7
Nghiên cứu quy luật giá trị không chỉ để hiểu biết sự vận động của
sản xuất hàng hoá, trên cơ sở đó nghiên cứu một số vấn đề khác trong xã
hội t bản chủ nghĩa, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Các đảng cộng sản và nhà nớc xã hội chủ nghĩa
coi trọng việc vận dụng quy luật giá trị trong việc qui định chính sách giá
cả, kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, thực hiện hạch toán kinh tế v.v
8
Chơng 2
Thực trạng việc vận dụng qui luật giá trị vào
nền kinh tế nớc ta thời gian qua và những giải pháp
nhằm vận dụng tốt hơn quy luật ở nớc ta
trong thời gian tới.
2.1. Thực trạng việc vận dụng quy luật giá trị và vai trò của quy luật
giá trị trong nền kinh tế ở nớc ta thời gian qua
Nớc ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá. Mô hình kinh tế của
nớc ta đợc xác định là: Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định
hớng XHCN.
2.1.1. Thực trạng việc vận dụng qui luật giá trị ở nớc ta thời
gian qua
Trớc khi đổi mới, cơ chế kinh tế nớc ta hoạt động theo cơ chế tập
trung bao cấp. Nhà nớc lãnh đạo nền kinh tế một cách có kết hoạch
mang nhiều yếu tố chủ quan. Điều này đã phủ nhận tính khách quan của
quy luật giá trị làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, năng động của xã
hội. Nền kinh tế rơi vào tình trạng kém phát triển.
Sau khi đổi mới quy luật giá trị đợc nhà nớc vận dụng vào kế
hoạch hoá mang tính định hớng. Nhà nớc phải dựa trên tình hình định
năng của khu vực kinh tế t nhân vẫn còn lớn và cha đợc khai thác cao
cho tăng trởng kinh tế, khu vực kinh tế t nhân tập trung chủ yếu ở sản
xuất nông - lâm - ng nghiệp, sản xuất công nghiệp và cung cấp dịch vụ
11
với quy mô nhỏ và rất nhỏ. Từ năm 1994 khu vực có vốn đầu t nớc
ngoài đã có vai trò ngày càng tăng trong phát triển kinh tế Việt Nam.
Mặc dù từ năm 1997, đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam giảm
mạnh, tỷ trọng của khu vực này trong năm GDP vẫn tăng, chiếm 9,82%
năm 1998 và 10,4% năm 1999.
b) Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2002 đạt 16,706 tỷ USD, tăng
11,2% so với năm 2001, đạt đợc mục tiêu tăng xuất khẩu năm 2002 là
từ 10 đến 12% và cao hơn nhiều so với mức tăng 3,8% của năm 2001.
Điều đặc biệt là sau 6 tháng đầu năm 2002 liên tục giảm xuất khẩu bắt
đầu tăng nhanh dần sau những tháng tiếp theo xuất khẩu hàng hoá của
các doanh nghiệp trong nớc đạt 8,834 tỷ USD bằng 52,9% tổng kim
ngạch xuất khẩu, tăng 7,4% xuất khẩu của các doanh nghiệp nớc ngoài
đạt 7,87 tỷ USD, bằng 47,1% tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15,8%.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2002 ớc đạt 19,73 tỷ USD
tăng 22,1% so với năm 2001. Tơng tự nh xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hoá liên tục tăng và nhanh dần vào các tháng cuối năm. Nhập khẩu hàng
hoá trong nớc ớc đạt 13,11 tỷ USD, bằng 66,5% tổng kim ngạch nhập
khẩu, tăng 17,3%. Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài nhập 6,62
tỷ USD, bằng 33,5%. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 32,8%. Trong
tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu, máy móc thiết bị, ô tô
xe máy chiếm 97,5% tăng 0,1% hàng tiêu dùng chỉ chiếm 2,5%, giảm
0,1%.
c) Lạm phát
12