1
Nội dung 1: Đề ra đường lối đổi mới, trong Văn kiện ĐH VI, Đảng coi
việc “phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan” là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu.
Phân tích cơ sở triết học và thực tiễn của bài học trên và nêu ý nghĩa của nó
trong thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay.
Trả lời:
Vào những năm 80 của thế kỳ 20, tình hình thế giới và trong nước có
diễn biến hết sức phức tạp, hệ thống xã hội chủ nghĩa và các đảng cộng sản
đang rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và toàn diện. Trước tình hình đó,
việc Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới là yêu cầu rất bức thiết
đối với cách mạng, quyết định sự sống còn của Đảng và thắng lợi cách mạng
Việt Nam. Với thái độ “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự
thật”, Đại hội VI của Đảng đã đánh giá thỏa đáng, đúng mức cục diện cách
mạng nước ta trong thời gian 5 năm (1981-1985) về cả hai mặt thành tích,
thắng lợi và yếu kém, sai lầm cùng những nguyên nhân của nó. Từ thực tiễn
cách mạng của nhân dân ta, Đại hội đã rút ra bài học kinh nghiệm quan trọng
là: Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy
luật khách quan.
Để rút ra bài học kinh nghiệm quý báu đó, Đảng ta đã dựa trên cơ sở triết
học là chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ vật chất, ý thức. Theo quan điểm
triết học Mác Lê-nin vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Như vậy có thể thấy: Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm
trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật
chất thường dùng trong các lỉnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày .
Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”, đó củng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì
là vật chất và cái gì không phải là vật chất.
Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại
phương hướng, xác định phương pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy. Vì
vậy ý thức tác động trực tiếp đến vật chất theo hai hướng chủ yếu: Nếu ý thức
phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quang thì sẽ thúc đẩy
hoặc tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đặc trưng vật chất. Ngược lại nếu ý
3
thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không
phù hợp với quy luật khách quan do đó sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất.
Tuy vậy sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất
định chứ nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất
được. Và suy cho cùng dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản
ánh thế giới vật chất. Biểu hiện của mối quan hệ giữa ý thức và vật chất trong
đời sống xã hội là quan hệ tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và
tác động trở lại tồn tại xã hội . Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
còn là cơ sở để nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực
tiễn, khách thể và chủ thể, vấn đề chân lý
Quan điểm khách quan: Nguyên tắc khách quan trong xem xét là hệ quả
tất yếu của quan điểm DVBC về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vật chất
quyết định ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trong nhận thức và hành
động phải đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn
xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát
từ bản thân SVHT, từ thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý thức chủ
quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không lấy ý chí áp
đặt thực tế. Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật,
tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, không trung thực. Nói như vậy
không có nghĩa là quan điểm khách quan coi nhẹ tính năng động của ý thức.
Quan điểm khách quan không những không loại trừ mà còn đòi hỏi phát huy
tính năng động và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật. Bởi vì
quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động
chiến lược, vừa thực hiện nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nghĩa vụ quốc tế, phải đáp
ứng cùng một lúc những yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp bách là ổn định và cải
thiện đời sống, tích luỹ để xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố quốc phòng.
Về tình hình kinh tế - xã hội trong nước, bên cạnh những thành tựu đã
đạt được, sự giảm sút của sản xuất vào cuối những năm 70 cùng với những sai
lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, nhất là bố trí đầu tư và xây dựng cơ bản của 5
năm 1976-1980, đã để lại hậu quả nặng nề. Song, nhân dân ta anh dũng phấn
đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đã đạt được những thành tựu quan
trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong sản xuất nông nghiệp
và công nghiệp, đã ngăn chặn được đà giảm sút của những năm 1979-1980, từ
5
năm 1981 đến nay, đạt được nhiều tiến bộ rõ rệt (nông nghiệp tăng bình quân
hằng năm 4,9%, Sản xuất công nghiệp tăng bình quân hằng năm 9,5%, Thu
nhập quốc dân tăng bình quân hằng năm 6,4%) Về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật, trong 5 năm 1981-1985, đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối
lớn và hàng nghìn công trình vừa và nhỏ, trong đó có một số cơ sở quan trọng
về điện, dầu khí, ximăng, cơ khí, dệt, đường, thuỷ lợi, giao thông Công cuộc
cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tiến thêm một bước, đại bộ phận nông dân Nam Bộ
đi vào con đường sản xuất tập thể, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên có tiến
bộ trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới Chăm lo đời sống của nhân dân
được chăm lo dù còn nhiều khó khăn. Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, thể
dục, thể thao, văn học, nghệ thuật phát triển và có những đóng góp nhất định
vào việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới. Các hoạt động khoa học,
kỹ thuật được triển khai, góp phần thúc đẩy sản xuất, nhất là sản xuất nông
nghiệp. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và làm nghĩa
vụ quốc tế của nhân dân và các lực lượng vũ trang ta đã giành thêm những
thắng lợi to lớn. Công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt được những
kết quả đáng kể trên một số mặt: củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, củng
cố cơ sở chính trị ở những địa bàn xung yếu, xây dựng lực lượng dự bị. Việc
kết hợp kinh tế với quốc phòng, huy động lực lượng quân đội tham gia xây
cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương,
tiền tệ. Để khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, phải tiến hành đồng bộ nhiều
biện pháp. Trước hết phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ,
trình độ lý luận của Đảng, trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế , đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động của hệ thống chí trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan
liêu.
Bài học kinh nghiệm của Đảng: Trong quá trình xác định đường lối Cách
mạng và chỉ đạo thực tiễn. Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn quán triệt mối
quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam "luôn
luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn
đầu đúng đắn của Đảng" là một bài học kinh nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn
Cách mạng nước ta. Đó chính là biểu hiện coi quan điểm vật chất, các quy luật
khách quan có vai trò quyết định được ý thức đối với nhận thức.
7
Đảng ta thừa nhận đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật
khách quan, muốn nhanh chống thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều
kiện mới ở chặng đường đầu tiên. Chúng ta đã có những thành kiến không
đúng trên thực tế chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa
đang tồn tại khách quan (quy luật cung cầu, cạnh tranh giá trị) do đó không chú
ý vận dụng chúng vào việc chế định (đề ra) các chủ trương, chính sách phát
triển kinh tế - xã hội làm cho nền kinh tế trì trệ, khủng hoảng nghiêm trọng.
Để khắc phục những khuyết điểm, làm chuyển biến tình hình, Đảng ta
trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy lý luận trên cơ sở xuất phát từ
điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Phải nhận thức đúng đắn và hành
động phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó có các quy luật mang
tính đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ sự phát triển
chung của toàn xã hội. Tiêu chuẩn đánh giá sự vận đụng đúng đắn các quy luật
thông qua chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển,
bản của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay còn gọi là
quy luật mâu thuẫn). Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là
một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Đó chính là một
tiền đề lý luận hết sức quan trọng để hình thành lý luận Mác xít về quy luật
này.
Trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, V.I. Lênin đã coi
quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là “hạt nhân của phép biện
chứng”, bởi vì quy luật này đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận
động và phát triển của sự vật; và là “chìa khóa” giúp chúng ta nắm vững thực
chất của các quy luật cơ bản và các cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện
chứng. V.I.Lênin viết “có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết
về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép
biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển
thêm”. Nội dung của quy luật chỉ ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất, mâu thuẫn là sự tác động qua lại của các mặt đối lập. Chủ
nghĩa Mác cho rằng bất kỳ một sự vật nào cũng chứa đựng mâu thuẫn. Không ở
đâu là không có mâu thuẫn và không bao giờ không có mâu thuẫn. Nhìn sự vật
9
mà chỉ thấy sự đồng nhất, đồng nhất tuyệt đối là lối nhìn hời hợt, nông cạn, bề
ngoài.
Mâu thuẫn là một khái niệm để chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của
các mặt đối lập. Các mặt đối lập là những bộ phận, những nhân tố có thuộc tính
hoặc có khuynh hướng vận động trái ngược nhau cùng tồn tại trong một sự vật,
tác động qua lại với nhau tạo nên sự vận động và biến đổi của sự vật đó. Sự tồn
tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật. Tất cả
các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau.
Chẳng hạn, trong sinh vật có đồng hóa và dị hóa, trong kinh tế thị trường có
cung và cầu, v.v Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn
nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách
khách quan và phổ biến cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện
chúng.
Thứ hai, mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động và sự phát
triển.
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động
khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy mâu thuẫn biện
chứng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Sự
thống nhất gắn liền với sự vận động và phát triển. Điều đó có nghĩa là: “Sự
thống nhất ( ) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương
đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự
phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.
Quá trình hình thành và phát triển của một mâu thuẫn thể hiện ở chỗ: lúc
đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt; sau đó phát triển lên
thành hai mặt đối lập; khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay
gắt và có điều kiện thì giữa chúng có sự chuyển hóa - mâu thuẫn được giải
quyết. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và lại một quá
trình mới làm cho sự vật không ngừng vận động và phát triển. Nhờ đó mà thể
thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật
mới ra đời thay thế.
Chẳng hạn, bất kỳ một sinh vật nào cũng chỉ có thể tồn tại và phát triển
được khi có sự tác động qua lại giữa đồng hóa và dị hóa. Sự tiến hóa của các
giống loài không thể có được, nếu không có sự tác động qua lại giữa di truyền
11
và biến dị. Tư tưởng, nhận thức của con người không thể phát triển, nếu không
có sự cọ sát thường xuyên với thực tiễn, không có sự tranh luận để làm rõ đúng
sai
V.I.Lênin viết : “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối
lập”. Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có sự
đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể
tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có
ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Mẫu thuẫn là khách quan, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên
muốn nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp
đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn
của sự vật. Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất
những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập
và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó.
V.I.Lênin viết: "Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận
của nó , đó là thực chất của phép biện chứng".
Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của
từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu
thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối
lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hóa lẫn nhau
giữa chúng. Đồng thời, cũng phải xem xét các mâu thuẫn cụ thể với vai trò, vị
trí và mối quan hệ của nó. Chỉ có như thế mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của
sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giải quyết mâu
thuẫn.
Mâu thuẫn là phổ biến, đa dạng, do đó trong nhận thức và hoạt động thực
tiễn, phải có phương pháp phân tích mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn một
cách cụ thể. Việc giải quyết mâu thuẫn chỉ bằng con đường đấu tranh giữa các
mặt đối lập và với những điều kiện chín muồi.
13
Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn,
không được điều hoà mâu thuẫn. Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù
hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương
tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn. Hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi
sự vật là quá trình giải quyết mâu thuẫn của nó. Muốn vậy, phải xác định đúng
trạng thái chín muồi của mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều
kiện đã chín muồi. Cho nên, chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một
bình phải có quan điểm khách quan tránh cá nhân chủ quan và phải có quan
điểm xây dựng né tránh dĩ hoà vi quý. Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa
chữa, giúp nhau tiến bộ.
Cùng với việc giữ nghiêm kỷ luật, phải "mở rộng phong trào phê bình và
tự phê bình ở trong tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các cơ quan, đoàn thể trong
đơn vị. Phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên
xuống và từ dưới lên". Lãnh đạo, người đứng đầu phải gương mẫu, đi tiên
phong trong đấu tranh phê bình và tự phê bình, đồng thời phải biết lắng nghe ý
kiến của cấp dưới, quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: "Chúng ta
không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn
sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê
bình".
Thường xuyên duy trì và thực hiện nghiêm nề nếp, chế độ phê bình và tự
phê bình, không làm chiếu lệ và hình thức. Với những ý kiến phê bình đúng
của quần chúng thì các tổ chức đảng, người đứng đầu cần tiếp thu nghiêm túc
và có biện pháp sửa chữa. Đối với những ý kiến không đúng thì phân tích và
giải thích đầy đủ với thái độ thực sự "trọng dân" và có ý thức trách nhiệm.
Là một người lãnh đạo, chịu trách nhiệm chính về sự phát triển của tập
thể đơn vị, chúng tôi nhận thức sâu sắc hơn hết về vấn đề này. Để góp phần
lãnh đạo đơn vị phát triển đi lên, chúng tôi thiết nghĩ càn phải đi sâu sát, nắm
bắt tình hình mọi mặt đơn vị, kịp thời phát hiện và giải quyết tốt các mâu thuẫn
nảy sinh, cản trở sự phát triển của đơn vị, nhất là những vấn đề nảy sinh, ảnh
hưởng đến lợi ích của cán bộ, nhân viên trong đơn vị. Từ đó tạo ra sự thống
nhất ý chí và hành động để đơn vị phát triển đi lên. Bản thân những cán bộ lãnh
đạo, người đứng đầu đơn vị như chúng tôi cần gương mẫu tự phê bình và phê
bình, thẳng thắn nhìn nhận thiếu sót, khuyết điểm, chân thành tiếp thu ý kiến
15
đóng góp của cấp dưới và tích cực sửa chữa, rèn luyện bản thân, để làm tròn
trách nhiệm đối với tập thể đơn vị, đáp ứng sự tin tưởng và tín nhiệm của đơn
vị.