đủ
cây giống trong khu khai thác (30-40 cây giống/ha) với khoảng cách giữa các
cây là từ 15m đến 20m.
Biện pháp tốt nhất là sau khi các rừng sản xuất đã phục hồi và trưởng
thành có thể khai thác từng dải rừng theo băng luân phiên nhau (35-40 m/băng),
có trừ cây giống để đủ nguồn giống cho tái sinh tự nhiên. Chỉ cần trồng thêm ở
chỗ tái sinh kém hoặc chỗ trống, giảm nhẹ kinh phí trồng rừng.
d. Trồng rừng: Trồng rừng phòng hộ chống sóng bảo vệ đê các vùng ven
biển nước ta đã trở thành vấn đề cấp thiết.
Tuy nhiên chọn các loài cây trồng thích hợp ở từng vùng địa lý là rất quan
trọng. Biện pháp tốt nhất là trồng xen đước, đâng, đưng hoặc trang với các loài
cây mọc tự nhiên hoặc các loài khác, những loài cây tái sinh tự nhiên có tác
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
20
Luận văn tốt nghiệp
dụng hạn chế tác động của sóng, thuỷ triều, giữ đất bồi và là nơi thu hút các
động vật bám khác như màn cước, hà sun, tạo điều kiện tốt cho cây trồng sinh

1.1.1.15.Sử dụng đất RNM để sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp
Những nơi có mùa khô kéo dài 4-6 tháng, hoặc nơi không có đủ nước
ngọt để rửa chua mặn thì tuyệt đối không nên sử dụng RNM để sản xuất cây
lương thực, cây công nghiệp như dừa, đào lộn hột, mía. Nơi nào có nguồn nước
ngọt dự trữ lớn, hoặc có khả năng sử dụng nước ngọt từ các dòng sông để rửa
chua mặn đều quanh năm, mới có khả năng trồng lúa và các cây khác. Mặt khác
cần sử dụng giống lúa chịu mặn đã được Viện lúa quốc tế IRI tuyển chọn mới có
hiệu quả.
Đối với đất mặn ít ngập triều cần chọn một số loài cây gỗ mọc tự nhiên ở
địa phương như xu, cóc, me, giá, cui, tra, bông gòn, so đũa, điền thanh, điên
điển, … để trồng, vừa bảo vệ đất vừa thu nhiên liệu.
Những nơi bị nhiễm mặn do nước dâng không còn cấy được lúa, cần
nhanh chóng chuyển sang trồng dừa nước để sản xuất đường, rượu, cồn, nước
ngọt từ nhựa cuống của quả và các sản phẩm khác từ lá cây hoặc xây dựng đầm
nuôi tôm quảng canh cải tiến quy mô gia đình và trồng cây ngập mặn.
1.1.1.16.Xây dựng khu bảo vệ, dự trữ nguồn gen, nghiên cứu và du lịch
Cần chọn một số RNM điển hình cho từng vùng sinh thái làm khu bảo vệ
các nguồn gen thực vật và động vật vùng triều và bảo tồn thiên nhiên. Trước hết
cần tập trung nghiên cứu, đánh giá hiện trạng tài nguyên RNM để có biện pháp
hữu hiện bảo vệ và phát triển tính đa dạng đi truyền trong HST RNM. Có thể kết
hợp trong việc chọn khu bảo tồn RNM với địa điểm du lịch và giáo dục, hoặc tổ
chức nơi du lịch thuận lợi để thu hút khách trong và ngoài nước.
Do tác động của mực nước biển dâng và nhiễu động thời tiết bất lợi (bão,
áp thấp nhiệt đới, gió mùa, gió xoáy…) ngày càng tăng, cho nên việc bảo vệ các
HST RNM cũng như cỏ biển, vỉa san hô và thực vật hoang dại khác ở các cửa
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
22
Luận văn tốt nghiệp
sông, ven biển là rất cần thiết để hạn chế xói lở, tàn phá đê điều. Cần đầu tư
thích đáng và khẩn trương trồng rừng phòng hộ chắn sóng ở một số tuyến đê

− Có biện pháp tích cực hạn chế mức tăng dân số và nghiên cứu quy
hoạch dân cư trong vùng RNM để xây dựng những mô hình thích hợp, tránh tình
trạng đưa dân ra xây dựng vùng kinh tế mới ven biển khi chưa có quy hoạch cụ
thể cho việc bảo vệ, phát triển RNM và các vỉa san hô, các thảm cỏ biển ven bờ.
1.3.2 Giải pháp bảo vệ rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng
1.1.1.18.Khái niệm về cộng đồng và các bên liên quan
Cộng đồng là những nhóm người có những đặc điểm về thái độ, cách ứng
xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau, cùng sống trong bối
cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội. Hay nói cách khác, cộng đồng được xác định là
tất cả những người sống hoặc làm việc trong một khu vực địa lý nhất định,
không phân biệt nam nữ, già hay trẻ. Như vậy sự tham gia của cộng đồng được
xác định là tất cả những người sống hoặc làm việc trong khu vực [6].
Cộng đồng cũng có thể bao gồm những tổ chức xã hội do cộng đồng lập
ra để đại diện cho các quan điểm của họ. Ở nhiều dân tộc thiểu số, Già làng,
Trưởng bản là những người giàu kinh nghiệm, nắm vững phong tục, tập quán
của cộng đồng mình, đồng thời cũng là trung tâm của cuộc hoà giải, những tranh
chấp xung đột, được cộng đồng tôn sùng nên hoàn toàn có thể đại diện cho cộng
đồng, khác với những tổ chức được thành lập cho chương trình, dự án hay tổ
chức quần chúng có màu sắc chính trị như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội
Cựu chiến binh [6].
Các bên liên quan (stakerholder) gồm tất cả những người, những tổ chức,
có lợi ích liên quan đến một hoạt động cụ thể. Các bên liên quan có thể bao
gồm cả những nhà ra quyết định cũng như những người bị ảnh hưởng bởi các
quyết định. Cộng đồng là một trong các bên liên quan. Các bên liên quan khác
sẽ rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng vấn đề cụ thể [6].
1.1.1.19.Sự tham gia của cộng đồng
Lưu Thị Bình, Cao học Khoa học Môi trường khoá 2005-2007
24
Luận văn tốt nghiệp
Sự tham gia của cộng đồng là việc một cộng đồng được tham gia tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status