BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HOÀNG THANH VÂN
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THỰC DÂN
MỚI CỦA MĨ Ở PHILIPPIN (1898 - 1946)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, tổ Lịch sử
thế giới, thư viện trường đại học Tây Bắc đã giúp đỡ nhiệt tình trong việc tìm
kiếm tài liệu, thực hiện khóa luận.
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình, tập thể
lớp K50 đại học sư phạm Lịch sử và toàn thể bạn bè đã luôn nhiệt tình ủng hộ,
giúp đỡ em.
Khóa luận được hoàn thành còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ
bảo góp ý của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Hoàng Thanh Vân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, phạm vi, cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
3.1. Mục đích nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
3.3. Cơ sở tư liệu. 4
3.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………… ……4
4. Đóng góp của đề tài 4
5. Kết cấu đề tài 4
NỘI DUNG………………………… ……………………………………… 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ RA ĐỜI VÀ BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA THỰC
DÂN MỚI CỦA MĨ 5
trực diện tấn công lật đổ chế độ phong kiến bảo thủ, lỗi thời với quan hệ sản
xuất lạc hậu, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa.
Năm 1511, thực dân Bồ Đào Nha xâm chiếm bán đảo Malăcca được coi là
mốc mở đầu cho sự ra đời của chủ nghĩa thực dân. Chủ nghĩa thực dân là sản
phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa, là vết nhơ trong lịch sử nhân loại bởi nó đã tạo
ra thời kì đầy bi thương cho các dân tộc ở Á, Phi, Mĩ Latinh. Trong suốt một thời
gian dài, thuộc địa được coi là thước đo sức mạnh của các nước tư bản bởi vậy
những nước tư bản phát triển đều đua nhau đi tìm kiếm, xâm lược thuộc địa.
Trong quá trình xâm lược thuộc địa, các nước thực dân đã áp dụng những
chính sách cai trị khác nhau để hình thành nên các khái niệm “chủ nghĩa thực
dân cũ” và “chủ nghĩa thực dân mới”. “Chủ nghĩa thực dân cũ” là sự xâm lược
và thống trị thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trước chiến tranh thế giới thứ hai
(1939 - 1945). Các nước tư bản, đế quốc đem quân đi xâm chiếm, xóa bỏ nền
độc lập các nước, đặt bộ máy cai trị trực tiếp, dùng giai cấp phong kiến thống trị
cũ làm tay sai bù nhìn cho chúng để đàn áp, bóc lột nhân dân. Chế độ thực dân
đã đàn áp, bóc lột nhân dân thuộc địa rất dã man, tàn khốc nên phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ sau Cách mạng
tháng Mười Nga thắng lợi (1917). Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954) ở
Việt Nam đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ. “Chủ nghĩa
thực dân mới” là chính sách thực dân của chủ nghĩa đế quốc trong điều kiện sụp
đổ của hệ thống thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ hai. Với chủ nghĩa thực
dân mới, các nước chuyển từ sự chiếm đóng cai trị trục tiếp sang sử dụng những
biện pháp tinh vi, xảo quyệt hơn nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc
thế giới như dùng bọn tay sai người bản xứ lập chính quyền thống trị nhân dân
với sự viện trợ về kinh tế, quân sự của các nước đế quốc và hoàn toàn phụ thuộc
vào chúng với danh nghĩa độc lập.
Trên thực tế, chủ nghĩa thực dân mới ra đời sớm hơn rất nhiều. Chủ nghĩa
thực dân mới xuất hiện đầu tiên ở Mĩ và được áp dụng trong suốt quá trình bành
2
Từ năm 1899 đến năm 1946 là một thời kì dài của đất nước Philippin phải
chịu ách cai trị của thực dân Mĩ. Những chính sách thực dân mới của Mĩ đã thực
hiện để lại hậu quả hết sức nặng nề. Quá trình Mĩ xâm lược và cai trị được đề
cập trong một số tác phẩm như tác phẩm của Cao Minh Chơng “Cộng hòa
Philippin” viết năm 1989, cuốn sách đã khái quát toàn bộ lịch sử Philippin từ
thời kì đầu trong đó có quá trình Mĩ xâm lược và những chính sách cai trị của
3
Mĩ giúp hình dung được những chính sách cơ bản mà Mĩ áp dụng ở Philippin,
tuy nhiên đó chỉ là những vấn đề sơ lược nhất.
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn, quốc gia – Viện nghiên cứu Đông
Nam Á cũng đã xuất bản hai ấn phẩm đó là “Tìm hiểu lịch sử - văn hóa
Philippin” tập một xuất bản vào năm 1996 và tập hai xuất bản vào năm 2001 tại
nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội. Trong hai tác phẩm không chỉ đề cập về
đất nước, con người, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, văn học, tôn giáo mà còn
trình bày về lịch sử, kinh tế Philippin. Nếu ở tập một, tác giả Cao Minh Chơng
đã khái quát về “Qua các thời kì lịch sử của Philippin” và Nguyễn Thanh
Nguyên cũng đề cập đến nền kinh tế của Philippin trong các thời kì trong đó có
giai đoạn 1899 – 1946. Ở tập hai các tác giả lại đề cập đến những vấn đề cụ thể
hơn như vấn đề “Cộng hòa Philippin: Lịch sử lập hiến và cơ quan lập pháp”; về
tầng lớp tiên tiến của Philippin giai đoạn trước và trong cách mạng 1896 – 1901;
hay đặc điểm quan hệ đối ngoại của Cộng hòa Philippin, những vấn đề này đã
phần nào đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến những chính sách cai trị của
thực dân Mĩ ở Philippin.
Cuốn sách “Các nước Đông Nam Á” do nhà xuất bản Sự Thật phát hành
năm 1974 đã trình bày sơ lược lịch sử địa lí các nước ở khu vực Đông Nam Á
trong đó có Philippin cũng là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu về vấn đề
này nhìn nhận và đánh giá với các nước trong khu vực vào cùng thời kì.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết trên các tạp chí
khoa học khác đề cập đến nhiều vấn đề trong giai đoạn lịch sử này của Philippin
pháp lịch sử và phương pháp lôgic.
Ngoài ra để làm sáng tỏ vấn đề, khóa luận còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khác như phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá.
4. Đóng góp của đề tài
Hoàn thành đề tài này sẽ cung cấp cho người đọc những hiểu biết về cơ sở
sự hình thành, biểu hiện của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ và việc áp dụng
chính sách thực dân mới ở Philippin, những hậu quả và ảnh hưởng đến giai đoạn
sau này khi Philippin giành độc lập và phát triển đất nước.
Bên cạnh đó, khóa luận cung cấp thêm tư liệu tham khảo phục vụ cho quá
trình dạy và học ở trường phổ thông.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, nội dung chính của khóa luận gồm
có hai chương:
Chương 1. Cơ sở ra đời và biểu hiện của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ
Chương 2. Quá trình thực hiện chính sách thực dân mới của Mĩ ở Philippin
(1898 – 1946)
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ RA ĐỜI VÀ BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA
THỰC DÂN MỚI CỦA MĨ
1.1. Cơ sở ra đời của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ
1.1.1. Sự phát triển của kinh tế nước Mĩ
Năm 1492, Crixtốp Côlômbô thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên của
mình. Ông đã tìm ra con đường đi đến châu Mĩ. Cũng từ sau cuộc phát kiến địa
lí, các nước thực dân châu Âu thực hiện xâm lược thuộc địa ở châu lục này. Tây
Ban Nha là tên thực dân tiên phong trong việc xác định quyền lợi của mình ở
đây. Tiếp đó là người Pháp, Hà Lan, Anh, trong đó thực dân Anh đã chiếm được
nhiều thuộc địa nhất.
vàng,…
Về khí hậu, Mĩ chịu ảnh hưởng của khí hậu ôn đới lục địa, khí hậu nhìn
chung điều hòa, mưa nhiều, thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Chính những điều kiện trên là tiền đề cho nền kinh tế Mĩ có điều kiện
phát triển.
Trong thời kì là thuộc địa của nước Anh, bên cạnh những hậu quả mà thực
dân Anh mang lại khi thực hiện chế độ cai trị hà khắc và bóc lột nặng nề thì
cũng làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã du nhập vào 13 thuộc địa
Anh ở Bắc Mĩ, làm cho công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp phát triển
nhanh chóng so với thời kì trước. Các bang không những tự túc được nhu cầu
lương thực, thực phẩm của mình mà còn có thừa để xuất khẩu sang châu Âu với
số lượng ngày càng lớn với các mặt hàng như: ngũ cốc, thuốc lá, bông,… Trong
công nghiệp, đã xuất hiện các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa dưới hai
hình thức tập trung và phân tán, nằm rải giáp dọc các miền ven biển niềm Bắc
như sản xuất rượu, làm bột, thủy tinh, luyện sắt,… Đặc biệt là phát triển ngành
công nghiệp đóng tàu. Cùng với sự phát triển của công nghiệp, nền thương
nghiệp Bắc Mĩ cũng ngày một thịnh vượng. Nhiều hàng hóa công nhiệp, nông
phẩm đã được xuất sang châu Âu và Đông Ấn Độ. Giữa 13 bang với các thuộc
địa của Anh cũng có sự trao đổi hàng hóa ngày càng nhộn nhịp.
Nền kinh tế Mĩ sau khi giành độc lập có bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt
vào đầu thế kỉ XIX, Mĩ tiếp thu những thành tựu của cuộc cách mạng công
nghiệp Anh. Các phát minh của Anh đã tràn sang Mĩ khiến cho việc sản xuất
hàng hóa bằng máy móc cũng tăng lên nhanh chóng. Công cuộc công nghiệp
hóa tiến hành đầu tiên trong ngành dệt, sau đó lan sang các ngành khác như công
nghiệp nặng, luyện kim, đường sắt. Trước năm 1783, nền kinh tế Mĩ vẫn phụ
thuộc vào Anh nhưng từ năm 1830 đến năm 1837, trong công nghiệp, sản lượng
gang tăng 51%, than tăng 26%. Ngành đường sắt phát triển nhanh nhất, mạng lưới
đường sắt không ngừng mở rộng. Năm 1850, Mĩ có mạng lưới đường sắt dài nhất
thế giới, dài 15.500km. Lao động nước Mĩ dần chuyển từ khu vực nông nghiệp
sang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Giao thông vận tải cũng được cải
tăng lên 14 triệu tấn. Năm 1860, Mĩ chưa luyện được thép, đến năm 1900 Mĩ đạt
được sản lượng 10 triệu tấn. Năm 1860, Mĩ mới khai thác được 500 thùng dầu,
song đến năm 1900, con số này đã là 63 triệu thùng. Năm 1913, sản lượng thép
vượt Đức hai lần, vượt Anh bốn lần; than gấp hai lần của Anh và Pháp cộng lại.
Độ dài đường sắt gấp 6,5 lần. Năm 1900, tổng chiều dài đường sắt của Mĩ là
193.000 vạn dặm, vượt tổng số chiều dài của các nước Tây Âu. Bên cạnh các
ngành công nghiệp truyền thống như chế tạo máy móc, đóng tàu, luyện kim, ở
8
Mĩ đã phát triển rất mạnh các ngành công nghiệp mới như điện, dầu lửa, khai
thác và chế biến dầu lửa, hóa chất, ôtô, chế biến nông sản, thực phẩm.
Mĩ có tốc độ phát triển kinh tế rất cao, từ năm 1870 đến năm 1913 mức
tăng trưởng công nghiệp gấp 8,1 lần trong khi Anh chỉ gấp 1,3 lần. Từ vị trí thứ
tư năm 1860 về sản lượng công nghiệp trên thế giới, năm 1894, Mĩ đã vươn lên
vị trí hàng đầu.
Trong nông nghiệp, diện tích đất canh tác tăng lên nhanh chóng. Trong 20
năm cuối thế kỉ XIX, diện tích canh tác tăng gấp 3 lần, sản lượng thu hoạch tăng
gấp đôi. Giá trị nông sản xuất khẩu năm 1860 là 250 triệu đôla đến năm 1900
tăng lên 900 triệu đôla. Từ năm 1860 đến năm 1900, sản lượng lúa mì của Mỹ
tăng 4 lần. Hàng nông sản có chất lượng tốt, giá thành rẻ, được bán rộng rãi. Mĩ
trở thành nước cung cấp chính về lương thực, thực phẩm cho châu Âu.
Như vậy, đến cuối thế kỉ XIX không có nước tư bản nào có nền kinh tế
phát triển mau lẹ như Mĩ. Từ 13 bang vốn là thuộc địa của Anh, Mĩ tiến hành
cuộc chiến tranh giành độc lập và sau đó là cuộc nội chiến mà thực chất là cuộc
cách mạng tư sản. Kinh tế Mĩ đã phát triển vượt trội và vươn lên vị trí hàng đầu
thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế đã thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm thuộc
địa, bành trướng ra bên ngoài bằng sức mạnh kinh tế của đế quốc này.
1.1.2. Quá trình phân chia thuộc địa của thực dân phương Tây đến giữa
thế kỷ XIX
Châu Á, châu Phi và Mĩ Latinh không những là khu vực đông dân, giàu có
điều này đã đặt ra nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và nguồn lao động. Bởi
vậy, khi cách mạng công nghiệp diễn ra đã thúc đẩy quá trình tìm kiếm thuộc
địa. Chủ nghĩa thực dân đã có mặt ở tất cả các châu lục, thực hiện việc xâm lược
và phân chia ảnh hưởng ở các khu vực nhất là vào nửa sau thế kỉ XIX. Đây là
thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, trong
đó thực dân Anh đứng đầu thế giới về hệ thống thuộc địa. Cho đến năm 1900,
diện tích đất đai thuộc Anh lên tới 33 triệu km² với số dân là 370 triệu người,
gấp 10 lần thuộc địa Nga và 7 lần thuộc địa Pháp. Ở châu Á, Anh chiếm được
lãnh thổ Ấn Độ rộng lớn và giàu có, chia Iran, Ápganixtan với Nga, chiếm Miến
Điện, Mã Lai, can thiệp vào Trung Quốc. Ở châu Phi, Anh chiếm được Nam
Phi, Ai Cập, XuĐăng, Nigiêria,… Việc chiếm được các thuộc địa rộng lớn và
giàu có ở khắp nơi làm cho người Anh luôn tự hào“Mặt trời không bao giờ lặn
trên lãnh thổ Anh”.
Đi sau Anh là Pháp, Pháp có nền kinh tế thứ hai trên thế giới. Pháp cũng
chiếm được những thuộc địa giàu có và rộng lớn cũng sau Anh. Pháp chiếm
được các thuộc địa quan trọng ở châu Á như ba nước Đông Dương, can thiệp
vào Trung Quốc. Ở châu Phi Pháp chiếm Angiêri, Marốc, Tuynidi, Ghinê,…
Đến cuối thế kỉ XIX, hầu hết các nước ở Á, Phi, Mĩ Latinh đều trở thành
thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, thế giới không còn một
vùng “đất trống”. Việc các nước đua nhau chạy đua vũ trang đã thúc đẩy tham
vọng cố hữu của Mĩ. Mĩ cũng muốn tham gia vào quá trình đó để khẳng định
sức mạnh mới của dân tộc mình.
10
Trong quan hệ giữa các nước thực dân khi chiến tranh Napoleông thắng lợi,
các nước Nga, Anh, Áo đã thiết lập Đồng minh thần thánh (năm 1815) để bảo
vệ họ trước các cuộc cách mạng đang diễn ra ở nhiều nơi thuộc địa. Các nước
tham gia đã kí kết phải ủng hộ vấn đề trên bằng vũ lực và chống lại phong
trào cách mạng và liên minh của họ vẫn duy trì lực lượng ngay cả khi quân
đội của họ rút khỏi Pháp và thường xuyên xem xét nhằm bảo vệ hệ thống
11
nền công nghiệp hiện đại thì miền Nam lại phát triển nền kinh tế đồn điền dựa
vào sức lao động của nô lệ. Nền kinh tế nông nghiệp đồn điền đã làm cản trở
cho sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bởi vậy nước Mĩ phải
tiếp tục tiến hành cuộc nội chiến (1861 – 1865). Dân miền Nam chiến đấu bảo
vệ chế độ nô lệ và li khai khỏi liên bang còn miền Bắc chiến đấu để bảo vệ sự
thống nhất của liên bang và chấm dứt chế độ nô lệ. Cuộc nội chiến diễn ra với
thắng lợi thuộc về tư sản công nghiệp ở miền Bắc, điều này đã tạo điều kiện cho
đất nước thống nhất. Hậu quả của chiến tranh cũng gây thiệt hại nặng nề cho đất
nước, đặc biệt là miền Nam, kinh tế càng suy sụp. Lúc này Mĩ lại bước vào thời
kì tái thiết đất nước (1863 – 1871). Đây là thời kì đầy phức tạp trong lịch sử
nước Mĩ nhằm xây dựng lại miền Nam, đưa các bang li khai trở lại liên bang,
thành lập các chính quyền mới ở các bang miền Nam. Từ đây, kinh tế nước Mĩ
thực sự phát triển vượt bậc. [13, 28].
Trên thực tế, khi nước Mĩ ra đời (1873) chưa hoàn chỉnh về mặt lãnh thổ
như ngày nay. Mĩ đã tiến hành nhiều biện pháp như mua lại đất của người da đỏ,
vùng lãnh thổ của các đế quốc châu Âu gần Mĩ. Những năm 40 của thế kỉ XIX
là thời kì bành trướng mạnh mẽ của Mĩ. Năm 1844, khi Giêm K. Pôncơ lên làm
tổng thống Mĩ, ông đã mơ tưởng đến việc mở rộng biên giới và lãnh thổ của Mĩ
sang phía Tây và cho rằng nước Mĩ cần phải trải rộng từ Thái Bình Dương sang
Đại Tây Dương. Năm 1845, Mĩ thôn tính Texas và biến vùng đất này thành một
bang của mình. Đầu năm 1846, Mĩ đã chiếm được lãnh thổ Origơn. Chiến tranh
Hoa Kỳ và Mêhicô nổ ra và kết thúc bằng việc Mĩ giành được Mêxicô Cession,
một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Tếchdát đến Thái Bình Dương. Đến năm 1852,
Mĩ sáp nhập đường biên giới Tây Nam bằng việc mua lại dải đất nhỏ được gọi là
Gadsden Purchase. Lãnh thổ Mĩ được mở rộng và xem như hoàn chỉnh phải đến
năm 1898 khi Mĩ sát nhập Haoai vào liên bang.[13, 26].
Trải qua quá trình dài, Hoa Kỳ đấu tranh giành độc lập, ổn định tình hình,
thống nhất đất nước. Lúc đó, các nước phương Tây đã dần xác lập được gianh
loạt các quốc gia độc lập ra đời như: Mêhicô, Vênêxuêla, Bôlivia, Achentina,
Colômbia, Chilê, Braxin,… Cho đến năm 1826, hầu hết các thuộc địa của Tây
Ban Nha ở Mĩ Latinh giải phóng và giành độc lập dân tộc, quân viễn chinh Tây
Ban Nha bị đánh đuổi khỏi lục địa châu Mĩ. Tây Ban Nha chỉ còn thuộc địa ở
Cuba và Puécto Ricô.
Việc xuất hiện các nước độc lập ở khu vực Mĩ Latinh khiến cho các nước
tư bản phát triển ở phương Tây trong quá trình tìm kiếm thuộc địa mong muốn
nhảy vào đặc biệt là thực dân Anh. Còn đối với Mĩ, Mĩ Latinh là khu vực giáp
Mĩ, rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên, hơn nữa nếu để các nước châu Âu vào
xâm lược thì Mĩ sẽ gặp khó khăn lớn, nền độc lập của Mĩ có thể bị đe dọa bởi
Anh luôn mong muốn trở lại xâm lược vùng đất thuộc địa đã bị mất này. Vì lí
do trên Mĩ phải tìm cách ngăn chặn hành động này.
Với vai trò to lớn của thuộc địa và thực lực về kinh tế của mình nhưng Mĩ
lại không có hệ thống thuộc địa tương xứng, yêu cầu về thuộc địa đòi hỏi đưa ra
những chính sách riêng của mình. Mĩ không thể trực tiếp đi xâm lược như các
13
nước thực dân trước đó vì các vùng đất đều đã có chủ, bởi vậy Mĩ đã tìm cách
can thiệp vào các vùng đất bằng các biện pháp khác nhau.
Những biến động của tình hình thế giới, những thay đổi trong nước đã
định hướng cho đường lối đối ngoại của Mĩ, Mĩ mong muốn biến Mĩ Latinh
trở thành thuộc địa phụ thuộc vào Mĩ, đồng thời cũng có tham vọng mở rộng
phạm vi ảnh hưởng ra các khu vực khác, khẳng định vị thế của mình. Điều
này đã dẫn đến sự ra đời chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ.
1.2. Những biểu hiện của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ
1.2.1. Học thuyết Mơnrô (1823)
Hướng đi đầu trong việc thực hiện chính sách chủ nghĩa thực dân mới
của Mĩ ở khu vực này là nhằm tới khu vực Mĩ Latinh, bởi vì khu vực này gắn
với an ninh quốc phòng và sự ổn đinh kinh tế của Mĩ và cũng do tên thực dân
“già” Tây Ban Nha đã thất bại và các nước Mĩ Latinh đã giành được quyền tự
tránh xa lục địa châu Mĩ nói chung và khu vực Mĩ Latinh nói riêng. Đồng thời
đây cũng được coi là chính sách an ninh quốc gia nhằm bảo vệ Mĩ. Việc Mĩ
công nhận nền độc lập của những “hàng xóm” lân cận của mình, đưa ra học
thuyết tránh cho những nước này chịu ảnh hưởng của quốc gia châu Âu cũng
chính là bảo vệ an ninh và lãnh thổ Mĩ.
Về thực chất, đây là học thuyết nhằm phân chia khu vực ảnh hưởng, với nỗ
lực kiềm chế sự khôi phục và việc giành thêm thuộc địa mới, ngăn chặn những
ảnh hưởng sâu rộng của hệ thống chính trị của các quốc gia châu Âu ở lục địa
này và cuối cùng là loại trừ ảnh hưởng của châu Âu ra khỏi châu Mĩ. Nó cũng
chính là công cụ để Mĩ mở rộng ảnh hưởng ở Mĩ Latinh và sau này sẽ vươn ra
các khu vực trên thế giới.
Học thuyết này được coi là mốc đánh dấu sự chuyển hướng trong chính
sách đối ngoại của Mĩ, chuyển từ chủ nghĩa trung lập sang chủ nghĩa bành
trướng mà mục tiêu bành trướng ở đây trước hết là Mĩ Latinh. Mĩ muốn biến Mĩ
Latinh thành sân sau của mình, tăng cường sự ảnh hưởng cả về kinh tế, chính trị
của Mĩ ở vùng này. Mĩ tuyên bố khẩu hiệu nổi tiếng “châu Mĩ của người châu
Mĩ” nhưng thực chất là “châu Mĩ của người Mĩ” và có thể nói, ẩn sau việc
tuyên bố Học thuyết Mơnrô là một nỗ lực bành trướng trên toàn bộ lục địa này
nhưng bằng phương pháp hòa bình, mang tính chất nhân đạo, bảo vệ công lý và
quyền tự do của con người.
Biểu hiện của học thuyết Mơnrô, năm 1825, mượn cớ giúp nhân dân
Puectô Ricô thoát khỏi ách thống trị của Tây Ban Nha, Mĩ đem quân xâm chiếm
bán đảo này Cũng trong năm đó Mĩ buộc Côlômbia cho mình quyền thông
thương qua eo đất Panama, đến năm 1846, Mĩ đã được nhiều quyền ưu tiên về
buôn bán, tự do vận chuyển qua eo Panama, đặt đường xe lửa qua Panama. Mĩ
đã can thiệp vào nhiều nước ở vùng Trung Nam Mĩ như ở Mêhicô, sau cuộc đấu
tranh giành thắng lợi thoát khỏi cai trị của thực dân Tây Ban Nha. Năm 1845,
quân đội Mĩ đã tấn công vào bang Texas, quân đội Mêhicô thất bại. Texas bị sáp
nhập vào Mĩ. Năm 1846, Mĩ lại phát động cuộc chiến tranh mới. Năm 1848, Mĩ
ở Tây bán cầu thông qua chủ trương can thiệp quân sự.
Nội dung chính sách ngoại giao “cây gậy lớn” khẳng định Mĩ sẵn sàng can
thiệp trực tiếp vào bất cứ quốc gia nào của Mĩ Latinh nhằm mục đích duy trì sự
ổn định của khu vực. Tuy nhiên, Mĩ cũng nói rằng chỉ can thiệp trong trường
hợp đó là phương sách cuối cùng nếu lợi ích của Mĩ bị xâm phạm và các nước
này không có khả năng hoặc cố tình không hành động theo công lí bất kể trong
công việc đối nội hay đối ngoại và việc đó thực sự vi phạm đến quyền lợi của
16
Hoa Kỳ hoặc gây ra sự thù địch bên ngoài. Đồng thời, các nước châu Âu được
cảnh báo rằng Mĩ sẽ sử dụng sức mạnh giám sát quốc tế ở bán cầu Tây, sẽ
không ngồi yên khi châu Âu can thiệp vào khu vực này.
Về cơ bản, chính sách ngoại giao “cậy gậy lớn” vẫn là chính sách bành
trướng của quốc gia này ở khu vực Mĩ Latinh. Nhưng Mĩ đã tìm cách can thiệp
sâu hơn và nhấn mạnh đến việc sử dụng vũ trang can thiệp vào khu vực này bởi
đến thời điểm này tiềm lực Mĩ đã mạnh hơn rất nhiều so với giai đoạn trước.
Năm 1909, sau khi Tổng thống Taft lên nắm quyền, nước Mĩ đã thực sự
phát triển vượt bậc cả về nông nghiệp và công nghiệp, trở thành quốc gia công
nghiệp hàng đầu thế giới. Việc sản xuất hàng hóa trong nước vượt lên nhu cầu
tiêu dùng của người dân dẫn đến có sự khủng hoảng thừa. Vấn đề thương mại và
thị trường trở thành mối quan tâm lớn của nước Mĩ. Chính quyền tổng thống Taft
đã quan tâm đến thị trường ở Mĩ Latinh, châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Trong
thông điệp liên bang đầu tiên của mình, Taft đã nhấn mạnh rằng tư bản Mĩ đang
theo đuổi việc đầu tư ở nước ngoài và nhìn chung các sản phẩm của Mĩ đang tìm
kiếm thị trường ở nước ngoài bởi vậy ông đã ủng hộ Ngoại trưởng Knox theo
đuổi chính sách “ngoại giao đôla” với nội dung là dùng sức mạnh quân sự và ảnh
hưởng chính trị để mở rộng các lợi ích thương mại của Mĩ ra bên ngoài.
Tổng thống Taft cũng khẳng định rằng chính sách “ngoại giao đô la” chính
là sự mở rộng của Học thuyết Mơnrô. Điều này có ý nghĩa chính sách này phục
vụ cho công cuộc bành trướng của Mĩ. “Ngoại giao đôla” không chỉ khiến Mĩ
sách của Mĩ có sự thay đổi nhưng tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt trong chính sách
đối ngoại của Mĩ được hình thành trong học thuyết và chính sách trên là không
thay đổi, vẫn là tư tưởng bành trướng, tăng cường ảnh hưởng của Mĩ, khẳng
đinh vị thế bá chủ không chỉ trong lục địa châu Mĩ mà trên toàn thế giới.
1.2.3. “Chính sách mở cửa”
Cho tới cuối thế kỷ XIX, nước Mĩ đã thành công trong việc bành trướng về
phía Tây, vốn là những thuộc địa của Tây Ban Nha. Sự thành công này đã làm
tăng thêm tham vọng để Mĩ mở rộng ra toàn bộ lục địa và châu Á là đích đến
tiếp theo của người Mĩ. Thêm vào đó, Anh đã suy yếu dần còn Mĩ ngày càng
mạnh thêm với lực lượng hải quân hùng hậu, đây là cơ sở quan trọng để Mĩ thực
hiện chủ nghĩa bành trướng của mình, giành giật quyền lực thương mại với các
nước khác.
Mục tiêu cụ thể của Mĩ ở châu Á là Trung Quốc bởi đây là thị trường tiềm
năng khổng lồ, một “bàn tiệc” mà bất cứ nước nào cũng thèm muốn. Tuy nhiên
vào thời điểm Mĩ hướng tới Trung Quốc thì nước này đã bị các cường quốc như
Anh, Pháp, Nga, Nhật xâu xé. Mĩ lo sợ rằng những phạm vi ảnh hưởng của các
cường quốc sẽ dần trở thành thuộc địa. Điều này sẽ khiến Mĩ gặp khó khăn trong
việc đầu tư buôn bán cũng như việc áp đặt ảnh hưởng của Mĩ. Do đó, để ngăn
chặn nguy cơ nói trên, năm 1899, ngoại trưởng Mĩ là John Hay đã gửi công hàm
ngoại giao tới các nước có phạm vi ảnh hưởng ở Trung Quốc kêu gọi các nước
này cùng thực hiện “chính sách mở cửa” do Mĩ đề ra với nội dung:
Thứ nhất, các nước thừa nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.
18
Thứ hai, hàng hóa của các nước phải theo chế độ thuế quan của Trung
Quốc do chính phủ Trung Quốc thu thuế.
Thứ ba, không can thiệp vào các nước theo những điều khoản đã kí.
Thứ tư, tàu thuyền các nước đi lại trong các thương cảng thuộc phạm vi của
các nước khác không được đánh thuế nhập khẩu cao hơn thuế xuất khẩu quy
định cho tàu thuyền của nước mình.
19
tiền “bồi thường” 20 triệu USD. Việc chiếm Philippin đã mở đường cho Mĩ sang
Đông Nam Á.
Đến cuối thế kỉ XIX, vấn đề phân chia thuộc địa giữa các cường quốc đã
kết thúc. Hầu hết các nước Á, Phi, Mĩ Latinh đều trở thành thuộc địa hoặc nửa
thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, thế giới không còn một vùng đất trống. Phần
lớn các thuộc địa rơi vào tay “đế quốc già” như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha. Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cho phép Mĩ thực hiện tham vọng tìm
kiếm thuộc địa. Do bước vào “bàn tiệc” muộn nên Mĩ đã sử dụng những hình
thức thực dân linh hoạt hơn, dùng sức mạnh về kinh tế và tài chính cùng với sức
mạnh quân sự để ràng buộc những nước vừa giành được độc lập về chính trị.
Bằng hình thức này Mĩ đã biến Mĩ Latinh trở thành sân sau của mình và mở
rộng xâm lược các khu vực khác trong đó có Philippin. Nội dung chính sách
thực dân kiểu mới đã xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của Mĩ, thậm chí đến
tận ngày nay. 20
CHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THỰC DÂN MỚI
CỦA MĨ Ở PHILIPPIN (1899-1946)
2.1. Khái quát về đất nước Philipppin
* Điều kiện tự nhiên
Vùng Đông Nam Á tạo nên hình một chiếc quạt xòe rộng với đường biên
giới cong bắt đầu từ miền Bắc nước Úc và tiếp tục cong ngược lên phía trên dọc
theo đường cung về phía Tây Bắc quần đảo Inđônêxia đến tận Miến Điện, rồi
dọc xuống phía dưới trên lục địa là miền Bắc và Nam Việt Nam, Thái Lan, Lào
chạm sát với nhau, và bán đảo Mã Lai ở giữa tâm hình quạt. Tại vùng Đông Bắc
của khu vực này, chỗ các nan quạt chụm lại với nhau là quần đảo Philippin.
Thế kỉ XV - XVI, các cuộc phát kiến diễn ra mang theo niềm hi vọng của