QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI TRONG CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA ĐẢNG VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI DO ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG KHỞI XƯỚNG VÀ CÁC ĐẠI HỘI SAU TIẾP TỤC BỔ SUNG HOÀN CHỈNH. - Pdf 26

Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
CHUYÊN ĐỀ 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI
ĐỔI MỚI TRONG CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA
ĐẢNG VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI DO ĐẠI HỘI ĐẠI
BIỂU TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG KHỞI XƯỚNG VÀ CÁC ĐẠI
HỘI SAU TIẾP TỤC BỔ SUNG HOÀN CHỈNH.
A. MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến vận mệnh của dân tộc - đó
là tư duy nhận thức của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, hoạt động nhận
thức (tư duy) của Đảng có vai trò, ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Trên cơ sở của một
nhận thức nhất định mà Đảng vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách. Nhận thức
đúng, sai quyết định đến xu hướng, bước tiến, qui mô và có thành bại của cuộc cách
mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật và độc đáo trong tư
duy về con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội cũng đã được chủ nghĩa Mác -
Lênin giải quyết khá căn bản về mặt lý luận. Dường như, sau khi giành được chính
quyền, các Đảng Cộng sản chỉ việc quán triệt cho đầy đủ những luận điểm lý luận và
sử dụng kinh nghiệm của các nước đi trước cho phù hợp với hoàn cảnh nước mình.
Nhiều lắm là đem đến cho nó một vẻ riêng biệt nào đó trên cơ sở của cùng một con
đường, đã được hình dung sẵn. Nhưng trong thực tế ở các nước xã hội chủ nghĩa
trước đây và ở Việt Nam, đã có một quá trình không đơn giản, thậm chí có không ít
vấp váp, sai lầm, đến độ phải đổi mới nhận thức về con đường quá độ lên chủ nghĩa
xã hội.
Vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đảng ta hình dung ngay từ khi thành
lập Đảng. Đó là con đường sau khi đã hoàn thành cuộc cách mạng điền địa và phản
đế, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không qua phát triển tư bản chủ nghĩa. Đảng đã
bước đầu chuẩn bị cho những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng
phải đến năm 1954, sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, vấn đề quá độ mới
=========================== Trang ===============================

Nội dung nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội thời kỳ 1975 - 1986 đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên
cứu tổng kết bằng những nhận định, tư liệu phong phú và sâu sắc. Trong bài viết này
=========================== Trang ===============================
2
Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
tôi xin đi sâu hơn về quá trình nhận thức của Đảng. Đó là quá trình tìm tòi, phát hiện
và không ngừng đấu tranh để giữ vững lập trường cách mạng theo con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội. Quá trình nhận thức được chia làm 2 thời kỳ và được đánh dấu
bằng hai kỳ đại hội. Đó là đại hội IV và V của Đảng. Từ 1975 - 1986 nhận thức của
Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội càng được củng cố và nâng cao hơn.
=========================== Trang ===============================
3
Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
B. NỘI DUNG
Chương 1: VÀI NÉT VỀ NHẬN THỨC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN,
HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CSVN VỀ ĐỔI MỚI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN
CNXH Ở VIỆT NAM.
1.1. Khái niệm đổi mới
Đổi mới là một khái niệm ra đời trong thời kỳ hiện đại, những tư duy ngôn ngữ nhân
loại để nhận thức cả lịch sử của xã hội loài người từ xa xưa. Nội hàm của khái niệm “Đổi
mới” nhằm chỉ những hoạt động của con người làm thay đổi cái cũ, lạc hậu, lỗi thời bằng cái
mới tiến bộ hơn.
1.2. Quan điểm về thời kỳ quá độ lên CNXH
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Lý luận về hình thái kinh tế- xã hội của C.Mác cho thấy sự biến đổi của các xã hội là
quá trình lịch sử tự nhiên. Vận dụng lý luận đó vào phân tích xã hội tư bản, tìm ra các quy
luật vận động của nó, C.Mác và Ph. Ăngghen đều cho rằng, phương thức sản xuất tư bản chủ

đời, phát triển của cách mạng vô sản và những đặc trưng kinh tế, xã hội của chủ nghĩa xã
hội.
b) Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều
thành phần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng vị trí, cơ
cấu và tính chất của giai cấp trong xã hội đã thay đỗi một cách sâu sắc
Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là khách quan và lâu dài, có lợi cho sự
phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế. Theo Lênin, mâu thuẩn của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội là mâu thuẩn giữa chủ nghĩa xã hội đã giành thắng lợi nhưng còn non
yếu với chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng vẫn còn khả năng khôi phục. Vì vậy, thời kỳ
quá độ là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư
bản quyết liệt, quanh co, khúc khuỷu và phức tạp.
c) Khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Phân tích tính chất và đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong thới kỳ tự do cạnh tranh,
C.Mác và Ph. Ăngghen đã nêu ra khả năng quá độ lên chủ nghĩa cộng sản ở các nước lạc hậu
khi cách mạng vô sản ở các nước Tây Âu giành được thắng lợi.
=========================== Trang ===============================
5
Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
Khi phân tích đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ độc quyền, phát triển ra
quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin rút ra
kết luận quan trọng về khả năng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở một số nước riêng lẻ chứ
không thể thắng lợi cùng một lúc ở tất cả cả nước. Khi chủ nghĩa xã hội thắng lợi ở một
nước, thì nhân loại bắt đầu bước vào thời đại mới- thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới. Trong điều kiện đó, các nước lạc hậu có thể quá độ lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Theo V.I.Lênin, điều kiện để một nước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là:
Thứ nhất, điều kiện bên trong, có Đảng cộng sản lãnh đạo giành được chính quyền
và sử dụng chính quyền nhà nước công, nông, trí thức liên minh làm điều kiện tiên quyết để
xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm 1954 ở miền bắc
và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước, sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã
hoàn thành thắng lợi, đất nước đã hòan thành thắng lợi, đất nước đã hòa bình thống nhất quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia xây
dựng chủ nghĩa xã hội, dù điểm xuất phát ở trình độ phát triển cao hay thấp.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Bởi vì:
Một là, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách
quan của lịch sử. Loài người đã phát triển qua các hình thái kinh tế- xã hội: công xã nguyên
thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa. Sự biến đổi của các hình thái kinh tế-
xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên và hình thái kinh tế- xã hội sau cao hơn, tiến bộ hơn hình
thái kinh tế- xã hội trước nó. Sự biến đổi của các hình thái kinh tế- xã hội nói trên đều tuân
theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất.
Cho dù ngày nay, chủ nghĩa tư bản đang nắm nhiều ưu thế về vốn, khoa học, công
nghệ và thị trường, đang cố gắng điều chỉnh trong chừng mực nhất định quan hệ sản xuất để
thích nghi với tình hình mới, nhưng không vượt ra khỏi những mâu thuẫn vốn có của nó, đặc
biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn này không những không
dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất và xã hội hóa lao động làm cho các tiền đề vật chất, kinh tế, xã hội ngày càng chín muồi
=========================== Trang ===============================
7
Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của xã hội mới - chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa
tư bản không phải là tương lai của loài người. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người
nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Hai là, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với xu thế của
thời đại, mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam: cách mạng dân tộc, dân

thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt
được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ để phát triển nhanh lực
lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là phát triển theo con đường “rút ngắn” quá
trình lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng “rút ngắn” không phải là đốt cháy giai đoạn, duy ý chí, coi
thường quy luật, như muốn xóa bỏ nhanh sở hữu tư nhân và các thành phần kinh tế “phi chủ
nghĩa xã hội” hoặc coi nhẹ sản xuất hàng hóa,... Trái lại, phải tôn trọng quy luật khách quan
và biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, tận dụng thời cơ và khả năng
thuận lợi để tìm ra con đường, hình thúc, bước đi thích hợp. Phát triển theo con đường “rút
ngắn” là phải biết kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được ở chủ nghĩa tư bản
không chỉ về lực lượng sản xuất mà cả về quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc
thượng tầng, như Lênin đã nói về chủ nghĩa xã hội ở nước Nga với kỹ thuật hiện đại trong
các tơrớt của Mỹ và nghệ thuật quản lý trong ngành đường sắt ở Đức
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng không thể thực hiện quá độ trực tiếp lên chủ
nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp, qua việc thực hiện hàng loạt các hình thức
quá độ. Sự cần thiết khách quan và vai trò tác dụng của hình thức kinh tế quá độ được Lênin
phân tích sâu sắc trong lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Thực hiện các hình thức kinh
tế quá độ, các khâu trung gian... vừa có tác dụng phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất,
vừa cần thiết để chuyển từ các quan hệ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nó là hình thúc vận
dụng các quy luật kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể.
Tóm lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta tạo ra
sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là quá trình rất khó khăn, phức tạp, tất
yếu “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ
chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”
Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường rút ngắn để
xây dựng đất nước văn minh, hiện đại. Nhưng khả năng tiền đề để thực hiện con đường đó
như thế nào? Phân tích tình hình đất nước và thời đại cho thấy mặc dù kinh tế còn lạc hậu,
nước ta vẫn có khả năng và tiền đề để quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa.
=========================== Trang ===============================

có Nhà nước xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ngày càng được củng cố vững mạnh
=========================== Trang ===============================
10
Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
và khối đại đoàn kết toàn dân, đó là những nhân tố chủ quan vô cùng quan trọng bảo đảm
thắng lợi côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh
Quán triệt quan điểm của Mac – Lê nin về thời kỳ quá độ và thực tiễn các nước xây
dựng CNXH, khi Việt Nam đi lên CNXH, Hồ Chí Minh lưu ý, Đảng ta cần chú trọng một số
vấn đề.
Cần có nhận thức rõ tính quy luật chung và đặc điểm cụ thể của mỗi nước khi quá độ
lên CNXH. Hồ Chí Minh đã chỉ ra hai phương thức quá độ chủ yếu là: Qúa độ trực tiếp từ
CNTB phát triển lên CNXH và quá độ gián tiếp từ nghèo nàn lạc hậu, tiến lên CNXH, qua
chế độ dân chủ nhân dân.
Đi vào thời kỳ quá độ ở Việt Nam Hồ Chí Minh đã chỉ ra đặc điểm và mâu thuẫn của
nó. Theo người miền Bắc nhất định phải tiến lên CNXH. Mà đặc điểm to nhất của ta trong
thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không trải qua giai
đoạn phát triển TBCN. Đặc điểm này sẽ chi phối, quy định nội dung, những hình thức và
bước đi, cách làm CNXH ở Việt Nam. Từ đặc điểm này, Hồ Chí Minh cho rằng: Tiến lên
CNXH, không thể một sớm một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục. Việt Nam
là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi mới xã hội cũ thành xã hội mới gian nan,
phức tạp hơn việc đánh giặc. CNXH không thể làm mau được mà phải làm dần dần.
Mâu thuẫn bao trùm thời kỳ quá độ ở nước ta là mâu thuẫn giữa yêu cầu phải tiến lên
xây dựng một chế độ mới có kinh tế công nghiệp, nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa
học tiên tiến với tình trạng lạc hậu, kém phát triển, lại phải đối phó với các thế lực cản trở,
phá hoại mục tiêu xây dựng, thành công CNXH ở nước ta. Vì vậy cuộc cách mạng CNXH là
một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất, thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử lâu
dài, đầy khó khăn gian khổ.
Hồ Chí Minh còn chỉ ra nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ là phải xây dựng nền

lực sáng tạo vô tận của loài người trong nhận thức, cải tiến thế giới, đối tượng vừa tham gia
trực tiếp vào hoạt động sản xuất, trở thành động lực quyết định đới với sự phát triển sản xuất
tăng trưởng và phát triển kinh tế, đem lại nguồn của cải vật chất to lớn cho xã hội đồng thời
làm phát triển sâu sắc hơn nhiều các giá trị tinh thần của con người – cá nhân, cộng đồng dân
tộc và nhân loại.
Cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực khoa học – công nghệ chỉ đem lại hình ảnh, diện
mạo mới của khoa học mà còn tác động sâu sắc tới những biến đổi kinh tế, giá trị, văn hóa
và tổ chức đời sống xã hội. Đây thực sự là một trong những xu thế lớn của thế giới đương
đại.
Trong cách mạng khoa học – công nghệ, những thành quả nghiên cứu phát minh, sáng
chế, cải tiến thường tác động trực tiếp hoặc trước hết đối với sản xuất, nâng cao năng xuất
lao động, sau đó tác động sang các lĩnh vực khác. Do đó cách mạng khoa học – công nghệ
=========================== Trang ===============================
13
Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
được coi là nguồn gốc sự phát triển kỳ diệu có được LLSX, gấp hàng chục, trăm, ngàn lần so
với trước.
Cách mạng khoa học – công nghệ, tình hình đã thay đổi căn bản. Sự tách bạch các
quá trình tác động, từ kết quả nghiên cứu phát minh khoa học, sáng chế, cải tiến kỹ thuật vào
sản xuất và đời sống xã hội đã bị thay thế bởi sự tác động đồng thời. Hầu như cùng một lúc
thành quả khoa học và công nghệ thâm nhập vào hoặc có khả năng ảnh hưởng đến hầu khắp
các mặt của đời sống xã hội, vào từng ngành sản xuất, lĩnh vực, đối phương, giai đoạn, đời
sống, cách làm, biến đổi độ mặt vật chất, văn hóa các quốc gia, tác động đời sống nội tâm,
thế giới tinh thần bên trong của con người.
- Khoa học – công nghệ là lực lượng sản xuất, làm tăng gấp bội các LLSX, là nhân tố
bên trong của mọi tiến bộ xã hội, nguồn gốc xuất hiện nền văn minh mới của loài người.
Khoa học – công nghệ xuất hiện nhiều về số lượng, đa dạng, loại hình, chất lượng, giá trị
dồn dập về tốc độ, nhịp độ rộng lớn về lực lượng ứng dụng, bổn phận cấu thành thước đo
tiến bộ xã hội.( Khoa học xã hội – nhân văn, yếu tố nội sinh phát triển quốc gia dân tộc).

cao về vật chất với đòi hỏi sâu về tinh thần con người là dấu hiệu nổi bật của sự thâm nhập
lẫn nhaungayf càng trở nên sâu sắc giữa kinh tế và văn hóa.
Con người thay đổi quan niệm, nhận thức, cách làm việc, lối sống, đạo đức….
Thứ 3: cuộc cách mạng Khoa học – công nghệ, hình thành xã hội thông tin, kinh tế,
tri thức đòi hỏi quốc gia dân tộc phải đổi mới, hiện đại hóa 1 cách căn bản. Những tác động
trên của Khoa học – công nghệ, sự bùng nổ thông tin, hình thành xã hội thông tin, nền văn
minh tin học và kinh tế, tri thức đã hối thúc mạnh mẽ đối với công cuộc đổi mới đât nước ta.
Trước một thế giới đổi thay và phát triển như vậy, làm thế nào để nước ta thoát khỏi cuộc
khủng hoảng, trì trệ, bắt kịp nhịp sống chung của thế giới hiện đại để bước vào sự phát triển
năng động, thích ứng mọi đòi hỏi mới của thời đại.
Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy hình thành và trở nên chín muồi, trở thành một
quyết sách chiến lược để phát triển bắt nguồn từ tác động và ảnh hưởng đó.
- Toàn cấu hóa kinh tế gắn liền mọi quá trình tiếp xúc, giao lưu, đối thoại giữa các
nền văn hóa – 1 xu thế chủ quan và phổ biến.
Nữa sau thế kỷ XX, vài thập kỷ nay, toàn cầu hóa là vấn đề đáng quan tâm và thảo
luận toàn cầu hóa diễn ra như cơn lốc, một thực tế kinh tế, chính trị là một quá trình nhiều
mặt, xu thế lớn trong đời sống đương đại, tác động hàng ngày , hàng giờ, hàng phút hàng
giây. Tức khắc đến mọi mặt sinh hoạt , hoạt động, mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc,
=========================== Trang ===============================
15
Tiểu luận LSĐCSVN GVHD: NGÔ THỊ QUỐC HỒNG
=========================================================
toàn bộ cuộc sống con người trên hành tinh, không một quốc gia nào đứng ngoài tác động
toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa là quá trình phức tạp, biến cố khôn lường, bước đi ngoắt ngoéo, hiện
tượng nghịch lý, mâu thuẫn. Toàn cầu hóa là một quá trình vận động, bao hàm trong đó
những diễn tiến của quốc tế hóa và khu vực hóa, từ sản xuất và kỹ thuật đã thâm nhập các
lĩnh vực: văn hóa, xã hội, chính trị và ngược lại chiến tranh, hợp tác song phương, đa
phương.
Toàn cầu hóa bắt đầu từ quốc tế hóa sản xuất, biến đổi mạnh mẽ, phân công lao động,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status