Tài liệu LUẬN VĂN: Cơ chế thị trường trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam doc - Pdf 10


LUẬN VĂN:

Cơ chế thị trường trong thời
kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã
Hội ở Việt Nam

I.

A. Lời nói đầu
Theo các nhà sử học, đất nước ta đã trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ
nước,chống thù trong giặc ngoài.Trong chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh
đạo nhân dân một cách sáng suốt và kiên định đánh đuỏi bè lũ lang sói xâm lăng.
Từ một nước bị thống trị dưới ách đế quốc thực dân và bị kìm hãm về mọi mặt
kinh tế -chính trị-xã hội dưới thời phong kiến,đát nước ta dã vươn lên đánh đổ
các xiềng xích để đi theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội .Không phải ngẫu nhiên
mà giữa lúc các nước Đông Âu, Liên Xô, Cu Ba và một số nước trong hệ thống
các nước Xã Hội Chủ Nghĩa bị tan dã hay khủng hoảng mà nưpức ta vẫn bỏ qua
chế độ Tư Bản Chủ Nghĩa vẫn kiên định chọn con đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Sở

hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường. Tôi mong rằng bài tiểu luận này
của tôi phần nào sẽ giải quyết được vấn đề đó.
B. Nội dung.
I. Cơ chế kinh tế và những yếu tố cấu thành nên nó.
Cơ chế kinh tế là nguyên tắc là phương thức vận hành của nền kinh tế. Bất cứ
một nền kinh tế của một quốc gia, một khu vực nào cũng đều vận động theo một
cơ chế nhất định. Nhưng dù theo cơ chế nào thì nền kinh tế cũng hoạt động và
đáp ứng được ba yêu cầu cơ bản để phục vụ cho xã hội. Trước hết, đó là sản xuất
cái gì? Sau đó là sản xuất chúng như thế nào rồi mới xác định thị trường, đối
tượng tiêu thụ: sản xuất cho ai? Giống như một số nước Xã Hội Chủ Nghĩa, nền
kinh tế của nước ta đã và đang vận động theo hai hình thức kinh tế : cơ chế kinh
tế tự nhiên hoàn toàn hay còn gọi là nền kinh tế “khép kín” , tự cung tự cấp ; và
nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Nền kinh tế nước ta đã có một thòi gian khá dài vận động theo cơ chế tự cung
tự cấp mà ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa là nền kinh tế tập trung chỉ huy còn ở
nước ta là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Thực tế cho thấy, vào những năm
60 ( ở miền Bắc) và cả nước vào những năm 1975 đến nay , chúng ta đã mắc
những sai lầm về nhận thức nền kinh tế thị trường và đã có những bài học sâu sắc
về tính nóng vội , chủ quan , duy ý chí, vi phạm các qui luật kinh tế như: qui luật
giá trị, qui luật cung cầu đặc biệt là qui luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhờ nhận thức được những sai
lầm trong đường lối chỉ đạo kinh tế , từ những năm 1986, nước ta đã chủ trương
đổi mới tronng chính sách chỉ đạo kinh tế , đưa nền kinh tế nước ta sang thời mở
cửa để hội nhập với kinnh tế trên thế giới, xu hướng phát triển chunng của thời
đại .
II. Vì sao nước ta lại có xu thế chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trường.

Trong cơ chế tập trung chỉ huy Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng mệnh lẹnh
hành chính là chủ yếu. Điều này thể hiện ở việc Trung Ưong đưa kế hoạch xuống
bằng một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh .
Các cơ quan hành chính - kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở , làm giảm tính chủ động sáng tạo , tự
chịu trách nhiệm của đơn vị , đồng thời lại không có cơ chế ràng buộc trách
nhiệm trước những quyết định của các cơ quan đề ra quyết định đó.
Duy trì và phát triển chế độ công hữu tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn
dân và tập thể là chủ yếu .Ngược lại,sở hữu tư nhân cùng với các thành phần kinh
tế khác ngoài kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể bị coi là “phi Xã Hội Chủ
Nghĩa” không được coi trọng phát triển .
Không thừa nhận đầy đủ nền kinh tế hàng hoá, hiện vật hoá và hình thức hoá
quan hệ hàng hoá tiền tệ , vi phạm qui luật kinh tế khách quan của thị trường .
Quản lý kinh tế và kế hoạch hoá chủ yếu thông qua chế độ cấp phát và giao
nộp sản phẩm . Chế độ bao cấp được thể hiện dưới các hình thức: Bao cấp qua
giá , chế độ cung cấp và cấp phát vốn của ngân sách mà không có cơ chế chặt chẽ
ràng buộc vật chất với người được cấp phát vốn.
ở nước ta, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp tồn tại trong một thời gian khá
dài , khi đó đất nước cần tập trung giải quyết nhiệm vụ chiến tranh hết sức nặng
nề , nhu cầu đời sống dân cư còn thấp , đơn giản và tương đối giống nhau. Trình
độ phát triển kinh tế thấp , xu hướng phát triển kinh tế theo chiều rộng còn phù
hợp bởi vậy cơ chế tập trunng quan liêu bao cấp còn phát huy tác dụng .Khi điều
kiện thay đổi, cơ chế kinh tế cũ đã trở nên lỗi thời và trở thành một trong những
nguyên nhân dẫn dến tình trạng trì trệ, giảm động lực phát triển kinh tế . Cho nên
chủ trương đổi mới do Đảng ta đề ra và lãnh đạo đã thực sự đi vào cuộc sống và
đem lại những thành tựu to lớn cho nền kinh tế nước ta . Từ xuất phát điểm yếu
kém cuả nền kinh tế nước ta và những hạn chế của cơ chế bao cấp để lại muốn

cực mà thay thế phủ định được cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Những ưu
điểm đó là:
Tạo điều kiện phát huy mọi tiềm năng, thúc đẩy tiềm năng phát triển của mọi
người , mọi cá nhân trong xã hội vì thế thúc đẩy kinh tế năng động và có hiệu
quả hơn.
Có khả năg tự điều chỉnh sửa chữa sai lầm kịp thời vì thế hạn chế phạm vi và
mức độ tác hại của những sai lầm kinh tế.
Lấy giá cả làm tín hiệu phản hồi khách quan của thị trường và do đó sát với
thực tế hơn và giảm được tính chủ quan duy ý chí .
Thị trường phản ánh nhu cầu xã hội và có “tiếng nói” quyết định trong việc
phân bố các nguồn lực cho sản xuất hình thành cơ cấu kinh tế . Nhờ vậy mà cơ
chế thị trường phân bố nguồn lực cho các ngành và các vùng kinh tế.
2.2.2 Những nhược điểm của cơ chế thị trường
Cùng với những mặt tích cực thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển thì cơ
chế thịi trường cũng tồn tại những hạn chế không thể khắc phục được. Những
hạn chế đó là:
Thường xuyên tạo ra sự mất cân đối ở tầm vĩ mô, làm giảm hiệu quả trên qui
mô nền kinh tế quốc dân .
Chứa những yếu tố làm giảm phát triển kinh tế do độc quyền cạnh tranh tự do,
giữ bí quyết kinh doanh, sản xuất ở mỗi đơn vị sản xuất.
Do cạnh tranh tự do và chạy theo lợi nhuận nên các đơn vị sản xuất ồ ạt và để
giảm giá trị cá biệt họ không ngần ngại buôn gian bán lận , làm hàng giả dẫn đến
chất lượng hàng hoá kém , lừa khách hàng, trốn thuế Tất cả nhằm mục đích
thu lời cao . Vì thế , mà nhiều bệnh trạng xã hội phát sinh và phát triển như: phân
hoá giàu nghèo , lạm phát , giảm phát.
Cũng vì do lợi nhuận mà các nhà sản xuất kinh doanh luôn tìm cách làm hạ giá
trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội nên họ đầu tư và phát triển khoa học kỹ thuật để

hội v.v Do đó cần có sự quản lý của Nhà nước để khắc phục những hạn chế ,
những phát sinh tiêu cực đó .Sự quản lý của Nhà nước còn nhằm hướng sự phát
triển kinh tế theo những mục tiêu, phương hướng nhất định , hạn chế mặt tiêu
cực và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.Hơn nữa , sự quản lý của Nhà nước thông qua
các công cụ rất có hiệu lực.
3.2. Sự quản lý kinh tế của Nhà nước là một yêu cầu có tính tất yếu khách
quan.
Thông qua nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở tầm kinh
tế vĩ mô và vi mô, trong đó quản lý kinh tế vĩ mô là chủ yếu .
Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa với tư cách là người đại diện cho lợi ích của
nhân dân , của toàn xã hôị, có nhiệm vụ quản lý đất nước về hành chính , kinh tế
và xã hội
Nhà nước là người đại diện cho sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, có nhiệm
vụ quản lý các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước .
3.3. Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở thời kỳ quá
độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội được thể hiện ở:
3.3.1. Chức năng kinh tế của nhà nước thông qua nhiệm vụ tổ chức toàn bộ
nền kinh tế quốc dân ở tầm vĩ mô và vi mô, trong đó quản lý kinh ttế vĩ mô là chủ
yếu.
3.3.1.1. Quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô.
Thực hiện chức năng kinh tế này, Nhà nước sử dụng các công cụ có hiệu quả
như hệ thống luật pháp, đặc biệt là luật pháp kinh tế,hệ thống các chính sách kinh
tế - xã hội trước hết là chinh sách vè tài chính , tín dụng, tiền tẹ ngân hàng; kế
hoạch hoá dịnh hướng phát triể kinh tế ; lực lượng dự trữ quốc gia; kinh tế Nhà
nước. Những công cụ trên với tư cách là hệ thống công cụ để định hướng phát
triển nền kinh tế và chỉ đạo hoạt động, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát
triển theo định hương Xã Hội Chủ Ngiã và mục tiêu đề ra, đảm bảo những cân

của nó đối với Nhà nước .
Bổ nhiệm , miễn nhiệm một số chức danh của doanh nghiệp .
Ban hành chính sách cần thiết có tính pháp lệnh đối với doanh nghiệp.
Kiểm tra việc thực hiện các chính sách đó tại các doanh nghiệp.
Hai chức năng quản lý trên của Nhà nước có quan hệ chặt chẽ với nhau. Bởi
vì, kinh tế Nhà nước là một trong những phương tiện vật chất để Nhà nước quản
lý vĩ mô nền kinh tế. Để làm tốt hai chức năng trên cần phải giải quyết tốt, đúng
đắn mối quan hệ và sự khác nhau giữa chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và
vai trò người đại diện chủ sở hữu tài sản công của Nhà nước với chức năng quản
lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; đồng thời đòi hỏi Nhà nước phải sử
dụnh một cách đồng bộ, có hiệu quả cao các loại công cụ, các biện pháp khác
nhau, bao gồm cả biện pháp hành chính và biện pháp kinh tế. Một mặt, đảm bảo
sự phù hợp với điều kiện tâm lý, truyền thống, thực tế của đất nước, của dân
tộc.Mặt khác, phải đáp ứng yêu cầu, phát triển nền kinh tế năng động có hiệu quả
cao theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa phù hợp với đặc điểm xu hướng của thời
đại.
3.3.1.3. Công cụ để Nhà nước thực hiện vai trò chức năng của mình.
Hệ thốnng pháp luật:
Đặc biệt là luật kinh tế phải đầy đủ, đồng bộ, đồng nhất không ngừng được
hoàn chỉnh và có đủ hiệu lực để thực hiện nó. Thông qua công cụ này, Nhà nước
tạo ra hành lang để lập và duy trì kỷ cương trật tự hướng dẫn các doanh nghiệp
hoạt động theo pháp luật, chống mọi hoạt động làm ăn phi pháp.
Kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân:
Đây là công cụ quan trọng của Nhà nước để hoạch định các chương trình định
hướng, mục tiêu trong từng thời kỳ. Kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân hoạt
động tự giác, có ý thức của Nhà nước để quản lý toàn bộ nền kinh tếtheo một
mục tiêu thống nhất đã định trước trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật


III. Những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta.
Đất nước ta mới chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, một nền
kinh tế “khép kín” sang thời mở cửa của kinh tế thị trường, chắc chắn không phải
không gặp những bỡ ngỡ, lúng túng bước đầu. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã
đề ra những phương hướng và giải pháp để tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế ở
nước ta và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1. Nhận thức về cơ chế kinh tế mới ở nước ta.
Đại biểu Đại hội toàn quỗc lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
khẳng định những nhận thức cơ bản về cơ chế kinh tế mới ở nước ta.
Sản xuất hang hoá không đối lập với Chủ Nghĩa Xã Hội, mà là thành tựu phát
triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây
dựng Chủ Nghĩa Xã Hội và cả khi Chủ Nghĩa Xã Hội được xây dựng.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường theo
định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta là một thể thống nhất với nhiều lực
lượng tham gia sản xuất và lưu thông, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ
đạo thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới.
Thị trường là căn cứ, là đối tượng của kế hoạch. Kế hoạch chủ yếu mang tính
định hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô. Thị trường có vai trò
trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án
tổ chức sản xuất kinh doanh.
Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của
Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh
doanh nhằm phát huy tác dụng tích cực đi đôi với việc ngăn ngừa các tác động
tiêu cực.
2. Những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta.
Mục tiêu đối với cơ chế kinh tế mà Đại hội VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam
là xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành tương đối, đồng bộ cơ
c. Kết luận
Như vậy, nước ta lựa chọn con đường Xã Hội Chủ Nghĩa bỏ qua chế độ Tư
bản chủ nghĩa từ một nước nông nghiệp lạc hậu với nền kinh tế “khép kín”. Do
đó chuyển sang nền kinh tế thời mở cửa của cơ chế thị trường là một quá trình
lâu dài và đầy khó khăn, phức tạp. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, chế độ xã hội
cũ với cơ chế bao cấp về kinh tế đã kìm hãm không chỉ nền kinh tế mà còn hạn
chế cả sự phát triển khoa học kỹ thuật của nước ta. Vì vậy, để bước qua ngưỡng
cửa nghèo, thực hiện mục tiêu dân giàu - nước mạnh - xã hội công bằng văn
minh thì nước ta phải chuyển sang kinh tế thời mở cửa - nến kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước. Để thực hiện được mục tiêu này, chúng ta đã đưa ra
các biện pháp, các hệ thống pháp luật và hơn hết, chúng ta phải tuân theo các quy
luật khách quan của cơ chế thị trường và của xã hội: quy luật phủ định của phủ
định, quy luật mâu thuẫn, quy luật cung cầu và đặc biệt là quy luật sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lướnganr xuất. Chỉ có như
vậy, chúng ta mới thấy được những cái lỗi thời lạc hậu của chế độ xã hội cũ để
thay thế vào đó những cái tiến bộ hơn, phù hợp hơn với tình hình kinh tế xã hội
thế giới, từ đó nó thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển. Đồng thời, các quy luật
khách quan cũng chỉ ra các mặt đối lập, các mâu thuẫn của nền kinh tế trong xã
hội cũ; nó vạch rõ tính hai mặt tồn tại vốn có của nền kinh tế thị trường. Từ đó
cho chúng ta thấy được vai trò rất quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý,
điều tiết nền kinh tế thị trường để hạn chế những mặt tiêu cực và phát huy những
mặt tích cực của cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hơn
nữa, các quy luật khách quan đó còn chỉ ra những thế mạnh, những tiềm năng
kinh tế của nước ta để làm sao chúng ta phát triển nền kinh tế theo kịp với xu thế

đời sống xã hội nước ta (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1999).
6. Báo đầu tư
7. Bài giảng của thầy Phạm Văn Dũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status