Tài liệu LUẬN VĂN: Vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Pdf 10

LUẬN VĂN:

Vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam

LờI Mở Đầu Có thể nói , trong điều kiện toàn cầu , khu vực hoá và được biểu hiện rõ nhất ở
xu thế phát triển của thị trường thế giới trong mấy thập niên gần đây , đối với bất
cứ quốc gia nào việc xác định một cách đúng đắn hoạt động mở cửa hội nhập kinh
tế thế giới có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế –xã
hội . Đặc biệt đối với nước ta kể từ khi thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập
trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (1986)
thì vấn đề đó lại càng trở nên hết sức quan trọng.
Thực tế các nước phát triển đi trước đã cho thấy việc chú trọng đến hoạt động
kinh tế đối ngoại trong công cuộc mở cửa hội nhập thị trường thế giới là hoàn toàn
có cơ sở và hoàn toàn đúng đắn . Lợi ích kinh tế – xã hội mà kinh tế đối ngoại

1.2 Vai trò của kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại có vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển của mỗi
quốc gia đặc biệt là đối với nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế đối ngoại góp phần nối liền sản
xuất,trao đổi , thị trường trong nước với quốc tế và với khu vực , nhờ có hoạt động
kinh tề đối ngoại nước ta có thể trao đổi hàng hoá sản phẩm với các nước khác
nghĩa là vừa xuất khẩu ra nước ngoàI,vừa nhập khẩu những hàng hoá ,sản phẩm
cần thiết.Sự nghiệp công nghiệp hoá ,hiện đại hoá
đất nước đang trong giai đoạn quan trọng vì thế cần có một nguồn vốn lớn , cần
khoa học,kỹ thuật công nghệ mới cần những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền
kinh tế , nhờ có kinh tế đối ngoại mà chúng ta đáp ứng được những nhu cầu quan
trọng đó .Không chỉ như vậy , kinh tế đối ngoại còn góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thực hiện tốt mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp phát triển ,tạo ra nhiều công ăn việc làm , giảm tỉ lệ thất nghiệp ,tăng thu
nhập ,ổn định và cảI thiện đời sống nhân dân theo mục tiêu dân giàu nước mạnh
xã hội công bằng dân chủ văn minh. 1.3 Những cơ sở khoa học của việc hình thành và phát triển kinh tế đối ngoại
1.3.1 Phân công lao động quốc tế :
Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung cấp
môt hoặc một số loại sản phẩm và dịnh vụ của một quốc gia nhất định dựa trên cơ
sở những lợi thế của quốc gia đó về các điều kiện tự nhiên ,kinh tế khoa học ,công
nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của quốc gia khác thông qua trao đổi quốc tế .
Vậy vì sao nói phân công lao động quốc tế là cơ sở khách quan của việc hình
thành và phát triển kinh tế đối ngoại ?
Sự phát triển của phân công lao động quốc tế làm xuất hiện nhiều hình thức
hợp tác giữa các nước ,đó chính là một biểu hiện của kinh tế đốingoại.
Phân công lao động quốc tế với tốc độ phát triển ngày càng nhanh cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lại càng


S
ản phẩmHao phí lao đ
ộng

Mỹ Châu Âu
1 đơn vị lương thực
1 đơn vị quần áo
1 3
2 4

Như vậy , mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và
kém lợi thế về một số mặt hàng khác , đó chính là cơ sở để xác định việc chuyên
môn hoá sản xuất mặt hàng nào , từ đó có những quyết định lựa chọn các hình
thức kinh tế đối ngoại cụ thể .
1.3.3 Xu thế thị trường thế giới :
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà xu thế toàn cầu hoá đang phát
triển nhanh chóng , gia tăng mạnh mẽ quy mô và phạm vi giao dịch hàng hoá ,
dịch vụ xuyên quốc gia , dòng vốn đầu tư lan tỏa ra toàn cầu , công nghệ , kỹ
thuật truyền bá nhanh chóng và rộng rãi . Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá
phát triển ngày càng nhanh ; vòng đàm phán Uruguay kết thúc , Hiệp định
Marakest được ký kết , Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO)ra đời từ 01.01.1995 thu hút tới 136 và nay là 144 quốc gia và lãnh thổ ,
chiếm gần 100% kim ngạch buôn bán quốc tế , theo hướng giảm mạnh hàng rào quan thuế và phi quan thuế , mở cửa thị trường hàng hoá , đầu tư , dịch vụ

lưu thông hàng hoá với bên ngoài thoả mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng về
hàng hoá theo số lượng , chất lượng mặt hàng địa điểm và thời gian phù hợp với
chi phí ít nhất .
Cụ thể :
Thứ nhất -Tạo nguồn vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước
Thứ hai – Chuyển hoá giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng
chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy .
Thứ ba - Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi
trường thuận lợi cho sản xuất , kinh doanh .
2.1.2. Thực trạng và thành tựu ngoại thương đạt được trong thời gian qua.
Ngoại thương bao gồm hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá , thuê
nước ngoài gia công tái xuất khẩu , trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên và là
trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại ở các nước nói chung và ở nước ta
nói riêng .
Xuất nhập khẩu là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế đất nước , hoạt
động xuất nhập khẩu đã góp phần xứng đáng của mình vào những thành tựu to
lớn rất quan trọng mà toàn Đảng , toàn dân đã dành được trong thời kỳ đổi mới
đất nước . Trong 10 năm (1991-2000) kim ngạch xuất khẩu tăng 5,6 lần (từ 2,4 tỉ
USD lên 13,5 tỉ USD), bình quân hàng năm tăng 18,4% , cao gấp 2,6 lần so với
tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của GDP là 7,6%. Riêng năm 2003 đạt
khoảng 19,5 tỉ USD trong tổng số hơn 40 tỉ USD GDP của nước ta. Cơ cấu xuất
nhập khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực , tỉ trọng sản phẩm xuất khẩu qua
xuất khẩu tăng từ 8% lên 40%, từ chỗ chỉ có 4 mặt hàng có kim ngạch trên 100
triệu USD nay đã có 8 mặt hàng , trong đó nước ta chiếm vị thế vào loại hàng
đầu thế giới về xuất khẩu gạo , cà phê , hạt điều , hồ tiêu - điều không thể hình
dung nổi vào những năm trước 2000. Riêng về nhập khẩu tỉ trọng hàng tiêu
dùng nhập khẩu giảm từ 15%(1990) xuống 4%(2000). Hiện nay , Việt Nam
nhập khẩu chủ yéu là tư liệu sản xuất ( chiếm tới 96%trong tổng số kim ngạch


Multi National Corporation). Số lượng các công ty này đã lên tới 50% trong năm 2000, nguồn FDI của các công ty này còn cung cấp kĩ thuật , bí quyết công nghệ ,
kinh nghiệm quản lý ,…vào các nước tiếp nhận đầu tư , tạo cơ hội cho nước này
phát triển , phát huy lợi thế so sánh của mình về nguồn lao động dồi dào , và giá
nhân công thấp . Vì thế các nước đang phát triển mới có cơ hội để thu hút
FDI(xem bảng 1)
Bảng 1: Dòng vốn đầu tư quốc tế giai đoạn 1987-1999(tỷ USD)

Năm

Các nư
ớc phát triển

Các nư
ớc
đang phát
triển
Th
ế giới

1987-1988 142 31 173
1989 172 29 201
1990 176 35 211
1991 115 41 158
1992 111 55 166

1993



178,8464

1998 465,5 179,5 644
1999 657,9 207,6 865,5
2000 800 200 1000
Tổng cộng 3651,8 1391,70 5043,5

Bảng trên cho thấy nguồn vốn FDI trên toàn thế giới tăng liên tục và đến nay
đạt trên 5.000 tỷ USD .Dự kiến sẽ tăng thêm khoảng 300 tỷ USD mỗi năm . Dự
báo trong thời gian tới nguồn vốn này vẫn sẽ tiếp tục gia tăng là do xu hướng sát
nhập các công ty thành các công ty lớn hơn trên thế giới . Theo đánh giá của tổ chức Hội nghị về buôn bán và phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) thì dòng
vốn FDI sẽ tăng lên mức kỷ lục khoảng 1000 tỷ USD , tăng gần 5 lần so với năm
1990 . Và cũng như những năm trước , đại bộ phận dòng vốn FDI được hút vào
các nước công nghiệp phát triển . Năm 1999 , các nước công nghiệp phát triển thu
hút 657,9 tỷ USD trong tổng số 865,5 tỷ USD FDI chiếm tỷ lệ 76% trong khi 3/4
dân số sống tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chia nhau 24% còn
lại khoảng 200 tỷ USD . Trong số các nước phát triển thì Mỹ có nền kinh tế lớn
nhất thế giới vẫn là nước hấp dẫn FDI nhất thế giới , ước tính đạt gần 200 tỷ USD
trong năm 2000 , Liên minh Châu Âu (EU) được coi là khu vực tiếp nhận nhiều
dòng FDI của thế giới , gần 500 tỷ USD (1999).
Tại Châu á , dòng FDI vào các nước đang phát triển của khu vực này đã tăng
đáng kể từ 35 tỷ USD năm 1990 lên 207,6 tỷ USD năm 1999 . Trong đó Trung
Quốc là nước thu hút được nhiều vốn FDI nhất : khoảng 40 tỷ trong năm 1999.

dẫn đến sự đình trệ trong triển khai thực hiện các dự án trên tại Việt Nam .
Xét về cơ cấu, vốn FDI chủ yếu tập trung vào công nghiệp và xây dựng với
1.704 dự án , tổng vốn đầu tư là 19,472 triệu USD chiếm tỷ trọng 53,2 % tổng
vốn đầu tư . Kế đến là thương mại – dịch vụ có 649 dự án , với tổng vốn đầu tư là
14.830 triệu USD chiếm 40,5 % tổng vốn đầu tư . Riêng lĩnh vực nông –lâm – ngư
nghiệp có số dự án là 383 với tổng vốn đầu tư là 2.292 triệu USD chiếm 6,3 %.
Xét về quốc gia và lãnh thổ thì trong 15 quốc gia dẫn đầu về đầu tư tại Việt
Nam thì nhóm dự án Singapore là lớn nhất với 237 dự án (6.606 triệu USD ), Đài
Loan 676 dự án (4.806 triệu USD ) , Nhật 312 dự án (3.984 USD ),Hàn Quốc 297
dự án ( 3.205 triệu USD ) Hong Kong 214 dự án (2.854 triệu USD ) , B.V Islands
115dự án (1.800 triệu USD) , Hà Lan 41 dự án (1.676 triệu USD) , Pháp 111 dự án
(1.659 triệu USD) , Nga 37 dự án (1.486 triệu USD ), Anh 35 dự án (1.163 triệu
USD ) , Mỹ 120 dự án (914 triệu USD) , Uc 72 dự án (772 triệu USD) , Thụy Sĩ
21 dự án (527 triệu USD)
Xét về địa bàn hoạt động , trong 15 tỉnh thành dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư
nước ngoài FDI thì TP HCM có số dự án lớn nhất với 963 dự án (9.838 triệu USD), Hà Nội 375 dự án (7.734 triệu USD ) , Đồng Nai 295 dự án (4.649 triệu
USD ) , Bình Dương 416 dự án (2.369 triệu USD ) , Quảng Ngãi 68 dự án (1.438
triệu USD), Hải Phòng 5 dự án (1.327 triệu USD), Bà Rịa – Vũng Tàu 86 dự án
(1.290 triệu USD ), Lâm Đồng 48 dự án (491 triệu USD), Quảng Ninh 28 dự án
(579 triệu USD), Hà Tây 24 dự án (491 triệu USD) , Hải Dương 10 dự án (455
triệu USD) , Thanh Hoá 6 dự án (357 triệu USD), Kiên Giang 40 dự án (363 triệu
USD), Đà Nẵng 37 dự án (357 triệu USD), Khánh Hoà 34 dự án (339 triệu USD).
Qua các số liệu thực tế về hoạt động FDI cho thấy dòng vốn đầu tư vào Việt
Nam trong những năm qua chủ yếu tập trung vào những nghành dễ thu lợi nhuận ,
thời gian thu hồi vốn nhanh , có thị trường tiêu thụ trong nước lớn và những
nghành trong nước có tiềm năng như nghành sản xuất chất tẩy rửa , nghành dệt da
, may mặc , nghành lắp ráp ô tô -xe máy , thiết bị điện tử viễn thông , sắt thép , xi

nhà nước đứng ra thực hiện nhằm thu về ngoại tệ .Sự phát triển của nền kinh tế
thế giới và nước ta ngày càng khẳng định các dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận
quan trọng của kinh tế đối ngoại . Đối với nước ta –một nước đang phát triển với
nhiều tiềm năng chưa khai thác thì việc đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ thu ngoại
tệ là giải pháp cần thiết , thiết thực để phát huy lợi thế của đất nước .Xu thế hiện
nay là tỷ trọng các hoạt động dịch vụ tăng lên so với các hàng hoá khác trên thị
trường thế giới
2.3.2. Các dịch vụ thu ngoại tệ chủ yếu :
Đầu tiên là du lịch quốc tế .Ngày nay nhu cầu du lịch nhất là du lich quốc tế
ngày càng tăng lên vì thu nhập của con người ngày càng tăng lên ,thời gian nhàn
rỗi , nghỉ ngơi ngày càng nhiều . Du lịch quốc tế là nghành kinh doanh tổng hợp
bao gồm các hoạt động tổ chức , hướng dẫn du lịch , sản xuất , trao đổi hàng hoá
và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn uống , đi lại ,nghỉ ngơi, lưu trú , tham
quan , giải trí , tìm hiểu , lưu niệm ,… của du khách . Phát triển nghành du lịch
quốc tế sẽ phát huy lợi thế của nước ta về cảnh quan thiên nhiên , về các phong tục
truyền thống mang đậm tính dân tộc ,…
Thứ hai là xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ .Hiện nay ở các nước
phát triển nhu cầu lao động là rất lớn nhưng tỷ lệ tăng dân số lại thấp không đủ khả năng đáp ứng . Ngược lại ở các nước đang phát triển nền kinh tế lai kém phat
triển mà dân số lại đông . Một nơi cầu về lao động lớn hơn cung về lao dộng , một
nơi cung về lao động lại lớn hơn cầu về lao động tất yếu dẫn tới xuất khẩu lao
động từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển . Việc này mang lại lợi
ích trước mắt và lâu dàI cho cả hai bên .
Thứ ba là vận tải quốc tế – là hình thức chuyên chở hàng hoá và hành khách
giữa hai nước hoặc nhiều nước . Việt Nam là nước có vị trí địa lí quan trọng , có
nhiều hải cảng thuận tiện cho vận tải đường biển . Vì thế phát triển vận tải quốc tế
cũng là một hình thức thu ngoại tệ .
Ngoài ra hoạt động thu ngoại tệ còn bao gồm nhiều hoạt độn như dịch vụ thu

Du lịch 1000 1600
Một số ngành khác
(vận tải, ngân hàng, )
1600 2000-2500
Tổng kim ngạch xuất
khẩu dịch vụ
4100 8100-8600

Chương 3
Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhằm mở rộng
Và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
3.1. Mục tiêu :
Đối với nước ta , việc mở rộng kinh tế đối ngoại phải nhằm từng bước thực
hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng dân chủ văn minh theo định
hướng xã hội chủ nghĩa . Trong thời gian trước mắt việc mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất
nước –nhiệm vụ trung tâm của thời kì quá độ mà cụ thể là tiếp tục giữ vững môi
trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh
tế xã hội , công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng bảo vệ Tổ Quốc , bảo
đảm độc lập và chủ quyền quốc gia , đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung
của nhân dân thế giới vì hoà bình , độc lập dân tộc , dân chủ và tiến bộ xã hội . Mở
rộng quan hệ nhiều mặt , song phương và đa phương ở các nước và vùng lãnh thổ ,
các trung tâm chính trị kinh tế quốc tế , các tổ chức quốc tế lớn và khu vực theo
các nguyên tắc
Vậy các nguyên tắc đó là gì?
3.2. Các nguyên tắc cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hoạt động kinh tế đối
ngoại :
Thứ nhất là tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ , không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau , không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực
Thứ hai là bình đẳng cùng có lợi

kinh tế nào cũng là một bộ phận cấu thành của kinh tế thế giới , hiểu rõ quy luật phân công lao động quốc tế . Quy luật vận hành thị trường từ nhỏ tới lớn , từ chợ
làng , chợ thôn ra chợ huyện , chợ tỉnh , chợ toàn quốc , rồi ra chợ thế giới mà bây
giờ gọi là thị trường thế giới . Vì vậy không một nền kinh tế nào muốn phát triển
lại không hội nhập với kinh tế thế giới .
Thứ hai,Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh muốn phát triển phải dựa vào nội lực là
chính nhưng nguồn lực bên ngoài là rất quan trọng . Trước kia ta hay nói ‘’tự lực
cánh sinh” là chính , cách nói đó có thể tạo ra sự hiểu lầm như là một sự ‘’đóng
cửa” . Bây giờ chúng ta gọi là phát huy nội lực và khẳng định nếu như không có
nội lực đủ mạnh , đủ vững vàng thì không thể tiếp nhận được sự ủng hộ , giúp đỡ
cũng như hợp tác của các nước . Nhân tố bên ngoài có quan trọng đến mấy cũng
chỉ là bổ sung cho nhân tố bên trong . Nhưng nếu chỉ có bên trong thì cũng không
thể phát triển được . Do đó , phát huy nội lực là một nhân tố quyết định ,còn nhân
tố bên ngoài là quan trọng .
Thứ ba , đảng ta luôn luôn nhấn mạnh nhu cầu hội nhập với kinh tế thế giới để
mở rộng thị trường , có thêm đối tác , có thêm nguồn vốn để phát triển .
Thứ tư , hoạt động kinh tế đối ngoại là hoạt động kinh tế của mọi thành phần
kinh tế . Trước đây chúng ta coi hoạt động kinh tế đối ngoại , nhất là hoạt động
xuất nhập khẩu , là lĩnh vực độc quyền Nhà nước . Trong thời kì đổi mới , chúng
ta hiểu rõ rằng Nhà nước không thể làm thay được sức dân , phải để cho tất cả các
thành phần kinh tế tham gia vào quá trình này .
Chính nhờ các quan điểm chỉ đạo đúng đắn trên đây của Đảng mà kinh tế đối
ngoại trong thời gian qua đã có những bước tiến nhẩy vọt .
Trong thời gian tới , định hướng chung , những đường lối cơ bản mà Đảng ta
đã xác định qua các kì Đại hội vẫn còn nguyên giá trị . Đó là đường lối mở cửa ,
hội nhập với kinh tế thế giới . Trong tình hình quốc tế hoá cao như hiện nay ,
chúng ta càng cần tiếp tục đường lối này chứ không có sự lựa chọn nào khác . Cho
đến nay , chúng ta mới hội nhập với khu vực ASEAN , thông qua việc tham gia

trong nước .
Điều chỉnh , bổ sung , xây dựng mới hệ thống pháp luật về kinh tế đối ngoại
trình Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội . Tính ra có đến hơn 100 loại văn bản khác nhau , một khối lượng rất đồ sộ , nhưng phải cố gắng để đến năm 2007-
2008 , có thể hoàn chỉnh hệ thống pháp luật này tương đối đồng bộ , phù hợp với
luật pháp quốc tế .
Tiến hành đàm phán các hiệp định thương mại đa phương và song phương .
Đây là công việc rất phức tạp và không ít khó khăn . Để thu được kết quả tốt trong
đàm phán , trước hết chúng ta phải dàn xếp trong nước cho ổn thoả để tất cả các
nghành , các doanh nghiệp có thể chấp nhận được bởi tâm lý của các nghành , các
doanh nghiệp là muốn Nhà nước bảo hộ .
CHƯƠNG 4
CáC GIảI PHáP CHủ YếU NHằM Mở RộNG , NÂNG CAO
HIệU QUả KINH Tế Đối ngoại
Để thực hiện mở rộng và nâng cao có hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại chúng
ta cần thực hiện rất nhiều các giải pháp , và các giải pháp này phải được thực hiện
một cách đồng bộ :
4.1. Đảm bảo sự ổn định về môi trường chính trị , kinh tế xã hội :
Môi trường chính trị , kinh tế – xã hội là nhân tố cơ bản , có tính quyết định
đối với hoạt động kinh tế đối ngoại . Sự ổn định chính trị không được đảm bảo ,
môi trường kinh tế không thuận lợi , thiếu các chính sách khuyến khích , môi
trường xã hội thiếu tính an toàn … sẽ tác động xấu tới quan hệ hợp tác kinh tế , mà
trước hết là đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài . Vì thế để mở rộng và nâng cao
có hiêu quả hoạt động kinh tế đối ngoại điều quan trọng đầu tiên phải làm là tạo ra
một môi trường chính trị , kinh tế , xã hội trong sạch , vững mạnh , an toàn .
4.2. Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với kinh tế đối ngoại:
Thực tế đã khẳng định vai trò quan trọng về quản lý kinh tế của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường . Đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại nó lại càng quan

cao công nghệ sản xuất nhằm hạ thấp giá thành , nâng cao chất lượng , mẫu mã …
Không chỉ đầu tư vào xuất khẩu mà chúng ta còn phải có chính sách đúng đắn với
hoạt động nhập khẩu , trong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển thì việc
nhập khẩu các loại thiết bị công nghệ hiện đại , xây dựng đồng bộ chương trình và
công nghệ xuất nhập khẩu (từ nguyên liệu , chế biến , bảo quản , vận chuyển , giao nhận ) lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết . Để đạt được điều đó Nhà nước
ta phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách thương mại tự do và
chính sách bảo hộ thương mại . Chính sách thương mại tự do có nghĩa là chính
phủ không can thiệp vào hoạt động ngoại thương , cho phép hàng hoá cạnh tranh
tự do trên thị trường trong nước và ngoài nước . Ngược lại chính sách bảo hộ
thương mại lại có nghĩa là Chính phủ can thiệp vào thị trường hàng hóa cụ thể là
giá cả của hàng hoá thông qua hệ thống thuế nhằm một mặt bảo vệ được hàng hoá
trong nước, thị trường nội địa , đồng thời hạn chế hàng hoá nước ngoài xâm nhập .
Việc kết hợp hai xu hướng này trong ngoại thương vừa có ý nghĩa trong việc bảo
vệ và phát triển kinh tế , công nghiệp hoá , hiện đại hoá , bảo vệ thị trường trong
nước , vừa có ý nghĩa trong việc thúc đẩy tự do thương mại , khai thác có hiệu quả
thị trường thế giới .
Không những vậy, ngày nay trong xu hướng thị trường thế giới càng ngày
càng mở rộng, sức mạnh của một nước được thể hiện thông qua sức mạnh đồng
tiền của nước đó . Vì thế việc nâng cao giá trị đồng tiền của nước mình trên thị
trường tiền tệ thế giới càng có vị trí quan trọng hơn khi chúng ta muốn nâng cao vị
thế của nước ta lên một nấc cao hơn phát triển ngang tầm các cường quốc trên thế
giới.
4.3.2. Đầu tư quốc tế :
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta , được khuyến khích phát
triển lâu dài , bình đẳng với các thành phần kinh tế khác . Thu hút đầu tư trực tiếp

khó khăn .
Nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư , củng cố niềm tin của các nhà đầu
tư trực tiếp nước ngoài , tạo điều kiện để thành phần kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài phát triển thuận lợi , đóng góp nhiều hơn vào phát triển kinh tế , góp
phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế –xã hội trong thời gian
tới , Chính phủ ban hành Nghị quyết về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kì 2001-2005 với những giải pháp chiến lược như
sau:
Giải pháp 1: Cần xây dựng và công bố sớm danh mục các dự án đầu tư tiền
khả thi trong thời kì mới theo hướng khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút vốn FDI
vào các ngành mà nước ta có thế mạnh về tài nguyên , nguyên liệu , lao động và
phát triển kết cấu hạ tầng , cụ thể theo thứ tự ưu tiên các ngành :
- Công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu
- Công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu
- Công nghệ cao , công nghệ thông tin , viễn thông
- Công nghiêp dầu khí , điện lực
- Công nghiệp cơ khí
- Công nghiệp hàng điện tử
- Xây dựng , dịch vụ XNK , dịch vụ phân phối , giải trí …
Các dự án khi được lựa chọn vào danh mục kêu gọi đầu tư nước ngoài phải
được thống nhất về chủ trương và quy hoạch . Các cơ quan hữu quan cần cụ thể
hoá thêm mục tiêu , nội dung của dự án , địa điểm và hình thức đầu tư . Danh mục
này phải định kì được cập nhật và mở rộng cho những lĩnh vực mà thời gian qua
các chủ trương không cấp phép hoặc hạn chế cấp phép .
Giải pháp 2: Tiếp tục xây dựng , hoàn thiện môi trường đầu tư hấp dẫn , thông
thoáng , rõ ràng , ổn định và mang tính cạnh tranh cao.
- Trước tiên cần tiếp tục xây dựng , hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan
đến luật sửa đổi đầu tư nước ngoài theo hướng ổn định , bình đẳng về

Vì vậy :
+ Nhà nước cần thành lập các trung tâm xúc tiến đầu tư , xúc tiến thương mại
tại các Bộ Ngoại giao , Bộ Thương mại , Bộ Kế hoạch đầu tư , Bộ Công nghiệp ,
Bộ Tài chính , UBND tỉnh thành , các đại sứ quán để chủ động quảng bá và vận
động thu hút đầu tư nước ngaòi .
+ Đối với danh mục các dự án kêu gọi đầu tư đã được phê duyệt , quy hoạch
thì cần có chương trình , kế hoạch chủ động vận động , xúc tiến đầu tư một cách cụ thể đối với từng dự án ,trực tiếp với từng tập đoàn , công ty đa quốc gia , các
nhà đầu tư có tiềm năng và cả Việt kiều tại hải ngoại
+ Các chính sách vận động thu hút đầu tư nước ngoài phải hết sức linh hoạt ,
phù hợp với đặc điểm của từng nước , từng quốc gia , từng công ty đa quốc gia .
Do vậy các cơ quan Nhà nước cần nghiên cứu kỹ tình hình kinh tế, thị trường đầu
tư , luật pháp các nước, chính sách thu hút vốn đầu tư của các nước để kịp thời có
đối sách thích hợp .
+ Định kỳ 6 tháng, 1 năm , Chính phủ , các bộ ngành , UBND tỉnh thành liên
quan cần tổ chức cuộc họp với các nhà đầu tư đang có dự án hoạt động tại Việt
Nam để lắng nghe ý kiến , trao đổi , tháo gỡ vướng mắc , hỗ trợ và kịp thời giải
quyết kịp thời các vấn đề phát sinh .
Giải pháp 4: Thực hiện chiến lược khuyến khích đầu tư của các công ty đa
quốc gia , công ty xuyên quốc gia , công ty toàn cầu để tiếp nhận chuyển giao
khoa học công nghệ hiện đại . Thông qua FDI , các nước phát triển có điều kiện
xuất khẩu công nghệ và chuyển giao công nghệ , còn đối với các nước đang phát
triển như nước ta , thì FDI được coi như là một phương tiện hữu hiệu để nhập
khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoài. Do đó , đòi hỏi phải có những
biện pháp và chính sách cởi mở khuyến khích các công ty đa quốc gia , công ty
xuyên quốc gia , công ty toàn cầu của Mỹ và Nhật đầu tư mạnh vào Việt Nam.
Giải pháp 5: Sự cần thiết nối mạng thông tin trong quản lý hoạt động đầu tư
nước ngoài. Để tránh tình trạng nhiều vấn đề khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status