Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Từ khi con ngời biết lao động thì phơng thức sản xuất cũng ra đời, ứng với
mỗi giai đoạn phát triển của xã hội là một phơng thức sản xuất khác nhau. Loài
ngời đã trải qua năm phơng thức sản xuất theo trật tự từ thấp lên cao: cộng sản
nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa.
Đó là quá tự nhiên của sự phát triển lịch sử, thể hiện tính liên tục lịch sử.
Thế kỉ 19, Mác và ănghen đã đa ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất với lực lợng sản xuất. Quy luật của hai ông không những cung cấp một
cơ sở lý luận vững chắc cho toàn thể nhân dân tiến bộ thế giới mà còn gạt bỏ tất
cả các luận điểm xuyên tạc của các thế lực đi ngợc lại lợi ích của nhân loại. Lần
đâu tiên trong lịch sử nhân loại, phơng thức sản xuất tiếp theo đợc dự báo nhờ
quy luật phù hợp. Chính vì vậy quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực l-
ợng sản xuất của hai ông đã gây đợc tiếng vang lớn cho ngày nay và nó sẽ còn
luôn tồn tại bởi sự đúng đắn của nó trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử.
Đối với nớc ta việc áp dụng sáng tạo quy luật phù hợp này trong thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội là rất cần thiết. Nớc ta xuất phát điểm lên chủ nghĩa
xã hội thấp hơn rất nhiều các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây. Thế nhng tại sao
các nớc xã hội cũ nh Liên Xô, Đông Âu lại sụp đổ và buộc phải quay trở lại chế
độ t bản chủ nghĩa? Nớc ta muốn tránh không đi vào vết xe đổ đó phải làm gì?
Sau đây là vài ý kiến của tôi về quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất với
lực lợng sản xuất và việc vận dụng quy luật này vào nền kinh tế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta.
Do tầm hiểu biết và trình độ nhận thức còn hạn chế về mọi mặt nên không
tránh khỏi những sai sót mong thầy cô giáo góp ý để bài viết đợc hoàn thiện
hơn.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. Lý luận
1. Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là gì ?
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên. Trình
lớn đó, khoa học đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp của quá trình sản
xuất xã hội. Cha bao giờ trí thức khoa học đợc vật chất hoá, kết tinh, thâm nhập
vào các yếu tố của lực lợng sản xuất và cả quan hệ sản xuất nhanh và có hiệu
quả nh ngày nay. Khoa học không còn là lý thuyết đứng ngoài quá trình sản
xuất vật chất mà chuyển thành mắt khâu bên trong của hệ thống sản xuất cả
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trong lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất. ý nghĩa trở thành lực lợng sản xuất
trực tiếp của khoa học không chỉ riêng khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội
ở mức độ nhất định.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, công cụ lao động đợc cải tiến,
con ngời không ngừng nâng cao năng suất lao động. Năng suất lao động đợc coi
là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá trình độ lực lợng sản xuất của một xã hội nhất
định.
Lực lợng sản xuất do con ngời tạo ra, song nó vẫn là yếu tố khách quan, là
nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử nhân loại. Lực lợng sản xuất đợc kế thừa
và phát triển liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi thế hệ sinh ra đều phải
thích ứng với một trình độ lực lợng sản xuất của thế hệ trớc để lại, vì "lực lợng
sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời, nhng bản thân năng lực
thực tiễn này bị quyết định bởi những điều kiện trong đó ngời ta sống, bởi
những lực lợng sản xuất đã đạt đợc, bởi hình thái xã hội đã có trớc họ, không
phải do họ tạo ra mà do thế hệ trớc tạo ra."
b) Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong quan hệ sản xuất vật
chất, thể hiện ở quan hệ sở hữu đối với t liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức
quản lý và trao đổi hoạt động với nhau và quan hệ về phân phối sản phẩm.
Quan hệ sản xuất do con ngời tạo ra, song nó đợc hình thành một cách
khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, tuỳ tiện của một lực lợng
sản xuất ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Để tiến hành sản xuất, con ngời
chẳng những phải quan hệ với tự nhiên mà còn phải quan hệ với nhau để trao
của lực lợng sản xuất.
Quy luật quan hệ phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là
quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Sự thay thế, phát
triển đi lên của lịch sử xã hội loài ngời từ chế độ công xã nguyên thuỷ đến chế
độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ t bản chủ nghĩa và xã hội cộng
sản tơng lai là do tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là quy
luật cơ bản nhất.
a) Lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi của
quan hệ sản xuất.
Lực lợng sản xuất là yếu tố động nhất, không ngừng phát triển của sinh
hoạt vật chất của xã hội. Điều đó do chính bản chất của quá trình sản xuất vật
chất quyết định, trong khi đó sản xuất diễn ra không ngừng vì con ngời không
thể tồn tại nếu không có của cải vật chất.
Sự phát triển của lực lợng sản xuất đợc đánh dấu bằng trình độ của lực l-
ợng sản xuất. Trình độ lực lợng sản xuất chỉ năng lực chinh phục tự nhiên của
con ngời, đợc quy về trớc hết là công cụ lao động, trình độ tổ chức và phân công
lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, trình độ kinh nghiệm
và kỹ năng lao động của con ngời. Trình độ phân công lao động biểu hiện trình
độ của lực lợng sản xuất ở một giai đoạn nhất định của lịch sử sản xuất vật chất.
Khi còn sản xuất với những công cụ thủ công, lực lợng sản xuất mang tính
cá nhân. Nó thể hiện tính chất của t liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ công
và tính chất của lao động là riêng lẻ, tách rời nhau. Khi sản xuất bằng máy ra
đời, lực lợng sản xuất mang tính chất xã hội hoá. Nó thể hiện tính chất của t liệu
sản xuất là sử dụng máy móc và tính chất của lao động là do nhiều ngời sử dụng
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
t liệu sản xuất ấy theo kiểu phân công mỗi ngời một bộ phận; sản phẩm làm ra
là kết quả hiệp tác của nhiều ngời. Chỉ đến nền sản xuất t bản chủ nghĩa, lực l-
ợng sản xuất mới đạt tới tính chất xã hội hoá.
phong kiến. Trong lòng chế độ phong kiến, do không cạnh tranh đợc với những
xởng tơng đối lớn, có trang bị máy móc, những ngời thợ thủ công đã bị phá sản
và trở thành công nhân làm thuê. Máy móc không những xâm nhập vào nền
công nghiệp mà còn xâm nhập vào nền nông nghiệp phân hoá giai cấp nông dân
thành giai cấp t sản nông thôn và giai cấp vô sản nông thôn. Chính phần giai
cấp vô sản nông thôn này đã ra thành thị kiếm sống và trở thành giai cấp công
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhân. Việc phát minh ra máy dệt, máy kéo sợi, động cơ hơi nớc, và đồng thời là
sự xuất hiện của ngời công nhân kiểu mới đã gây nên một cuộc cách mạng
trong công nghiệp. Dựa vào lực lợng sản xuất mới, giai cấp t sản đã chấm dứt đ-
ợc cách tổ chức kinh tế theo lối phong kiến.
Khuynh hớng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi, phát triển. Sự
biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lợng sản
xuất. Lực lợng sản xuất biến đổi dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản
xuất hiện có và xuất hiện một đòi hỏi khách quan là xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ,
thay bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lợng sản xuất. Nh vậy,
quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lợng sản xuất (phù hợp). Nhng
do tính năng động của lực lợng sản xuất mâu thuẫn với tính ổn định tơng đối
của quan hệ sản xuất nên quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp với lực lợng sản xuất
lại trở nên không phù hợp và trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực
lợng sản xuất (không phù hợp). "Phù hợp" và "không phù hợp" là biểu hiện của
mâu thuẫn biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, tức là phù
hợp trong mâu thuẫn và bao hàm mâu thuẫn.
Mâu thuẫn biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn đợc
tái tạo trong sự lặp lại có tính quy luật của quá trình sản xuất vật chất. Quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là quy
luật xã hội. Nó đợc thông qua hoạt động của con ngời có ý thức. Vì vậy, việc
phát hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con ngời. Con ngời phát hiện ra những yếu
hệ thống yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản
xuất. Tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm của quan hệ sản xuất với lực lợng sản
xuất là tơng đối.
Trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, trong các giai đoạn khác
nhau của quá trình lịch sử, lực lợng sản xuất phát triển với tốc độ rất khác nhau.
Quan hệ sản xuất có ảnh hởng quyết định đối với tốc độ và tính chất phát triển
của lực lợng sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất quyết định những quy
luật kinh tế đặc thù của sự phát triển của lực lợng sản xuất của mỗi hình thái
kinh tế xã hội, quyết định những động lực thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển.
Nó tạo ra địa bàn tơng đối lớn để cho sản xuất phát triển. Với sự phát triển tất
yếu khách quan của lực lợng sản xuất thì quan hệ sản xuất lỗi thời cuối cùng sẽ
bị thay thế bởi một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển
mới của lực lợng sản xuất. Tuy vậy, khi mâu thuẫn khách quan giữa lực lợng sản
xuất và quan hệ sản xuất bộc lộ gay gắt và đòi hỏi phải giải quyết nhng con ng-
ời không phát hiện đợc, hoặc phát hiện mà không giải quyết đợc mâu thuẫn,
hoặc do những sai lầm chủ quan trong quá trình giải quyết mâu thuẫn,... thì tác
dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực l-
ợng sản xuất. Nhng cuối cùng quy luật vẫn tự vạch đờng cho nó đi.
c) Sự phát triển của mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuât và quan hệ sản xuất
trong chế độ t bản chủ nghĩa.
Chế độ t hữu t bản chủ nghĩa về t liệu sản xuất dùng để bóc lột công nhân
làm thuê là cơ sở của quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa. Khác với các nền kinh
tế trớc, chủ nghĩa t bản là nền sản xuất hàng hoá, hơn nứa là nền sản xuất hàng
hoá ở giai đoạn phát triển cao khi mà cả sức lao động cũng trở thành hàng hoá.
Chủ nghĩa t bản sử dụng lao động làm thuê tự do thay ngời nông nô đã tạo
nên một cuộc cách mạng trong kỹ thuật sản xuất và đã nâng cao năng suất lao
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
động dựa vào máy móc. Trong thời kì đầu, chủ nghĩa t bản đã tạo nên những
kích thích to lớn không sao lờng đợc để phát triển lực lợng sản xuất hơn hẳn tất
năng lợng mặt trời, nguyên liệu chất dẻo, nguyên liệu tổng hợp đang dần thay
thế cho những dạng năng lợng và những nguyên liệu đợc khai thác từ thiên
nhiên. Công nhân làm thuê là lao động trí óc là chủ yếu, lao động chân tay
chiếm tỉ lệ ít và ngày càng giảm dần.
Điểm cơ bản đánh dấu sự thay đổi về quan hệ sản xuất là ngời công nhân
có thể tham gia vào chính công ty họ thông qua chế độ cổ phần hoá các doanh
nghiệp. Điều này làm xuất hiện chế độ đồng sở hữu. Ngời làm công bây giờ
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cũng sở hữu một phần vốn, một phần tài sản của doanh nghiệp hoặc công ty,
bên cạnh các chủ thể sở hữu là Nhà nớc hoặc các chủ t bản lớn, nhỏ. Ngời làm
công cũng đợc thu hút vào quản lí, hình thành nên chế độ công quản hay tự
quản thay thế cho chế độ hành chính khắt khe trớc đây. Chính họ cũng đợc tham
gia vào việc chia lợi nhuận của công ty, vì vậy thu nhập của họ bây giờ bao gồm
hai bộ phận: Tiền lơng đợc trả căn cứ vào sức lao động và tiền lơng phân chia từ
lợi nhuận công ty; lợng này nhiều hay ít phụ thuộc giá trị cổ phần của ngời làm
công, hiệu quả làm ăn của công ty, hiệp ớc trên cơ sở thoả thuận giứa chủ tịch
công ty với ngời làm công thông qua đại hội cổ đông. Nhng thực chất quan hệ
bóc lột của giai cấp t sản với giai cấp công nhân không hề thay đổi mà nó chỉ đ-
ợc khoác trên mình sự che phủ hơi khác so với trớc kia. Việc ngời công nhân
cũng làm "ông chủ" trong chính các công ty, tập đoàn họ làm việc, không
những không ảnh hởng đến việc thu lợi nhuận của các nhà t bản, mà ngợc lại,
đây lại chính là yếu tố kích thích bản thân những ngời công nhân này làm việc
chăm chỉ hơn, tích cực hơn. Hơn nữa, các nhà t bản cũng rất khôn khoan họ chỉ
dành ra khoảng 5% cổ phần bán cho công nhân còn lại phần lớn vẫn trong sự
quản lý của chính họ; bên cạnh đó cũng tồn tại một số tổ chức mang tên Công
đoàn vàng thì cổ phần dành cho công nhân có thể lên tới 50% nhng số này rất ít
và mang tính mua chuộc mà thôi.
Ngày nay với sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ, máy móc
đã đợc áp dụng ở tất cả các ngành công nghiệp cũng nh nông nghiệp. Máy móc
thuẫn này thì xuất hiện một biện pháp hoàn toàn mới là sở hữu nhà nớc, là cơ sở
phát triển của chủ nghĩa t bản độc quyền nhà nớc. Đây đợc coi là nội dung của
sự điều chỉnh t bản chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Sự xã hội hoá cao độ
của lực lợng sản xuất vợt khỏi khuôn khổ của quan hệ độc quyền t nhân tất yếu
dẫn đến sự chuyển biến về kinh tế. Sự tập trung hoá và quốc tế hoá t bản ngày
càng có quy mô lớn dới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật làm
cho cơ cấu kinh tế thay đổi, nhu cầu t bản tăng lên. Sự tích tụ và tập trung t bản
trong các tổ chức độc quyền t nhân có han nên phải dựa vào vốn của Nhà nớc t
sản. Mặt khác, tính chất xã hội hoá cao của sản xuất đòi hỏi một tổ chức nhân
danh "xã hội" đứng ra điều khiển nền sản xuất xã hội. Tổ chức đó không thể là
tổ chức độc quyền t nhân, mà phải là Nhà nớc t bản. Thêm nữa là mâu thuẫn
gay gắt giữa t bản và lao động, giữa các cờng quốc t bản với nhau, giữa chủ
nghĩa t bản với các nớc dân tộc chủ nghĩa và cuộc đấu tranh của nhân dân thế
giới vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và chủ nghĩa xã hội, buộc các tổ chức độc
quyền phải nắm lấy bộ máy Nhà nớc. Nhà nớc nắm trong tay các công cụ pháp
luật, các công cụ kinh tế vĩ mô: tài chính, tín dụng, lu thông tiền tệ và cả khu
vực kinh tế Nhà nớc đã duy trì môi trờng hoạt động thuận lợi cho chủ nghĩa t
bản, làm giảm biên độ dao động của chủ nghĩa t bản, tức là làm ổn định hơn và
giảm thiệt hại cho nền kinh tế tới mức thấp nhất.
Mọi phơng thức sản xuất đều có quá trình ra đời, phát triển và tiêu vong.
Chủ nghĩa t bản ra đời là một thành tựu của loài ngời nhng nó cũng phải tuân
theo quy luật trên nên sự suy vong của nó là tất yếu và sẽ có một phơng thức
sản xuất mới thay thế cho phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa là một tất yếu
khách quan. Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất t
bản chủ nghĩa: quan hệ sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa về t liệu sản xuất kìm
hãm sự phát triển của nền sản xuất đợc xã hội hoá sẽ làm cho quan hệ sở hữu t
nhân bị thủ tiêu và một quan hệ sản xuất mới dựa trên sở hữu xã hội sẽ ra đời để
thay thế. Nh vậy, sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu xã hội với
10