Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh,thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
là một thời kỳ lịch sử mà:”Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây
dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,...tiến dần lên chủ nghĩa
xã hội,có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại,có văn hoá và khoa học phát
triển.Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa,chúng ta phải cải tạo nền kinh
tế cũ,xây dựng nền kinh tế mới,mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”.
(Trang 13-Hồ Chí Minh toàn tập.Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội
tháng 10-1996).
Rõ ràng ta thấy thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ quốc gia nào đi
lên chủ nghĩa xã hội cũng phải trải qua,ngay cả với những nước có nền kinh tế
rất phát triển,bởi lẽ ở các nước này,tuy lực lượng sản xuất đã phát triển
cao,nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và cần xây dựng quan hệ sản xuất mới,xây
dựng nền văn hoá mới.Dĩ nhiên với những nước này về khách quan có nhiều
thuận lợi hơn.Đối với nước ta,một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã
hội,bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa,thì càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu
dài.
Chính vì thế,chúng ta cần phải đặt ra những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của
thời kỳ quá độ và những giải pháp để thực hiện thành công những nhiệm vụ đó.
Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt nam
1
Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
PHẦN NỘI DUNG
I/ Khái quát cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1/ Tính tất yếu khách quan
Như ta đã biết từ khi hoà bình lập lại năm 1954,miền bắc nước ta đã bước
vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với đặc điểm như chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói:”Đặc điểm to nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước
nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải qua giai đoạn
kiện và khả năng sau.Theo chủ quan,Cách mạng Việt Nam luôn có Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo.Đây là Đảng có tinh thần Cách mạng cao,tranh thủ được
sự đồng tình của đông đảo quần chúng.Chúng ta có khối liên minh công-nông
vững chắc,nhân dân ta luôn có tinh thần Cách mạng,có nguyện vọng độc lập dân
tộc,luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.Theo khách quan,thế giới đã xuất
hiện khu vực hoá,toàn cầu hoá,trên cơ sở phân công,hợp tác,tăng cường sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.Nó làm nảy sinh
những thời cơ và khả năng cho những quốc gia kém phát triển có thể phát triển
nhanh chón,trên cơ sở chính sách đối ngoại đúng đắn.Hơn nữa,tuy rằng nước ta
cơ sở vật chất còn yếu kém nhưng vẫn có thể theo kinh nghiệm của các nước đi
trước để thực hiện”con đường phát triển rút ngắn”,hoàn thành những nhiệm vụ
kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ.
II/ Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt nam
Về kinh tế,ta phải giải quyết 4 nhiệm vụ sau:
1/ Phát triển lực lượng sản xuất và công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước
Việt nam đã bỏ qua chủ nghĩa tư bản.Nếu so sánh với các nước đã qua
chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội thì ta khó khăn hơn.Đó là điện khí
hoá toàn quốc(theo Lenin).Cơ sở kinh tế duy nhất là đại công nghiệp cơ khí.
Sở dĩ ta phải giải quyết nhiệm vụ này vì:Công nghiệp hoá-hiện đại hoá là
một quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện tất cả các hoạt động kinh tế xã
hội,từ việc sử dụng sức lao động thủ công,chuyển sang sử dụng trình độ lao
động với khoa học-công nghệ hiện đại,tiên tiến tạo ra năng suất lao động
cao.Công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ có tính quy luật của sự
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước có kinh tế lạc hậu,chủ nghĩa tư bản
chưa phát triển.Tuy nhiên chiến lược,nội dung,hình thức,bước đi,tốc độ,biện
pháp công nghiệp hoá-hiện đại hoá của mỗi nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
phải được xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước và từ bối cảnh quốc
tế trong mỗi thời kỳ.
Công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở Việt nam có những nội dung sau:
xã hội chủ nghĩa.Trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất hiện đại tất yếu
đòi hỏi phải xác lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu.Vì vậy
khi cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về căn bản
thì chế độ công hữu sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối.Nhưng để đạt được tới trình độ đó
phải trải qua quá trình phát triển kinh tế-xã hội lâu dài,trong đó quan hệ sản xuất
được cải biến dần từ thấp đến cao theo trình độ phát triển của lực lượng sản
4
Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
xuất.Tiêu chuẩn căn bản để một quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất là nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất,tạo
điều kiện cải thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội.
2/ Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Chúng ta phải xây dựng từng bước những quan hệ sản xuất mới phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới.Nhưng việc xây
dựng quan hệ sản xuất mới không thể thực hiện theo ý muốn chủ quan duy ý chí
mà phải tuân theo những quy luật khách quan về mối quan hệ giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất.Xuất phát từ quan điểm cho rằng bất cứ một sự cải biến
nào về quan hệ sở hữu cũng đều phải là kết quả tất yếu của việc tạo ra những
lực lượng sản xuất mới.Vì vậy việc xây dựng quan hệ sản xuất mới ở nước ta
phải được phát triển từng bước,theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sở dĩ chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ này vì:Trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta,chế độ sở hữu tất yếu phải đa dạng,ở cơ cấu kinh tế
tất yếu phải có nhiều thành phần:kinh tế Nhà nước,kinh tế hợp tác mà nòng cốt
là các hợp tác xã,kinh tế tư bản Nhà nước,kinh tế cá thể và tiểu chủ,kinh tế tư
bản tư nhân,kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Đường lối phát triển một nền kinh
tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài,có tác dụng to lớn trong việc
động viên mọi nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài,lấy nội lực làm chính để
xây dựng kinh tế,phát triển lực lượng sản xuất.Chỉ có thể cải tạo quan hệ sở hữu
hiện nay một cách dần dần,bởi không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có
tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu