Lời mở đầu
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc ta vợt qua mọi khó khăn, trở ngại để
giành đợc những thắng lợi to lớn trong cả hai cuộc kháng chiến giải phóng dân
tộc trớc đây và công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong những năm qua.
Ngay sau khi hoà bình đợc lập lại năm 1954, Đảng Cộng Sản Việt Nam
đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cho nớc ta con đờng tiến hành
cách mạng xã hội chủ nghĩa, quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Mặc dù gặp
nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện nhng dân tộc Việt Nam dới sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từng bớc thu đợc những thành tựu to
lớn trên con đờng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nó cho thấy sự lựa chọn và quyết
tâm của Đảng và nhân dân ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và
xu thế của thời đại. Tuy nhiên, vẫn còn không ít khó khăn và trở ngại trên con đ-
ờng quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi toàn dân tộc ta dới sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam phải nỗ lực hơn nữa để thực hiện cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa, đa nớc ta tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Với mục đích tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tế thực hiện con đờng
quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, em đã chọn đề tài Thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
những năm thực hiện đờng lối đổi mới. Kết cấu của bài viết bao gồm 3 phần
sau:
- Phần I: Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Phần II: Những thành tựu và hạn chế của Việt Nam khi thực hiện quá độ
thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
- Phần III: Những giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi con đờng quá độ
thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Em xin chân thành cám ơn thầy giáo, TS. Tô Đức Hạnh đã giúp đỡ và hớng
dẫn em hoàn thành bài viết này.
1
Phần I: Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam.
- Quá độ từ các hình thái kinh tế-xã hội trớc chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa
xã hội. Đây là con đờng mà các nớc có nền kinh tế lạc hậu có thể thực hiện để
tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội và bỏ qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa.
Loại quá độ này phản ánh quy luật phát triển nhẩy vọt của xã hội loài ngời nhng
1
Giáo trình Kinh tế Chính trị, NXB Chính trị Quốc gia
2
theo V.I.Lênin thì loại quá độ này cần phải có những điều kiện khách quan và
chủ quan nhất định sau:
+ Điều kiện khác quan để quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội là phải có
sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nớc tiên tiến đã giành đợc thắng lợi trong
cách mạng vô sản và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Điều kiện chủ quan để loại quá độ này diễn ra là ở bản thân các nớc thực
hiện quá độ thẳng phải thành lập đợc các tổ chức Mácxít - Lêninnít và các tổ
chức này phải lãnh đạo giai cấp vô sản giành đợc chính quyền, đồng thời xây
dựng đợc các tổ chức nhà nớc mà bản chất là xô-viết nông dân và xô-viết ngời
lao động.
Những t tởng của C.Mác và Ph.Ăngghen cùng với các luận điểm của
V.I.Lênin đã đợc Đảng Cộng Sản Việt Nam vận dụng linh hoạt và sáng tạo cho
phù hợp với điều kiện thực tế của đất nớc, nhờ đó Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc
Việt Nam vợt qua muôn và khó khăn và đã thu đợc những thành công to lớn trên
con đờng quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
2. Những vấn đề kinh tế chính trị cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tế của Việt Nam, Đảng
Cộng Sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã cùng toàn dân tộc
Việt Nam lựa chọn con đờng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đã minh
chứng đây là sự lựa chọn vô cùng sáng suốt, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế dộ t bản chủ nghĩa ở Việt Nam là một tất yếu khách quan vì:
- Trớc hết, đây là sự lựa chọn phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay.
kém phát triển bị lệ thuộc nhiều mặt vào các nớc t bản phát triển nhng nó cũng
tạo điều kiện để các nớc đi sau có thể tranh thủ đợc nguồn vốn, kỹ thuật và kinh
nghiệm quản lý của các nớc đi trớc để có thể rút ngắn thời gian phát triển.
Ngoài ra, bản thân Việt Nam là một nớc có dân số đông, với khoảng 82 triệu
ngời và đứng thứ 14 trong số các nớc có số dân đông nhất trên thế giới, với
nguồn lực dồi dào, tài nguyên đa dạng và có vị trí địa lý thuận lợi. Đây là
những điều kiện hết sức thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nớc quá độ thẳng
lên chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam trong những năm qua, dới sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đồng lòng chiến đấu, hy
sinh để giành lại độc lập dân tộc và cùng nhau phấn đấu xây dựng một xã hội tốt
đẹp trong đó mọi ngời đều có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Trải qua 19
năm thực hiện công cuộc đổi mới, những kết quả ban đầu khả quan đã càng
củng cố và khẳng định chúng ta có đầy đủ khả năng để thực hiện thành công quá
trình quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, cũng có lúc, có nơi chúng ta mắc phải
những sai lầm và trong đó có những sai lầm bắt nguồn từ việc nhận thức cha
đúng về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa. Vì
vậy, để tránh lặp lại những sai lầm đã mắc phải, chúng ta cần luôn nhận thức
đúng về con đờng quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Cần phải hiểu bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa về chính trị là bỏ qua giai đoạn
thống trị của giai cấp t sản và của kiến trúc thợng tầng t bản chủ nghĩa chứ
không có nghĩa là bỏ qua sở hữn t nhân và kinh tế t bản t nhân. Còn về kinh tế,
4
bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa là bỏ qua sự thống trị của quan hệ sản xuất t bản
chủ nghĩa nhng chúng ta phải biết nhận thức, tiếp thu và tranh thủ tận dụng
những thành tựu mà nhân loại đã đạt đợc trong chủ nghĩa t bản, đặc biệt là về
khoa học, công nghệ, vốn và kinh nghiệm quản lý để đẩy nhanh quá trình phát
triển lực lợng sản xuất ở nớc ta và rút ngắn thời gian xây dựng nền kinh tế nớc ta
từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện hiện
nay, chúng ta cũng phải xác định rõ con đờng rút ngắn chỉ có thể thực hiện
5
phải tồn tại nhiều chế độ sở hữu khác nhau và do đó nền kinh tế tất yếu phải có
nhiều thành phần. Từ thực tế này, chúng ta cần phải thực hiện chính sách khuyến
khích các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, trong đó tạo điều kiện để
thành phần kinh tế nhà nớc dần vơn lên giữ vai trò chủ đạo nhng vẫn đảm bảo
tính dân chủ và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Do tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau nên dẫn đến trong nền kinh tế
cùng tồn tại nhiều hình thức phân phối khác nhau. Nhng chúng ta luôn phải xác
định rõ phân phối theo lao động là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta vì đây là hình thức phân phối cơ bản nhất
của kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, nó là hình thức thực hiện về
mặt kinh tế của chế độ công hữu.
+ Để thực hiện thành công con đờng quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam thì một nhiệm vụ rất quan trọng và không thể thiếu là phải mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ giúp chúng
ta thu hút đợc các nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế
trong nớc, góp phần tạo ra lực lợng sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động.
Đồng thời, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại cũng có ý nghĩa to
lớn về mặt quan hệ sản xuất đối với nớc ta, giúp chúng ta đẩy nhanh quá trình
xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện tốt mục tiêu này, Việt Nam
cần có những chính sách nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong n-
ớc đợc bình đẳng tham gia vào các quan hệ kinh tế đối ngoại, phát triển hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nớc theo tiêu chuẩn của thị trờng thế giới, phải
thực hiện mở cửa và hội nhập với nớc ngoài theo phơng châm đa phơng hoá, đa
dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại và dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng
có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Phần II: Những thành tựu và hạn chế của Việt Nam khi thực hiện
quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Với việc xem chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ
nam cho mọi hoạt động của mình và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tế
Đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế là sự phát
triển của những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Trong những
năm qua, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản duy trì đợc mức tăng tr-
ởng trung bình qua các năm. Đặc biệt trong ngành nông nghiệp, lĩnh vực sản
xuất lơng thực đã thu đợc những thành công quan trọng. Sản lợng lơng thực tăng
nhanh nên mặc dù dân số nớc ta cũng tăng nhng mức lơng thực bình quân đầu
ngời đã tăng từ 303,2 kg năm 1990 lên 443,9 kg năm 2000
2
, và lợng lơng thực
sản xuất đợc hàng năm không những đủ cho tiêu dùng trong nớc mà còn đợc
xuất khâủ. Mỗi năm nớc ta xuất khâủ đợc từ 3 - 4 triệu tấn gạo, thuộc nhóm các
nớc xuất khâủ gạo hàng đầu thế giới. Sản lợng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng
từ năm 1999 đến nay luôn duy trì đợc mức tăng cao, và mức tăng trung bình
2
Tình hình kinh tế xã hội 10 năm 1991-2000, NXB Thống kê 2001, tr 2.
7
trong thời kỳ 2001-2003 là 11,2%
3
. Sản xuất công nghiệp của Việt Nam từ năm
1991 đến nay luôn duy trì mức tăng trởng cao, kể cả trong thời gian chịu tác
động của khủng hoảng tài chính khu vực. Một số ngành công nghiệp quan trọng
phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân c đều tăng nhanh về số lợng và chất lợng.
Từ năm 1990 đến năm 2000, sản lợng than khai thác đã tăng 2,3 lần, dầu thô
tăng 6,0 lần, điện tăng 3,0 lần xi măng tăng 5,3 lần, thép cán tăng 16,5 lần, phân
hoá học tăng 3,8 lần, ti-vi lắp ráp tăng 7,2 lần và quần áo may sẵn tăng 2,7 lần
4
.
Ngành dịch vụ đã có những bớc phát triển mạnh, đặc biệt là lĩnh vực liên quan
đến kết cấu hạ tầng kinh tế và phát triển đô thị. Nhng kể từ sau khủng hoảng tài
chính khu vực, ngành dịch vụ luôn có mức tăng trởng thấp hơn mức tăng chung
8
trong nớc. Các thành phần kinh tế khác cũng đều đợc khuyến khích và tạo điều
kiện phát triển, nhờ đó phát huy đợc tiềm năng và các nguồn lực của chúng.
Những năm qua, thành phần kinh tế t nhân có xu hớng tăng nhanh, tốc độ tăng
giá trị gia tăng của khu vực kinh tế t nhân đạt 13,9% năm 2002 và 10,5% năm
2003 nhng đóng góp của khu vực này vào giá trị gia tăng chung còn thấp, chỉ
khoảng 4,1% năm 2003. Còn thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài cũng đã
tăng nhanh, nhng gần đây tốc độ tăng giá trị gia tăng của thành phần này lại
giảm sút từ mức 11,4% năm 2000 xuống còn 8,1% năm 2003
5
. Kinh tế tập thể
cũng đã có bớc phát triển mới với nhiều hình thức đa dạng, góp phần tích cực
tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo một cách bền vững.
Nhờ kinh tế tăng trởng nhanh và ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng
hớng cùng với những biện pháp nhằm bình ổn giá cả, thực hiện tốt các chơng
trình xã hội nên đời sống các tầng lớp dân c ở cả thành thị và nông thôn đều đã
đợc cải thiện đáng kể. Theo kết quả của các cuộc điều tra khảo sát mức sống dân
c, điều tra giầu nghèo và điều tra hộ gia đình từ năm 1999 đến nay cho thấy thu
nhập bình quân mỗi ngời một tháng theo giá thực tế đã tăng từ 92,1 nghìn đồng
năm 1992 lên 206,1 nghìn đồng năm 1995, 295,0 nghìn đồng năm 1999 và trong
năm 2001-2002 là 356,8 nghìn đồng
Bảng 3: Thu nhập bình quân mỗi ngời một tháng
(đơn vị: nghìn đồng)
1992 1995 1999 2001-2002
Chung 92,1 206,1 295,0 356,8
Thành thị 151,2 452,8 832,5 625,9
Nông thôn 77,4 172,5 225,0 271,9
Nguồn: : Tình hình kinh tế-xã hội 10 năm 1991-2000, Tổng cục thống kê.
Kinh tế xã hội 3 năm 2001-2003, Tổng cục thống kê.
Những hộ có thu nhập cao ngoài chi tiêu cho đời sống hàng ngày còn có tích
của Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng.
Bảng 4: Giá trị Xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam.
(đơn vị: tỷ USD)
1990 1995 2000 2003 2004
Xuất khẩu 2,4 5,44 14,48 20,18 26,0
Nhập khẩu 2,75 8,16 15,64 25,23 31,5
Nguồn: Niên giám thống kê 2003, NXB Thống kê, tr 324.
Thời báo kinh tế Việt Nam, ngày 03/01/2005.
Nhìn chung, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chuyển dịch theo h-
ớng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến, giảm dần tỷ trọng nhóm
hàng nhiên liệu, khoáng sản; các mặt hàng xuất khẩu đợc giữ vững, mở rộng và
khai thác tốt, đặc biệt là những mặt hàng có tỷ trọng lớn, đảm bảo đầu ra ổn
định cho nông sản và các hàng hoá khác; cơ cấu thị trờng xuất khẩu hàng hoá
của Việt Nam cũng đợc mở rộng và đa dạng hoá. Nhập khẩu cũng hớng chủ yếu
tới các mặt hàng là t liệu sản xuất phục vụ sản xuất trong nớc. Bên cạnh đó, do
môi trờng kinh doanh đợc cải thiện, Luật Đầu t nớc ngoài sau 7 lần đợc sửa đổi
đã tăng sức hấp dẫn, thu hút đợc một lợng lớn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài
(FDI). Tính đến năm 2003, Việt Nam đã thu hút đợc trên 4000 dự án với tổng số
vốn đăng ký là 44.706,8 triệu USD
8
. Riêng năm 2004, tổng số vốn FDI đa vào
Việt Nam đã đạt ngỡng 4 tỷ USD, tăng 900 triệu USD so với năm 2003 và là
mức tăng cao nhất trong vòng 7 năm qua. Cộng đồng quốc tế cũng đánh giá cao
mức tăng trởng kinh tế ổn định của Việt Nam và quyết tâm của Chính Phủ Việt
Nam trong việc tiếp tục cải thiện môi trờng đầu t, do đó số vốn mà các nhà tài
trợ cam kết dành cho Việt Nam luôn tăng, mặc dù xu thế hiện nay là các nớc cắt
8
Những vấn đề kinh tế thế giới, số 10 năm 2004, tr 69.
10
giảm nguồn vốn viện trợ. Riêng năm 2005, các nhà tài trợ đã cam kết cho Việt
nghèo và bất bình đẳng trong phân bổ thu nhập giữa các nhóm dân c gia tăng.
Đồng thời vẫn còn một số vấn đề xã hội khác đang chậm đợc khắc phục nh vấn đề
thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn vẫn còn ở mức cao; các tệ nạn
xã hội nh ma tuý, mại dâm, cờ bạc cha đợc chặn đứng; ách tắc giao thông ở các đô
thị và tai nạn giao thông có xu hớng gia tăng, vẫn còn nhiều trẻ em cha đợc đến tr-
11
ờng và cơ cấu đào tạo còn nhiều bất hợp lý, tình trạng thừa thầy, thiếu thợ trong
nền kinh tế có xu hớng ngày càng trầm trọng; chỉ số giá cả tăng cao.
Quá trình thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta những năm qua cũng
bộc lộ một số yếu kém bên cạnh những thành công bớc đầu. Quá trình cải cách các
thể chế kinh tế-hành chính cha đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của thực tiễn cũng
nh yêu cầu của cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện nớc ta vẫn còn thiếu
một chiến lợc tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế trên cấp độ toàn cầu, khu vực và
song phơng trong khi áp lực hội nhập ngày càng gia tăng. Mặt khác, môi trờng đầu
t và cơ cấu hàng xuất khẩu còn nhiều hạn chế, hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn
vốn ODA còn cha cao.
Phần III: Những giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi
con đờng quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thực tế những năm thực hiện chiến lợc đổi mới vừa qua đã đem lại cho chúng ta
những bài học kinh nghiệm quý báu. Quá trình này cũng đòi hỏi Đảng và toàn
dân ta phải tiếp tục thực hiện và nâng cao hiệu quả chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa kết hợp với việc đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc. Để thực hiện
chủ trơng đó, trong điều kiện cụ thể của giai đoạn hiện nay, cần có những giải
pháp chủ yếu sau đây:
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu t theo hớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá
Mục tiêu và động lực trực tiếp của kinh tế hàng hoá về mặt kinh tế là phải
thu đợc lợi nhuận tối đa.
Cơ cấu kinh tế mới, hợp lý nghĩa là cơ cấu kinh tế đó phải theo hớng tiến
ớng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội gắn với thu hút
công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trờng kinh tế và
pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu t nớc ngoài.
Với tinh thần đó, Nhà nớc cần tạo môi trờng và điều kiện thuận lợi để tất
cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát huy đợc tiềm năng của
mình, đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá một cách có hiệu quả.
3. Đẩy mạnh và tổ chức tốt phân công lao động xã hội.
Thực trạng của sự phân công lao động xã hội ở nớc ta hiện nay còn ở trình
độ thấp, có nhiều vấn đề bất hợp lý nh: tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm
tỷ lệ quá cao; phân bố lao động cha hợp lý giữa các vùng, giữa các ngành kinh
tế, giữa lao động sản xuất và dịch vụ Vì vậy, để tiến hành phân công lao động
xã hội một cách hợp lý thì Nhà nớc phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận
lợi và tổ chức một cách có quy hoạch trong phạm vi từng ngành, từng vùng và cả
nớc. Mặt khác, ở từng ngành, từng địa phơng, cơ sở và ngời lao động cần tạo
13
mọi điều kiện tìm việc làm, tiến hành việc phân công lao động tại chỗ là chủ
yếu.
Trớc mắt, cần tập trung đẩy mạnh sự phân công lao động trong nông
nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung -
ơng khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) Ban chấp hành Trung ơng
khoá VIII, và Nghị quyết Trung ơng V (khoá IX), nhằm khai thác hợp lý các
tiềm năng to lớn trong nông nghiệp (về lao động, về vốn, về thị trờng) tạo ra
nhiều sản phẩm hàng hoá phục vụ cho nhu cầu thị trờng trong và ngoài nớc. Cần
đẩy mạnh quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế bằng nhiều hình
thức thích hợp.
4. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu mới của khoa học
và công nghệ vào sản xuất.
Khoa học và công nghệ tiên tiến là một yếu tố quan trọng đối với phát
triển kinh tế hàng hoá. Bởi vì, chính nó làm tăng năng suất lao động, tạo ra khối
lợng hàng hoá lớn với chất lợng cao, giá thành hạ. Do đó, nó thoả mãn nhu cầu
hoá.
Trong thời gian tới cần làm tốt mấy vấn đề sau:
Một là, phát triển mạnh thị trờng hàng hoá và dịch vụ. Mở rộng thị trờng,
thực hiện giao lu hàng hoá thông suốt trong cả nớc. Phát triển thị trờng công
nghệ, các loại dịch vụ (Thông tin, t vấn, tiếp thị, tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm ). Khắc phục các mặt tiêu cực nh kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế. Tạo
môi trờng hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh. Thực hiện độc quyền
Nhà nớc trong một số ngành, lĩnh vực nhất định vì lợi ích của đất nớc, đồng thời
tăng cờng kiểm tra, kiểm soát để hạn chế mặt tiêu cực của độc quyền.
Hai là, chỉnh đốn hoạt động của các tổ chức thơng nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế. Đổi mới hệ thống thơng nghiệp nhà nớc để làm tốt vai trò chủ đạo;
khắc phục tình trạng buông lỏng thị trờng nông thôn, miền núi.
Ba là, tổ chức quản lí và hớng dẫn tốt việc thuê mớn và sử dụng lao động.
Bốn là, quản lý chặt chẽ đất đai và thị trờng bất động sản.
Năm là, xây dựng thị trờng vốn, từng bớc hình thành thị trờng chứng
khoán.
7. Hoàn thiện các chính sách tài chính tiền tệ, tín dụng ngân hàng.
Nền tài chính-tiền tệ ổn định thì mới có sự ổn định đợc một loạt vấn đề
kinh tế khác của nền kinh tế, đến sản xuất và lu thông hàng hoá: ổn định giá trị
đồng tiền, tạo cơ sở đề đồng tiền Việt Nam có thể chuyển đổi đợc; ổn định giá
cả thị trờng; thực hiện sự cân đối xuất - nhập khẩu; cân đối tiền hàng; kiềm
chế lạm phát.
Để đạt đợc điều đó, cần thực hiện đổi mới các chính sách tài chính, tiền
tệ, giá cả theo hớng sau đây:
15
- Chính sách tài chính phải nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất phát triển;
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tăng tích luỹ để tạo vốn cho
đầu t phát triển; góp phần kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Để tạo vốn đầu t
phát triển, giải pháp cơ bản và lâu dài là phải làm ăn có hiệu quả, phát triển kinh
tế, đổi mới chính sách thuế
16
tế hàng hóa; mặt khác, Nhà nớc thực hiện tốt vai trò điều tiết sản xuất, lu thông
hàng hoá, tiền tệ, thống nhất quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh trong n-
ớc và kinh doanh xuất nhập khẩu, tăng cờng vai trò kiểm tra kiểm soát để xây
dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá đúng định hớng xã hội chủ nghĩa.
10. Đào tạo và bồi dỡng đội ngũ cán bộ và ngời lao động.
Nhân tố con ngời có vai trò to lớn và quyết định trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và phát triển nền kinh tế hàng hoá nói riêng.
Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu bắt đầu đi vào CNH-HĐH; từ cơ chế
quản lý tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trờng, chúng ta cần
nhanh chóng đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán bộ và ngời lao động có đủ năng lực
và bản lĩnh đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển kinh tế mới.
Chúng ta hết sức coi trọng những nhân tố tiến bộ khoa học và công nghệ,
đồng thời cần thấy rõ những nhân tố đó ảnh hởng đến đâu đối với sự phát triển
kinh tế là do năng lực bên trong quyết định (gọi là nhân tố nội sinh).
Con ngời ở đây không chỉ về số lợng, mà còn cả về chất lợng. Nhìn
chung, đội ngũ cán bộ hiện nay của nớc ta, xét về chất lợng, số lợng và cơ cấu
có nhiều mặt cha ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Đặc
biệt là trong kinh tế thị trờng thì đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh bên cạnh
những mặt tích cực là năng động, thích ứng nhanh với cơ chế mới thì vẫn tồn tại
rất nhiều mặt yếu kém, kinh nghiệm ít, năng lực hạn chế, tổ chức kinh doanh
kém hiệu quả, quan hệ với nớc ngoài còn nhiều sơ hở, mất cảnh giác. Không ít
cán bộ cha quán triệt đầy đủ đờng lối, chính sách của Đảng, nặng về kinh doanh
đơn thuần
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Càng đi vào kinh tế thị trờng, càng hội nhập
vào kinh tế khu vực và thế giới, trong thời đại trí tuệ, bùng nổ thông tin, thì
nhiệm vụ cách mạng ngày càng khó khăn, phức tạp, công việc càng mới mẻ
Nhà nớc phải ra sức chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dỡng cán bộ.
Đội ngũ những ngời lao động ở nớc ta cho đến nay, phần đông cha đợc
đào tạo và huấn luyện nghề nghiệp. Vì vậy, tuỳ theo yêu cầu, chức năng, nhiệm