Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội lần thứ VI( 15-18/12/1986) của Đảng đánh dấu một bước chuyển hướng và đổi mới
quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực. Trong lĩnh vực kinh tế, đó là chuyển
hướng về bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đổi mới các chính sách kinh tế và cơ chế quản lý,
nhằm khai thác mọi tiềm năng của đất nước, giải phóng năng lực sản xuất, tăng nhanh sản phẩm
xã hội, thực hiện mục tiêu ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân. Tuy nhiên đất nước ta chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”(thông qua
vào Đại hội Đảng lần thứ VII ngày 27/6/1991) đã đề ra: Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết
thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến
trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã
hội chủ nghĩa phồn vinh. Trong đó việc phát triển kinh tế đối ngoại cũng được chú trọng phát
triển. Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân
thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại cũng được đề cập đến trong các kì đại hội sau. Gần đây
nhất là đại hội Đảng lần thứ X(18/4-25/4/2006) Ban chấp hành trung ương Đảng đã nhận định:
Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được mở rộng; việc thực hiện
các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ, quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiện các hiệp định
hợp tác đa phương, song phương khác đã góp phần tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng
về kinh tế đối ngoại, nhất là xuất khẩu.
Chính vì tầm quan trọng việc phát triển kinh tế đối ngoại hiện nay nên em đã chọn nghiên cứu
đề tài: “Kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.Hơn thế nữa em
đang theo học chuyên ngành Kinh tế quốc tế cũng có liên quan đến vấn đề kinh tế đối ngoại, việc
nghiên cứu này giúp em thu thập thêm nhiều kiến thức bổ ích cho việc học tập bây giờ cũng như
cho thực tiễn khi làm việc sau này.
Kinh tế đối ngoại gồm rất nhiều hình thức như: ngoại thương, hợp tác sản xuất, hợp tác khoa
học-công nghệ, đầu tư quốc tế, hợp tác tín dụng quốc tế, các hoạt động dịch vụ như du lịch quốc
tế, giao thông vận tải, thông tin liên lạc quốc tế, dịch vụ thu và chuyển ngoại tệ...tuy nhiên trong đề
1. Phân công lao động quốc tế.
Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung cáo một hoặc một số
sản phẩm và dịch vụ của một quốc gia nhất định dựa trên cơ sở những lợi thế của các quốc gia đó
về các điều kiện tự nhiên kinh tế, khoa học công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của quốc gia
khác thông qua trao đổi quốc tế.
Hình thái phân công lao động quốc tế mới dựa trên nguyên tắc "chuỗi giá trị" hay "chuỗi cung
ứng toàn cầu". Nước ta chỉ là một khâu trong một quá trình sản xuất ra một sản phẩm. Làm tốt hơn
thiên hạ khâu nào thì ta sẽ dành được chỗ đứng trong hệ thống phân công lao động toàn cầu và khu
Khúc Ngọc Anh
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vực ở khâu đó. Nhưng hiện nay, nhìn chung, Việt Nam mới tham gia vào sự phân công này ở
những khâu có giá trị gia tăng thấp. Như vậy, mục tiêu đặt ra mang tính sống còn là, Việt Nam
phải làm tốt khâu mình đang làm, nhanh chóng chuyển lên nấc cao hơn trên bậc thang giá trị đó.
2. Lý thuyết về lợi thế - cơ sở lựa chọn của thương mại quốc tế.
A.S.Mith, đã đưa ra lý thuyết lợi thê tuyệt đối, song lý thuyết này như David Ricardo nhận xét
chỉ mới giải thích được một phần nhỏ sự phân công lao động và thương mại quốc tế, vì vậy ông
đưa ra lý thuyết mới – lý thuyết lợi thế tương đối.Theo thuyết này một dân tộc có hiệu quả thấp
hơn so với dân tộc khác trong việc sản xuất sản phẩm vẫn có cơ sở cho phép tham gia vào sự phân
công lao động và thương mại quốc tế, tạo lợi ích cho dân tộc mình.
Một số nhà kinh tế sau David Ricardo đã làm rõ hơn bản chất và đưa ra cách lý giải về lợi thế
tương đối như Các Mác, G.Haberler...Song cách lý giải đều đi đến một chân lý chung là lợi thế đối
so sánh tồn tại là khách quan mà mỗi quốc gia phải lợi sụng để góp phần vào sự phân công lao
động và thương mại quốc tế nhằm nâng cao hiểu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại.
3.Xu thế thị trường.
Toàn cầu hóa và khu vực hóa trở thành xu thế tất yếu của thời đại dẫn đến “mở cửa” và “hội
nhập” của mỗi quốc gia vào cộng đồng quốc tế trong đó có xu thế phát triển của thị trường thế
giới.Xu thế này liên quan đến phân công lao động quốc tế và vận cụng lợi thế so sánh giữa các
quốc gia trong thương mại các nước với nhau.
thương mại tự do Bắc Mỹ NAFTA gồm Canada, Mexico, Mỹ; Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEAN...Xu thế tập đoàn hóa này đem lại cơ hội và cả những bất lợi cho sự phát triển kinh tế đất
nước.
Tóm lại sự hình thành và phát triển kinh tế đối ngoại mà cơ sở khoa học của nó chủ yếu là
được quyết định bởi sự phân công và hợp tác lao động trên phạm vi quốc tế được các quốc gia vận
dụng thông qua lợi thế so sánh để quyết định lựa chọn các hình thức kinh tế đối ngoại trong xu
hướng toàn cầu hóa.
Phần II: Những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại.
I.Ngoại thương.
Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ (hàng hóa vô
hình và hàng hóa hữu hình) giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu.
Ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, thuê nước ngoài ra công tái xuất
khẩu, trong đó xuất nhập khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở
các nước nói chung và nước ta nói riêng.
Trong điều kiện nền ngoại thương của thế giới có nhiều đặc điểm mới ngoại thương Việt
Nam cũng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng
trưởng của nền kinh tế ,cải thiện cán cân thanh toán,tạo công ăn việc làm và giúp nền kinh tế
Việt Nam từng bước hội nhập với các nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới.
1.Xuất khẩu
a, Tình hình xuất khẩu
Trước đổi mới, Việt Nam chủ yếu có quan hệ buôn bán với các nước trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa cũ và một số nước bạn bè có cảm tình với Việt Nam. Từ sau đổi mới, đặc biệt là từ sau khi
Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, số nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam cũng
như nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam bước đầu được mở rộng.
Từ năm 1995, sau khi Mỹ bỏ cấm vận, giữa Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ bình thường,
Việt Nam gia nhập Hiệp hội Các nước Đông Nam Á, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng
hoá từ Việt Nam đã tăng nhanh. Đặc biệt, từ sau khi Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ được ký kết
năm 2000 và khi Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007,
hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đã nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá hàng năm thời kỳ 1990-1999 đạt 20%;
Năm 2006 7,163.3 2,941.0 41.1 4,222.3 58.9
Nguồn: Bộ Thương mại
Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 đạt 48,4 tỉ USD, tăng
21,5% so với năm 2006. Kết quả này là sự nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp trong năm qua.
Theo ước tính, nếu tính bằng USD tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt 67,9%, thuộc loại
cao ở châu Á và thế giới. Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt khoảng 568 USD,
cao nhất từ trước tới nay. So với năm trước, xuất khẩu tăng 21,5%. Đây là năm đầu tiên Việt Nam
gia nhập WTO, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước cao hơn tốc độ
tăng chung, chứng tỏ khu vực này đã tận dụng được cơ hội do vị thế mới của thành viên WTO.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên cho biết: Từ khi gia nhập WTO, chúng ta đã và
đang chứng kiến những chuyển biến tích cực của nền kinh tế đất nước. Tăng trưởng GDP cao
8,48% so với năm 2006, XK đạt 48,56 tỉ USD, tăng 21,5%; quý I/2008, tổng kim ngạch XK ước
đạt 13 tỉ USD, tăng 22,7%. Theo ông, việc gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc VN hội nhập
sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới và độ mở của nền kinh tế ngày càng lớn với tổng kim ngạch
XNK tương đương khoảng 160% GDP, trong đó nhập khẩu chiếm gần 90% GDP (Báo lao động)
b, Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam
Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong 15 năm gần đây đã có sự thay đổi theo hướng tích cực.
Tỷ trọng nhóm hàng nông - lâm - thủy sản đã giảm từ 52,2% năm 1990 xuống còn khoảng 20,5%
năm 2006. Tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ tương đối ổn định:
Khúc Ngọc Anh
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
33,9% năm 2001; 40,4% năm 2004 và 39,0% năm 2006. Tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu, khoáng
sản cũng dao động trong khoảng từ 21,6 % năm 2001 đến 24,7% năm 2005 và 23,4% năm 2006.
Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2006 (%)
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nông, Lâm, Thuỷ sản 24,3 23,9 22,1 20,5 21,1 20,5
Nhiên liệu,khoáng sản 21,6 20,5 19,9 22,7 24,7 23,4
CN và TCMN 33,9 40,0 40,5 40,4 38,4 39,0
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, năm 2005 và tính toán của tác giả
Năm 2007 xuất khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng, trong đó có những mặt hàng có kim ngạch
tăng khá cao: dệt may, điện tử máy tính, hàng thủ công mỹ nghệ, dây điện và cáp điện, sản phẩm
nhựa, gỗ, cà phê, hạt tiêu, hạt điều. Đã có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là
Khúc Ngọc Anh
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính, cà phê, gạo và cao su với kim
ngạch đạt 33 tỷ USD, chiếm 68,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
c, Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam:
Đến năm 2006, thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã được mở rộng đến 220 nước và vùng
lãnh thổ. Từ chỗ chúng ta phải lệ thuộc hoàn toàn vào khu vực thị trường Đông Âu và Liên xô
(cũ), từ năm 1991 đến nay, thị trường ngày càng được mở rộng từ ASEAN đến châu Á, châu Âu
và châu Mỹ, châu Phi. Nếu như từ năm 2000 trở về trước thị trường xuất khẩu thị trường chủ yếu
của nước ta chủ yếu ở khu vực châu Á, thì từ 2001 đến nay, thị trường đã được đa dạng hoá.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường châu Mỹ tăng đều trong 3 năm qua (từ 21,3%
năm 2004 lên 23,2% năm 2006). Thị trường Hoa Kỳ vẫn là đối tác chính của Việt Nam về xuất
khẩu với kim ngạch 8 tỉ USD, chiếm tỷ trọng 86,8%, các nước khác chỉ chiếm 13,2% trong tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Mỹ.
Trong khi đó, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn đối với xuất khẩu giày dép nhưng thị trường
châu Âu vẫn duy trì được tỷ trọng 19-20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước từ năm
2004 đến nay. Các nước EU chiếm tỷ trọng 89,2% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường
châu Âu (6,81 tỉ USD), tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2005.
Riêng châu Á, kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng rất lớn so với các châu lục khác, bởi đây là
thị trường lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài ra, việc số liệu thống kê về xuất khẩu vào châu Đại
Dương được tính gộp vào châu Á (kể từ năm nay) đã làm tăng thêm tỷ trọng của khu vực này
(châu Đại Dương chiếm tỷ trọng 8,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước). Trong đó,
khu vực Đông Bắc Á chiếm tỷ trọng 51,8%, đạt kim ngạch 10,79 tỉ USD; khu vực Đông Nam Á
chiếm tỷ trọng 31,5%, đạt kim ngạch 6,56 tỉ USD; châu Đại Dương chiếm tỷ trọng 15,87%, đạt
14.455 15.027 16.706 20.176 26.503 32.442 39.605
Tốc độ
tăng trưởng
(%)
25,3 4,0 11,2 20,8 31,5 22,4 22,1
DN 100%
vốn trong
nước
7.646 8.228 8.834 10.015 12.017 13.889 16.740
- Tỷ trọng 52,9 54,8 52,9 49,6 45,0 43,0 42,0
- Tăng
trưởng (%)
11,5 7,6 7,4 13,4 20,3 15,6 20,5
DN có vốn
ĐTNN
6.809 6.799 7.872 10.161 14.486 18.553 22.865
- Tỷ trọng 47,1 45.2 47,1 50,4 55,0 57,0 58,0
- Tăng
trưởng (%)
45,4 -0,2 15,8 29,1 42,6 28,1 23,2
Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Thương mại
* Hạn chế:
Khúc Ngọc Anh
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Tốc độ chuyển dịch theo hướng đáp ứng yêu cầu biến đổi của thị trường và xu thế thế giới
diễn ra còn chậm, tỷ trọng hàng thô, sơ chế vẫn còn cao. Tỷ trọng nhóm hàng chế biến công nghệ
cao còn quá nhỏ bé.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu xuất khẩu nói riêng còn chưa vững chắc.
thể, rõ ràng.
Khúc Ngọc Anh
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Công tác thị trường ngoài nước và hoạt động của thương vụ Việt Nam tại nước ngoài cần có
những chuyển biến mạnh mẽ nhằm cung cấp kịp thời tình hình chính trị, thị trường, chính sách,
biện pháp quản lý xuất nhập khẩu, rào cản....
- Xóa bỏ những biện pháp mang tính trợ cấp, cần tìm ra các biện pháp hỗ trợ mới. Theo đó,
đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm đối tác, thị
trường mới, mặt hàng mới, thâm nhập các kênh phân phối, tham dự hội chợ, triển lãm... được xem
là những việc cần làm ngay.
- Khả năng bị kiện hay trả đũa có thể sẽ gia tăng trong thời gian tới, vì vậy việc chuẩn bị và
minh bạch hoá sổ sách, kế toán, theo dõi thông tin, phối hợp công bố thông tin, nhân lực am hiểu
luật lệ, vận động hành lang, ngoại giao... sẽ là những vấn đề doanh nghiệp phải chuẩn bị.
- Rà soát các thủ tục hành chính có ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu của từng ngành hàng,
từng doanh nghiệp... để có biện pháp xử lý kịp thời.
- Xây dựng quy hoạch, chính sách và giải pháp để xây dựng các vùng sản xuất và cung ứng
nguyên liệu tập trung, các vùng sản xuất lớn cho các ngành, doanh nghiệp sản xuất mặt hàng xuất
khẩu.
- Triển khai, phát triển nhanh công nghiệp phụ trợ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu.
- Xây dựng quy trình và thực thi các biện pháp quyết liệt để kiểm tra chất lượng hàng xuất
khẩu nhằm nâng cao uy tín và chất lượng hàng xuất khẩu Việt Nam.
- Đổi mới nhanh công nghệ, thiết bị, ứng dụng công nghệ sinh học, áp dụng quy trình kỹ thuật
nghiêm ngặt để sản xuất sản phẩm xuất khẩu phù hợp các tiêu chuẩn quốc tế.
- Đẩy mạnh việc xây dựng và quảng bá, đăng ký, bảo vệ thương hiệu nhằm duy trì vị thế của
sản phẩm “Made in Vietnam“ trên trường quốc tế.
- Phát huy vai trò của các sàn giao dịch điện tử để tiết kiệm chi phí, thời gian giao dịch, đẩy
nhanh quá trình lưu thông.