LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Thạc sĩ Tống Thanh Bình đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành Khóa luận này.
Em xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Lịch sử Việt Nam, Khoa Sử - Địa,
Thư viện nhà trường, các bạn trong tập thể lớp K50 Đại Học Sư Phạm Lịch Sử,
đã giúp em tìm kiếm tài liệu, động viên em hoàn thành Khóa luận này.
Trong quá trình hoàn thành Khóa luận này, em không thể tránh khỏi những
thiếu xót, hạn chế. Em kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của quý thầy,
cô và các bạn để Khóa luận của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện Hà Thị Đạt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Pháp đầy khó khăn, gian khổ của nhân dân ta kết
thúc thắng lợi vào năm 1954. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945
– 1954) bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan: xuất phát
từ truyền thống yêu nước của dân tộc, đường lối chính trị quân sự đúng đắn sáng
tạo của Đảng, sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế; trong đó nhân tố có
tính chất quyết định nhất là nhờ có đường lối chính trị và quân sự đúng đắn,
khoa học, phù hợp của Đảng…
Tuy nhiên, nhiều công trình được công bố, chưa tìm hiểu, nghiên cứu, đánh
giá cho thực sự sâu sắc, chi tiết về quá trình hình thành đường lối kháng chiến
của Đảng, đặc biệt là sự sáng tạo của Đảng khi đề ra nội dung cuộc kháng chiến
“toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh”. Vì vậy, việc lựa chọn “Quá
trình hình thành đường lối kháng chiến của Đảng những năm 1945 – 1947” làm
đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Về khoa học:
Làm rõ thêm điều kiện chủ quan và khách quan đưa đến sự hình thành
Đường lối kháng chiến của Đảng với phương châm: toàn dân, toàn diện, lâu dài
và tự lực cánh sinh.
Làm rõ thêm quá trình chuẩn bị kháng chiến của nhân dân ta về mọi mặt:
kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục.
Làm rõ quá trình kêu gọi, phát động toàn dân tham gia kháng chiến và quá
trình toàn dân tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ
độc lập, tự do của Tổ quốc.
Làm rõ Đường lối lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ trước quyết tâm quay trở
lại xâm lược của thực dân Pháp.
Về thực tiễn:
Bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về thời kỳ kháng chiến chống thực
dân Pháp (1946 – 1954).
Làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy cho giáo viên, sinh viên khi nghiên
+ Cuốn “Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài
học” (1996), Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ chính trị, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Tác phẩm đã phân tích và làm rõ sự đúng đắn,
sáng tạo của Đảng khi vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam.
+ Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh.
Tác phẩm đã xác định kẻ thù, mục đích của cuộc kháng chiến, phương châm và lí
do vì sao Đảng và nhân dân ta lại đề ra nội dung cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn
diện, lâu dài, và tự lực cánh sinh”
+ Cuốn “Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới và phương
pháp dạy học lịch sử” của Tiến sĩ Phạm Văn Lực (chủ biên) (2011), Nhà xuất
3
bản Đại học sư phạm Hà Nội. Trong cuốn sách có chuyên đề “Kết hợp hai
nhiệm vụ kháng chiến với kiến quốc 1945 – 1954”. Chuyên đề này đã làm rõ
được cơ sở để Đảng ta đề ra đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược, phân tích tình hình trong nước và quốc tế, những yêu cầu cấp thiết đặt ra
cho lịch Việt Nam thời điểm đó là phải thực hiện hai nhiệm vụ: Kháng chiến và
Kiến quốc.
+ Trong một số bài viết trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Đảng. Tác giả đã
đánh giá và khẳng định, sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
của nhân dân ta là nhờ có sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
+ Ngoài ra, những vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình, bài
viết như: Khóa luận tốt nghiệp, các bài tham luận, hội thảo trong nước và Quốc
tế về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam, hoặc một số hối ký
của các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước, bài viết trên các Tạp chí nghiên cứu
Lịch sử…
Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu trên chỉ mới phản ánh ở những
góc độ, khía cạnh nào đó về sự hình thành đường lối kháng chiến của Đảng,
phương châm kháng chiến của Đảng.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu thành ba
chương:
Chương 1. Cơ sở Đảng ta đề ra đường lối cuộc kháng chiến
Chương 2. Quá trình hình thành đường lối kháng chiến của Đảng
Chương 3. Nội dung đường lối kháng chiến
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ ĐẢNG TA ĐỀ RA ĐƯỜNG LỐI CUỘC KHÁNG CHIẾN
1.1. Cơ sở lí luận
Cách mạng tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam phải đối mặt với
nhiều khó khăn thử thách do thù trong, giặc ngoài gây ra. Để bảo vệ thành quả
của Cách mạng tháng Tám, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân và giữ vững
nền độc lập của dân tộc, đòi hỏi Đảng, Chính phủ phải có chủ trương sách lược
đúng đắn, sáng suốt, trong đó có việc giải quyết vấn đề kháng chiến - kiến quốc.
Chủ nghĩa Mác – Lênin nói về vấn đề chiến tranh và hòa bình một cách rất
chung chung, Mác nói: “Cách mạng vô sản nổ ra ở các nước tư bản”. Đến thời
đại đế quốc chủ nghĩa, Lênin phát triển chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh mới
“Cách mạng vô sản sẽ bùng nổ ở khâu yếu nhất trong sợi dây truyền đế quốc
chủ nghĩa” hoặc “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó hơn”
hoặc khi nói về mối quan hệ giữa hai cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
và cách mạng xã hội chủ nghĩa, Lênin cũng nói “Giữa hai cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa không có bức tường thành
ngăn cách” [12, 371].
1.2. Cơ sở thực tiễn
được thắng lợi, trong chiến tranh không thể tồn tại được.
Nhìn chung vai trò của cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của đất
nước đều được các nhà chiến lược, các nhà quân sự đánh giá cao và yêu cầu
những nhà lãnh đao, những người cầm quân phải quan tâm thường xuyên trong
thời chiến cũng như thời bình. Bởi lẽ, chiến tranh là sự đối mặt toàn diện của các
bên tham chiến; bên nào cũng phải huy động đến mức cao nhất sức người, sức
của, mọi cơ sở vật chất đều bị thử thách tiêu hao. Do đó, cần phải được bổ sung
và phát triển. Trong chiến tranh, đường lối lãnh đạo phải kịp thời, chính xác,
động viên tinh thần chiến đấu cho quân đội; đảm bảo giữ vững và tăng cường
tiềm lực kinh tế và quốc phòng. Sức mạnh của Đảng là sức mạnh của tất cả yếu
tố chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội. Những yếu tố đó có liên quan chặt
chẽ với nhau tạo thành một thể hoàn chỉnh. Vì vậy, Đảng trở thành nhân tố
quyết định đến thắng lợi của cuộc chiến tranh.
1.2.2. Việt Nam
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, nhất là sau khi cách mạng nước
ta bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược khó
khăn, thiếu thốn về mọi mặt, lại bị bao vây cô lập “trong vòng vây” của chủ
nghĩa đế quốc; thực dân Pháp mạnh hơn ta về kinh tế, quân sự lại được các nước
đế quốc ủng hộ đang tìm cách cướp nước ta lần thứ hai.
1.2.2.1. Trong lịch sử
Kế thừa kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, do nước ta là một nước
nhỏ yếu, nước nghèo lại tồn tại bên cạnh một đế chế Trung Hoa rộng lớn đầy
7
tham vọng đồng hóa và thôn tính đối với dân tộc ta; có thể nói, không triều đại
Trung Quốc nào không xâm lược Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó, để đánh thắng
được giặc ngoại xâm, giữ vững độc lập dân tộc, cha ông ta phải có nghệ thuật
giữ nước. Một trong những nghệ thuật đó, là biết kết hợp giữa kinh tế với quốc
phòng mà tiêu biểu nhất là chính sách “ngự binh ư nông”. Tư tưởng đó có nghĩa
8
đói có nguy cơ tái diễn trên diện rộng. Công nghiệp, lạc hậu, đình đốn, phần lớn
xí nghiệp bị tàn phá, sản xuất chưa được phục hồi. Thương nghiệp thì ngưng trệ,
bế tắc, hàng hóa khan hiếm, đắt đỏ, sự giao lưu buôn bán với nước ngoài chưa
được khôi phục.
+ Về tài chính, ngân sách Trung ương lúc này chỉ có 1.230.000 đồng, trong
đó gần một nửa là rách nát, không thể lưu hành được. Nhà nước chưa kiểm soát
được ngân hàng Đông Dương. Thêm vào đó, quân Tưởng khi vào Việt Nam đã
tung giấy bạc “quan kim” và “quốc tệ” đã hết hạn sử dụng ra thị trường Việt
Nam làm lũng đoạn nặng nề hơn nền tài chính của ta.
+ Về xã hội, do chính sách cai trị theo kiểu “ngu dân” của thực dân Pháp đã
để lại cho dân tộc ta một “di sản” văn hóa hết sức lạc hậu: Hơn 90% dân số
không biết chữ, các tệ nạn xã hội như nghiện rượu, hút thuốc phiện, mê tín dị
đoan… rất trầm trọng và phổ biến.
+ Về chính trị, chính quyền dân chủ nhân dân mới ra đời, chưa có kinh
nghiệm quản lí. Ở trong nước, bộ máy chính quyền được xác lập từ Trung ương
tới địa phương, tuy nhiên ở một số nơi chính quyền vẫn chưa thực sự nằm trong
tay những người cách mạng.
Quân đội thường trực đang trong quá trình xây dựng, chưa được huấn luyện
phần lớn cán bộ chỉ huy chưa hiểu biết về quân sự và kinh nghiệm chiến đấu.
Hơn nữa trang bị vũ khí thô sơ, thiếu thốn, chủ yếu là giáo mác, mã tấu một số ít
là súng trường và súng máy.
Mặt trận dân tộc thống nhất, tuy phát triển rộng rãi, nhưng chưa được củng
cố vững chắc. Trong khi đó, kẻ thù lại đang ra sức thực hiện âm mưu chia rẽ và
lôi kéo – do đó vấn đề đại đoàn kết, đoàn kết tôn giáo là những vấn đề lớn được
đặt ra bức thiết lúc đó. [3, 374].
+ Về quân sự
Ở miền Bắc: Khoảng hai mươi vạn quân của Tưởng Giới Thạch do tướng
Lư Hán và Tham mưu trưởng Hà Ứng Khâm chỉ huy đã lũ lượt kéo vào miền
Một số thành tựu mà nhân dân ta đạt được trong công cuộc chống “giặc
đói”, “giặc dốt”, giải quyết khó khăn về tài chính… chỉ làm dịu đi những khó
khăn chồng chất mà nhân dân ta đang phải đối mặt chứ chưa được giải quyết dứt
điểm, trong khi đó thực dân Pháp lại quyết tâm cướp nước ta thêm một lần nữa.
Về phía thực dân Pháp
Trong khi đó thực dân Pháp mạnh hơn ta về kinh tế quân sự, được các nước
đế quốc cùng bọn tay sai ủng hộ; chúng lại có quân đội dày dặn kinh nghiệm
thực dân…
Trong bối cảnh lịch sử đó, để kháng chiến được và đưa cuộc kháng chiến đi
đến thắng lợi, đòi hỏi phải có tư tưởng đường lối đúng đắn phù hợp. [10, 374].
10
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN
Nước Việt nam, cần hòa bình để kiến thiết đất nước. Vì vậy, Chính phủ
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã kiên trì giải quyết mối quan hệ bang giao
hòa bình và hợp tác với chính phủ Pháp. Việt Nam đã phải ký Hiệp định sơ bộ 6
/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946.
Nhưng Việt Nam càng nhân nhượng, thì thực dân Pháp càng lấn tới. Những
người cầm đầu chính phủ Pháp lúc bấy giờ, tuy có khác nhau ít nhiều trong cách
giải quyết bang giao Pháp Việt, song đều có một quyết tâm chung là giành
quyền thống trị của chúng ở Việt Nam và toàn bộ bán đảo Đông Dương với bất
cứ giá nào. Trong đó cực đoan và phản động nhất là các tướng tá điều hành quân
sự ở Đông Dương như: Đacgiăngliơ, Valuy, Pinhông…
Hiệp định Sơ bộ 6 – 3 vừa được kí kết đã bị thực dân Pháp phản động phản
bội. Quân Pháp đã tấn công các phòng tuyến của quân ta ở Nam Bộ và Nam
Trung Bộ. Ngày 10/4/1946, tướng Valuy đã kí và ban hành “phương án số 2”
nhằm thực hiện các biện pháp hữu hiệu có tác dụng làm biến đổi dần “cái kịch
bản” của một hành động thuần túy quân sự thành “kịch bản của cuộc đảo
đòi để chúng làm nhiệm vụ giữ gìn trị an ở Hà Nội. Chúng tuyên bố nếu các yêu
cầu trên không được Chính Phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng
20/12/1946 quân Pháp sẽ chuyển sang hành động.
Ngọn lửa chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp bùng cháy trên toàn
quốc là điều không thể tránh được nữa, vì Pháp quyết định sẽ châm ngòi vào
ngày 20/12 bất cứ giờ phút nào.
Tình thế khẩn cấp đòi hòi Đảng, nhà nước – đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí
Minh, phải có một sự chọn lựa lịch sử, phải kịp thời, có một quyết định để
chuyển xoay vận nước đang lâm nguy.
Trên cơ sở vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn
cảnh thực tế Việt nam, đúc rút bài học kinh nghiệm của cha ông trong quá trình
đấu tranh chống ngoại xâm; cùng các văn kiện quan trọng để kịp thời chỉ đạo
toàn dân tích cực chuẩn bị kháng chiến.
2.1. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Ngày 18, 19/12/1946 tại Vạn Phúc, Hà Đông, ban thường vụ Trung ương
Đảng họp mở rộng do Hồ Chí Minh chủ trì, đã quyết định chủ trương phát động
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước, và đề ra đường lối
chủ trương của Đảng.
Trong bối cảnh đó, Ban Thường vụ Trung ương đã điện cho các chiến khu,
các tỉnh ủy và chị thị “hãy sẵn sàng”.
Chiều 19/12/194, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp, đã quyết
định chuyển đến các đơn vị lực lượng vũ trang mệnh lệnh về ngày của cuộc giao
chiến trong toàn quốc.
12
Theo chỉ thị của Trung ương, 20h ngày 19/12/1946, tín hiệu bắt đầu cuộc
kháng chiến trong toàn quốc được phát ra. Bộ trưởng Bộ quốc phòng đã công bố
mệnh lệnh chiến đấu, hạ lệnh cho toàn thể lực lượng vũ trang phải nhất tề đứng
dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước.
Ngay giữa lúc tiếng súng kháng chiến toàn quốc rền vang ở Hà Nội và trên
yêu nước, khơi dậy mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc, truyền thống anh hùng bất
khuất, làm cho cả nước đứng lên chiến đấu bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí sẵn có, với
một ý chí “quyết tử, cho tổ quốc “quyết sinh”, một thái độ chính trị dứt khoát và
kiên định: “thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”.
Lời kêu gọi kháng chiến là một bản cương lĩnh kháng chiến mang tính khái
quát cao, chứa đựng tư tưởng, quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn
dân đánh giặc, lâu dài, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi.
Đảng quyết tâm phát động kháng chiến toàn quốc theo quan điểm chiến
tranh nhân dân là một quyết định đúng, kịp thời và là điểm xuất phát cơ bản cho
mọi thắng lợi về sau của cuộc kháng chiến.
2.2. Chỉ thị toàn quốc kháng chiến
Trong hoàn cảnh đất nước đang lâm nguy, cuối tháng 12/1946, Ban thường
vụ Trung ương Đảng đã công bố rộng rãi “Chỉ thị toàn dân kháng chiến” và nêu
một cách tóm tắt nội dung đường lối và chính sách kháng chiến bao gồm: mục
đích, tính chất, chính sách, cách đánh, chương trình kháng chiến, cơ quan lãnh
đạo kháng chiến, khẩu hiệu tuyên truyền để hướng dẫn các Đảng bộ và cơ quan
chỉ đạo kháng chiến các cấp thi hành.
Về mục đích của cuộc chiến tranh: đánh đuổi chủ nghĩa thực dân xâm lược
đế quốc Pháp, giành độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc.
Về tính chất cuộc kháng chiến của ta
Trong lịch sử có hai loại chiến tranh: chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh
phi nghĩa. Chiến tranh chính nghĩa: là những cuộc chiến tranh chống bọn áp
bức, bọn xâm lược giành tự do, độc lập; Chiến tranh phi nghĩa: là những cuộc
chiến tranh xâm lược hoặc “bình định” cốt chiếm nước người hoặc cướp tự do
hạnh phúc của con người.
Nhân dân ta đã đánh thực dân Pháp để giành tự do, độc lập, để tự vệ, để tự
giải phóng, vì vậy cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh cách mạng
của nhân dân, chiến tranh tự vệ của dân tộc, là chiến tranh chính nghĩa, chiến
phận khăng khít của phản động thế giới. Trong hàng ngũ chúng, có bọn tài phiệt
phát xít Pháp đã cộng tác với Đức quốc xã. Trong quân đội chúng, có rất nhiều
lính Đức trước đây đã có chân trong các tổ chức phát xít của Hitle, hợp tác với
bọn tài phiệt phát xít Pháp và làm tay sai cho chúng, đánh chiếm Việt Nam.
Vì thế, nhân dân Việt nam đánh thực dân phản động Pháp tức là đánh
những lực lượng phát xít còn sót lại, tức là đánh bọn phá hoại hòa bình thế giới,
đánh bọn đã công nhiên phản bội Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến chương
Đại Tây Dương.
Nhân dân Việt Nam nhận rõ rằng chỉ khi nào quét sách được bọn thực dân
phản động Pháp ra khỏi Việt Nam thì nhân dân hai nước Việt – Pháp vốn yêu
15
chuộng tự do, độc lập mới có thể hòa bình hợp tác trong khối Liên hiệp Pháp và
trong đại gia đình dân chủ thế giới.
Như vậy, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh tiến
bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
2.3. Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”
Để giải thích và phát triển quan điểm, đường lối kháng chiến của Đảng và
Hồ CHí Minh, Trường Chinh – Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Đông Dương đã viết một loạt bài đăng trên báo Sự thật từ số 70 đến số
81 và nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Nam Bộ kháng chiến, tác giả đã sửa
chữa bổ sung và in thành tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi.
Tác phẩm khẳng định rõ:
1. Kẻ thù dân tộc Việt Nam cần phải đánh đổ
“Dân tộc Việt Nam đang làm một cuộc chiến tranh thần thánh, giành độc
lập tự do, giữ gìn lãnh thổ của tổ tiên để lại.” Cả nước đang vùng dậy đánh giặc
– Bọn thực dân phản động Pháp.
Thực dân phản động Pháp, đó là kẻ thù không đội trời chung của ta. Đó là
kẻ thù chính. Đó là kẻ thù đáng muôn đời nguyền rủa. Đó là kẻ thù chúng ta
phải xông lên mà chặn lại, mà bắn giết, băm vằm.
Ta làm được như thế thì hàng ngũ của địch sẽ bị tan rã, bọn thực dân phản
động Pháp sẽ bị cô lập. “Cô lập kẻ thù để đánh đổ nó” đó là một sách lược
thông thường của một giai cấp, một dân tộc quyết chiến và quyết thắng. [5, 366]
2. Tác phẩm xác định lý do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến:
Trong lời kêu gọi đồng bào kháng chiến, ra ngày 22/12/1946, Hồ chủ
tịch nói:
“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng! Chúng
ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp
nước ta lần nữa”. Pháp là tên đế quốc thực dân, chúng tham lam, tàn nhẫn,
giày xéo lên chính nghĩa. Chúng đánh ta thì ta phải đánh lại để tự vệ, bảo vệ
non sông đất nước.
Đồng chí Trường Chinh cũng đã lấy những dẫn chứng rất cụ thể vạch trần
bộ mặt gian ác của thực dân Pháp và khẳng định lí do vì sao chúng ta phải chiến
đấu đến cùng.
- Tháng Tám năm 1945, Nhật bại, nhân dân ta khởi nghĩa giành chính quyền.
+ Ngày 23/9/1945, thực dân pháp đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến
tranh xâm lược nước ta một lần nữa.
Chúng không thi hành hiệp định Sơ bộ, không những không đình chiến
trong Nam Bộ, lại lập chính phủ bù nhìn của cái gọi là “nước Nam kỳ tự trị” và
đánh chiếm miền tây Nam Trung bộ, định lập “nước Tây kỳ”, đồng thời đánh ta
ở Sơn La, Lai Châu, thuộc Bắc bộ, định lập “nước Thái’, và đánh chiếm vùng
17
Lạng Sơn – Hải Ninh, định lập nước “Nùng” chiếm miền bờ biển từ Hải phòng
đến Móng Cái, định lập “Khu vực liên bang”.
+ Pháp lợi dụng lòng thành thật của ta mà đem quân đi khắp các vùng thôn
quê, bắt bớ các nhà yêu nước trong Nam, đặt lại ban “hội tề”, một thứ chính
quyền bù nhìn của Pháp ở các làng.
+ Chúng phong tỏa cửa biển Hải Phòng và cướp lấy thuế quan của ta, làm
cho Chính phủ ta gặp nhiều khó khăn về tài chính.
“Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19/12/1946).
Tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, thấm nhuần trong mỗi người
dân Việt
Phản động Pháp lại hết sức tuyên truyền đổ cho ta đánh trước hôm
19/12/1946. Kì thực, chúng muốn che lấp tội lỗi của chúng: đã đánh ta trước từ
hôm 20/11/1946 ở Hải Phòng, Lạng sơn và hôm 7/12/1946 ở Thủ đô. Hơn nữa,
chúng đã đánh ta ngay từ khi kí hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và trước đó nữa.
Chúng la lối: Việt Nam bội ước, cố làm cho thiên hạ quên hành động bội ước
của chúng.
Nhưng sự thật bao giờ cũng vẫn là sự thật, và chúng phải hoàn toàn chịu
trách nhiệm trước lịch sử, trước thế giới, trước nhân dân Pháp, về hành động bội
ước của mình.
Trên thế giới ai là người có lương tri đều phải công nhận nhân dân ta hết
sức yêu chuộng hòa bình, Chính phủ ta ôn hòa đến cực điểm, nhưng đã phải
đánh thì kiên quyết đánh! Nín nhịn đã nung nấu trong lòng dân tộc ta biết bao
uất hận, nổ thành một sức mạnh xung thiên!
Đánh để làm gì?
Pháp đã kí hiệp định với Việt Nam, tại sao bọn tự nhận là đại diện cho
nước Pháp lại chỉ muốn bắt riêng mình nhân dân Việt Nam thi hành hiệp định
ấy, còn chúng thì tự tiện dày xéo lên nó? Tại sao bọn thực dân phản động mà
Đácgiăngliơ và bè lũ đầy tớ giám trơ tráo “hạ tối hậu thư”?
Để chống lại thái độ bội tín, phi nghĩa, láo xược của thực dân phản động
Pháp, nhân dân Việt Nam phải đánh!
Thực dân Pháp đã áp bức, bóc lột nhân dân Việt Nam ngót một thế kỉ nay.
Trong năm năm chiến tranh vừa qua, chúng lại mở cửa Đông Dương đón phát
xít Nhật, rồi cùng phát xít Nhật đày đọa nhân dân ta trong muôn trùng khổ ải.
Ngày nay, chúng thấy ta giành được chính quyền, giành được độc lập tự do,
chúng lo cho quyền lợi bất chính của chúng. Chúng nhìn ta bằng cặp mắt hằn
học, căm hờn. Mặc dù “Tạm ước” 14/9/11946, ta thừa nhận quyền lợi kinh tế và
không phải dễ bị lừa bịp như chúng tưởng.
Kháng chiến Việt Nam nhất định sẽ thành công, Việt Nam độc lập thống
nhất muôn năm!
Tác phẩm đã vạch ra một phương châm quyết chiến với thực dân Pháp để
giành độc lập, thống nhất thật sự cho Tổ quốc, giữ vững và mở rộng chế độ cộng
hòa dân chủ Việt Nam vào công cuộc bảo vệ hòa bình, dân chủ trên thế giới.
Dưới sự chỉ đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng của dân tộc. Một
cuộc tổng hợp những kinh nghiệm lịch sử và kinh nghiệm nước ngoài đang được
thực hiện, đặng chuyển bại thành thắng. Vì vậy, mặc dù thực dân Pháp hung
20
hãn, quỷ quyệt đến bậc nào, thì cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhất định sẽ
thắng lợi.
Như vây, đường lối kháng chiến của Đảng được vạch ra thông qua: “Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Chỉ thị toàn quốc kháng chiến” và tác phẩm
“Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Qua đó nhân dân ta đã chuẩn bị và sẵn sàng
bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp với nội dung: toàn
dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh. Nhờ có đường lối lãnh đạo đúng đắn,
sáng tạo, nhanh nhạy và kịp thời của Đảng, quân và dân ta đã chiến thắng giặc
Pháp – kẻ thù hung hãn và quỷ quyệt, giành độc lập, tự do cho đất nước.
21
CHƯƠNG 3
NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN
Đường lối kháng chiến được Đảng ta đề ra với bốn nội dung: “kháng chiến
toàn dân, kháng chiến toàn diện, kháng chiến trường kỳ và dựa vào sức mình là
chính”; mỗi nội dung đều thể hiện được tư tưởng Kháng chiến – Kiến quốc của
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và được hiểu như sau:
3.1. Kháng chiến toàn dân
phá hủy la liệt, làm cho nghề buôn bị ngưng trệ. Về tài chính lại càng khốn quẫn
hơn nữa, bao nhiêu vàng bạc đều bị giặc Pháp cướp đi hết. Vì vậy, nhiệm vụ số
một của chúng ta là phải động viên nhân lực, động viên công nghiệp, nông
nghiệp, thương mại, giao thông, tài chính. Bao nhiêu trai tráng, phải chịu huấn
luyện vũ trang để chờ đưa ra mặt trận, còn bao nhiêu ở lại phải gắng công, gắng
sức ở đồng ruộng cũng như ở nhà máy để sản xuất ra thật nhiều thóc gạo, quân
nhu đồ dùng cho chiến sĩ ngoài tiền phương, và cứu dân nghèo đói ở hậu phương.
Các nhà giàu có, góp vốn lại mở công ty để kinh doanh công nghiệp, nông
nghiệp, tài chính, giao thông, để tăng gia sản xuất giao lưu buôn bán. Các thanh
niên nên cố gắng học tập kỹ thuật để trở thành những tay chuyên môn nhân tài.
Thực hiện “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài”. Quân ta
càng đánh thì lực lượng càng thống nhất, càng mạnh. Đồng thời nếu không động
viên để toàn dân tham gia kháng chiến thì không có lực lượng đánh lâu dài, muốn
có được lực lượng đánh lâu dài phải huy động toàn dân tham gia kháng chiến.
3.2. Kháng chiến toàn diện
Muốn thực hiện “toàn dân kháng chiến” thì kháng chiến phải có nhiều
hình thức: Quân sự, chính trị, văn hoá… Thông qua những hình thức kháng
chiến toàn diện như thế thì toàn dân mới phát huy được hết năng lực của mình
trong cuộc kháng chiến
Mặt khác, thực dân Pháp không những đánh ta về mặt quân sự mà còn phá
ta cả về kinh tế, chính trị, văn hoá…, vì vậy ta không những phải kháng chiến
trên mặt trận quân sự mà phải đánh bại mọi âm mưu phá hoại kinh tế, chính trị,
và văn hoá của chúng phải kháng chiến toàn diện.
Kháng chiến về mặt quân sự, tức là dùng mọi cách mưu mẹo tiêu diệt lực
lượng của địch, giữ gìn và phát triển lực lượng của ta, dùng vũ lực quét sạch
địch ra khỏi nước ta.
Phương châm tác chiến của ta là tích cực tiến công giải quyết mau trong
từng trận.
Ta bị đánh, địch mạnh hơn ta. Nếu ta chỉ chủ thế, bị đánh đâu đỡ đó thì
càng đánh càng suy nhược, càng đánh càng thua. Cho nên, trong các chiến dịch
hoảng hốt tán loạn, đến nỗi bị tiêu diệt hoặc bỏ trận địa mà rút. Đặc điểm của
vận động chiến là: Bộ đội đánh theo kiểu lưu động và tiêu diệt.
Muốn thắng địch, phải dùng du kích chiến và vận động chiến tức là cách
đánh nửa du kích, nửa vận động. Nhưng không phải là tuyệt đối không dùng vận
động chiến. Trận địa chiến là cách đánh dàn thành mặt trận mà đánh của quân
chính quy; đào hào; đắp lũy ngăn địch lấn đất và lừa chỗ địch yếu hoặc lúc địch
hớ hênh, tiến chiếm trận địa.
Ta còn kém địch về vũ khí mà vội dùng trận địa chiến thì thua. Cho nên, du
kích chiến và vận động chiến là những lối đánh chính, trận địa chiến lúc này chỉ
là lối đánh phụ. Còn du kích chiến và vận động chiến thì tùy theo điều kiện chủ
quan và khách quan, tùy theo điều kiện cụ thể của từng nơi và từng lúc mà dùng
du kích chiến nhiều hơn vận động chiến hay là ngược lại. Tuy vậy, vì nhân dân