QUÁ TRÌNH PHÁT XÍT HÓA BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN CỦA CHỦ NGHĨA QUÂN PHIỆT NHẬT BẢN VÀ CON ĐƯỜNG CHIẾN TRANH (1931 – 1945) - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
QUÁ TRÌNH PHÁT XÍT HÓA BỘ MÁY
CHÍNH QUYỀN CỦA CHỦ NGHĨA QUÂN PHIỆT
NHẬT BẢN VÀ CON ĐƯỜNG CHIẾN TRANH
(1931 – 1945)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


thành đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Thư viện trường Đại học Tây Bắc,
thư viện tỉnh Sơn La và sự ủng hộ, động viên của các bạn sinh viên lớp K50
ĐHSP Lịch sử đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Chân thành cảm ơn!
Sơn la, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài 2
3.1. Mục đích 2


1. Lý do chọn đề tài
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Nhật Bản thuộc phe các nước thắng
trận nhưng chịu thiệt thòi trong việc phân chia thế giới theo hệ thống Vecxai –
Oasinhton, do đó Nhật âm mưu muốn thủ tiêu hệ thống này phân chia lại thị
trường thế giới.
Chiến tranh thế giới thứ nhất là cuộc chiến tranh có lợi cho Nhật Bản vì thế
sau chiến tranh nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng, địa vị quốc tế của
Nhật Bản được nâng cao là một trong năm thành viên thường trực của Hội Quốc
Liên. Tuy nhiên, Nhật Bản lại chịu sự kiềm tỏa, o ép của các nước phương Tây.
Đặc biệt khi cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 bùng nổ, Nhật Bản đã
phải gánh chịu những hậu quả nặng nề: Công – nông nghiệp giảm sút nhanh
chóng, đồng Yên mất giá nghiêm trọng, hàng trăm ngân hàng của Nhật vỡ nợ,
nạn thất nghiệp diễn ra tràn lan, mâu thuẫn xã hội gay gắt. Để đối phó với tình
trạng khủng hoảng về kinh tế - chính trị, giới cầm quyền Nhật Bản đã chủ
trương phát xít hóa bộ máy thống trị và đẩy mạnh hoạt động bành trướng ra bên
ngoài. Mục tiêu của Nhật là chiếm toàn châu Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông
Dương và khu vực châu Á Thái Bình Dương
Tuy nhiên, bằng sự chiến đấu kiên cường, bất khuất của nhân dân các dân
tộc bị Nhật chiếm đóng, đã góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân đồng
minh trong chiến tranh thế giới thứ hai làm thất bại hoàn toàn phát xít Nhật vào
năm 1945.
Để hiểu sâu sắc hơn về mắt xích trên tôi lựa chọn vấn đề “Quá trình phát
xít hóa bộ máy chính quyền của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản và con đường
chiến tranh (1931 – 1945)” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn đề
tài sẽ đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta hiểu được bản chất của chủ nghĩa đế quốc
nói chung và chủ nghĩa quân phiệt nói riêng, hiểu được quá trình đấu tranh giành
độc lập của các dân tộc bị áp bức là một hệ quả tất yếu.
Sự thất bại của Nhật Bản là bài học cảnh tỉnh cho các nước có tư tưởng

Quân đội. Các tạp chí nghiên cứu lịch sử, các websites… cũng đề cập đến nội
dung đề tài.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập về chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản
ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề “Quá trình phát xít hóa bộ máy
chính quyền của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản và con đường chiến tranh (1931
-1945)” vẫn chưa công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài
3.1. Mục đích

3
Tìm hiểu nguồn gốc, quá trình phát xít hóa bộ máy chính quyền của Nhật
Bản, nhằm thực hiện âm mưu thống trị toàn bộ châu Á bằng chiến tranh. Giúp
người đọc hiểu hơn về cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Nhật đã tiến hành ở
châu Á.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện âm mưu bành trướng xâm lược ra bên ngoài Nhật Bản đã phát
xít hóa bộ máy thống trị, tiến hành chiến tranh xâm lược Trung Quốc, Đông
Dương. Toàn bộ khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong những năm 30 – 40
của thế kỷ XX. Vì vậy, trong phạm vi đề tài tôi làm rõ nguồn gốc, quá trình phát
xít hóa bộ máy chính quyền của Nhật Bản và con đường chiến tranh trong giai
đoạn (1931 – 1945).
3.3. Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành cung cấp thêm cho người đọc hiểu biết về chủ nghĩa
quân phiệt Nhật Bản trong những năm 30 – 40 của thế kỷ XX. Bên cạnh đó đề
tài còn cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình dạy và học lịch sử ở
trường phổ thông.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài tôi sử dụng hai phương pháp chủ
yếu: phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiên vấn đề một cách
chính xác, cụ thể. Ngoài ra, để làm sâu sác vấn đề tôi còn sử dụng các phương

đồng bằng Cantô trên đảo Hônsu, diện tích đất canh tác không nhiều chỉ chiếm
13,9% trong tổng diện tích Nhật Bản, còn lại là diện tích rừng chiếm tới 66,7%,
diện tích nơi cư trú là 4,4%.
Nhật Bản nằm trên đường ranh giới giữa 4 mảng kiến tạo địa chất của trái
đất, tọa lạc ở “vành đai lửa” Thái Bình Dương. Các thiên tai như động đất, núi
lửa, sóng thần luôn luôn rình rập, trong đó hai trận động đất gây thiệt hại lớn
nhất là trận động đất ở Tokyo năm 1923 và ở Kobe năm 1995, hiện nay Nhật
bản có khoảng 70 núi lửa đang hoạt động.
Quần đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn đới và ở cực Đông Bắc của
khu vực khí hậu gió mùa qua bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Nam Á tới
Ấn Độ. Nhiệt độ trung bình khoảng 14,5 độ, nhưng sự chênh lệch nhiệt độ giữa
các vùng là rất lớn. Địa hình và khí hậu đã tạo nên cho Nhật một hệ sinh thái đa
dạng với các loại động thực vật á nhiệt đới, ôn đới, á hàn đới. Cây nông sản chủ
yếu là lúa gạo nhưng địa hình, khí hậu cũng khiến cho người nông gặp nhiều

5
khó khăn trong quá trình sản xuất. Do đó, Nhật phải nhập khẩu khoảng ½ số
lương thực từ nước ngoài.
Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, có một số mỏ than nhưng
chất lượng không cao, tập trung trên đảo Hôcaiđô, bắc Kiuxiu và Hônsu. Sắt có
trữ lượng không đáng kể và hàm lượng không cao, chỉ có đồng là có trữ lượng
lớn hơn cả, phân bố trên đảo Xicôcư và Hônsu. Ngoài ra còn có một số mỏ phi
kim loại, lưu huỳnh, các loại đá dùng cho nghành xây dựng. Những nguồn
nguyên liệu như than, dầu mỏ, dầu khí Nhật đều phải nhập khẩu.
Nhật Bản là quốc gia duy nhất ở phương Đông có sự đồng nhất gần như
tuyệt đối về dân tộc và ngôn ngữ, một dân tộc - một ngôn ngữ. Đây là nhân tố
quan trọng bậc nhất tạo nên sức mạnh đoàn kết và tính dân tộc cao cả. Do môi
trường sống không mấy thuận lợi, người Nhật như được tôi luyện trong nghiệt
ngã nên có tính kỉ luật rất cao, từ một nước phong kiến lạc hậu, đứng trước nanh
vuốt của thực dân phương Tây, sau Minh Trị Duy Tân (1868) Nhật Bản đã vươn

về chính trị. Giai cấp tư sản vẫn còn yếu, không đủ sức xoá bỏ chế độ phong
kiến, nông dân là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai cấp phong kiến, còn thị dân
thì không chỉ bị phong kiến khống chế mà còn bị các nhà buôn và bọn cho vay
lãi bóc lột.
*Về chính trị.
Đến giữa thế kỉ XIX, Nhật Bản vẫn là quốc gia phong kiến. Nhà vua được tôn
là Thiên hoàng, có vị tối cao nhưng quyền hành chủ yếu thuộc về Tướng quân.
Như vậy, giữa lúc mâu thuẫn giai cấp trong nước ngày càng gay gắt, chế độ
Mạc Phủ khủng hoảng nghiêm trọng thì các nước tư bản phương Tây. Trước
tiên, Mĩ, dùng áp lực quân sự đòi Nhật Bản phải “mở cửa” đã khơi dậy lòng bất
mãn vốn có trong nhân dân. Phong trào bài ngoại dâng cao dư luận khắp nơi đòi
đuổi người nước ngoài và tập trung đả kích vào chế độ phong kiến, đòi lật đổ
chế độ phong kiến để phục hưng quốc gia bảo vệ nền độc lập.
Trước tình hình đó, tháng 1-1868, sau khi lên ngôi Thiên hoàng Minh Trị
(May-gi) đã thực hiện một loạt cải cách tiến bộ nhằm đưa Nhật Bản thoát khỏi
tình trạng phong kiến lạc hậu với nội dung:
*Về chính trị.
Nhật hoàng tuyên bố thủ tiêu chế độ Mạc phủ, lập chính phủ mới, thực hiện
bình đẳng ban bố quyền tự do.
Ban hành Hiến pháp 1889.
*Về kinh tế.
Thống nhất tiền tệ, thống nhất thị trường, xoá bỏ sự độc quyền ruộng đất
của giai cấp phong kiến.
Tăng cường phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn.
Xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, phục vụ giao thông liên lạc. 7
*Về quân sự.
Được tổ chức huấn luyện theo kiểu phương Tây.

1890 quy định tư cách tài sản cử tri khá cao, chỉ có nam giớ 25 tuổi trở lên đóng
thuế 15 yên mới có quyền bầu cử, khiến cho cuộc bấu cử quốc hội năm ấy chỉ có

8
1,24% dân số Nhật được quyền bầu cử. Hiến pháp quy định: Thiên hoàng có
quyền thống soái về lục quân, hải quân, có quyền triệu tập và giải tán quốc hội.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thiên hoàng, Bộ tham mưu quân lực năm
ngoài chính phủ, chịu sự điều khiển trực tiếp của Thiên hoàng.
Sau khi đại phong kiến - cơ sở chủ yếu của Sôgun bị gạt ra khỏi chính
quyền, giai cấp tư sản vẫn không được tham gia vào bộ máy nhà nước, mặc dù
nhưng đại diện nổi tiếng của giai cấp này (như Mítsui Konoike Iakuda,…) ủng
hộ phong trào chống Sôgun đã giúp phong trào này liên kết chặt chẽ với chính
phủ mới. Cơ sở của chính quyền mới chỉ có địa chủ và đại tư sản.
Sau năm 1868, chính quyền không ở trong tay giai cấp tư sản mà là nền
chuyên chế của Nhật Hoàng ra đời trên cơ sở liên minh quý tộc - tư sản để lật đổ
Shogun. Các nhà lãnh đạo mới và tầng lớp ưu tú mới của đất nước đều có nguồn
gốc võ sĩ . Nhà nước giành cho lực lượng quân sự một địa vị cao trong xã hội
trong thời kì này trong số 30 vị thủ tướng thì có 15 người là lãnh tụ quân sự,
nhiều bộ như: Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao cũng là quân nhân và tất nhiên các Bộ
Lục quân, Hải quân, Bộ Chiến tranh đều do sĩ quan cao cấp nắm quyền vì thế
nước Nhật mới - đại đế quốc Nhật Bản vẫn mang nhiều tính chất quân phiệt.
Cương lĩnh về Nhật Bản của quốc tế cộng sản năm 1927 vạch rõ: “Cách
mạng năm 1868 (Minh trị năm thứ nhất) đã mở ra cho giai cấp tư sản con
đường phát triển ở Nhật Bản nhưng quyền lực chính trị hãy còn trong tay các
phần tử phong kiến, trong tay bọn quân phiệt và bọn quan lại triều đình. Trong
trường hợp đó tính chất đặc biệt của nhà nước Nhật không còn truyền thống và
các tàn tích của chế độ cũ nữa. Nó trở thành công cụ tích lũy của chủ nghĩa tư
bản. Trong quá trình phát triển sau này, chủ nghĩa tư bản Nhật Bản đã lợi dụng
nó một cách khôn khéo”.[24, 156].
Nhìn chung, cuộc cách mạng tư sản Nhật Bản còn bảo lưu nhiều tàn dư của

phát triển công nghiệp, do đó các ngành công nghiệp nặng và hóa chất của
Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong thời kì này. Không chỉ xuất khẩu hàng hóa
ra thị trường châu Á mà lợi dụng sự suy giảm kinh tế của các nước châu Âu,
Nhật còn xuất khẩu hàng hóa cả sang châu Âu và châu Phi. Tổng giá trị xuất
khẩu của Nhật Bản tăng gấp 4 lần, từ 799 triệu yên năm 1914 lên 3243 triệu
yên năm 1919, Từ chỗ nợ nước ngoài 1,1 tỉ yên năm 1914, Nhật đã trở thành
chủ nợ của 2,7 tỉ yên năm 1920, dự trữ vàng và ngoại tệ đã đạt tới 2 tỉ yên,
tăng 6 lần trong vòng 6 năm [11, 290]. Trong thời kì này, hàng loạt các công
ty tư bản ra đời mở rộng sản xuất và thu lợi nhuận kếch xù (nhiều công ty đạt
tỷ suất lợi nhuận trên 100%). Từ chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1920,
sản lượng công nghiệp tăng 3,2 lần, các ngành than thép đều tiến bộ, ngành
hàng hải đứng thứ ba thế giới.
Sau chiến tranh, công nghiệp Nhật Bản tập trung mạnh mẽ hơn, các công ty
độc quyền ra đời ngày càng nhiều, tiêu biểu là công ty Mitsui với số vốn là 7 tỷ
yên chỉ huy hơn 50 xí nghiệp.
Trong thời kì 1924 – 1929, Nhật Bản trở thành một cường quốc trong hệ
thống tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ. Năm 1926, sản lượng công nghiệp Nhật

10
Bản đạt mức trước chiến tranh, công nghiệp nặng và các ngành công nghiệp có
liên quan đến vũ trang quân đội đều có sự tiến bộ rõ rệt. Trong giai đoạn từ
năm 1919 đến năm 1929 sản lượng thép của Nhật tăng từ 800 nghìn tấn đến 2
triệu tấn.
Như vậy, chiến tranh thế giới thứ nhất đã thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản
phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, so với các nước tư bản lớn khác thì những dấu
hiệu của sự suy yếu về kinh tế, tài chính của Nhật đã xuất hiện sớm hơn. Đặc
điểm này của Nhật Bản đã quyết định tới đường lối đối nội và đối ngoại của giai
cấp cầm quyền nước này. Đồng thời với kinh tế suy yếu Nhật Bản phải đối phó
với một thử thách trầm trọng là khủng hoảng về tài chính.
Sự khó khăn của nền kinh tế Nhật Bản do nhiều nguyên nhân trong đó nổi

trướng. Tháng 7 năm 1927, tướng Tanaca đã đệ trình lên Nhật hoàng một bản
“tấu thỉnh” trong đó trình bày kế hoạch xâm lược của giới cầm quyền Nhật Bản
trước hết là xâm lược Trung Quốc sau đó là Ấn Độ, Tiểu Á, Trung Á, cuối cùng
là châu Âu và khẳng định một cuộc chiến tranh với Mĩ là không tránh khỏi.
Như vậy, Nhật Bản đã phát triển vào những năm trong chiến tranh và trở
thành một cường quốc trên thế giới. Tuy nhiên, sự ổn định của Nhật Bản những
năm sau lại ngắn ngủi, chậm chạp và bấp bênh hơn các nước tư bản chủ nghĩa
khác. Với chính sách “ngoại giao tích cực” đã tỏ rõ tính chất phản động và hiếu
chiến của Nhật. Giữa lúc những khó khăn đang chồng chất khó khăn vẫn chưa
được giải quyết ở Nhật Bản thì cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng phát và
Nhật không nằm ngoài vòng xoáy đó.
1.3.2. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đối với Nhật Bản
Tháng 10 năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra đầu tiên ở Mĩ, sau đó
lan ra tất cả các nước tư bản chủ nghĩa và kéo dài đến năm 1933, chấm dứt thời
kì ổn định của chủ nghĩa tư bản trong những năm 20 thế kỉ XX. Cuộc khủng
hoảng diễn ra trên tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tài
chính và đưa đến sự giảm sút mạnh mậu dịch thế giới.
Cuộc khủng hoảng đã giáng những đòn nặng nề vào nền kinh tế Nhật vốn
đang chao đảo bởi sự kiện tài chính năm 1927.
Khủng hoảng xảy ra trầm trọng nhất trong ngành nông nghiệp vì nền nông
nghiệp Nhật Bản phụ thuộc lớn vào thị trường nước ngoài. Việc xuất khẩu tơ
sống trước đây chiếm gần 45% nhưng do tác động của cuộc khủng hoảng việc
xuất khẩu tơ sống giảm sút tới 2/3. Giá gạo năm 1929 so với năm 1933 giảm
xuống một nửa [11, 145]. Trong hoàn cảnh như vậy, nhưng nền nông nghiệp
Nhật Bản lại xảy ra một nghịch lí đó là khi giá thành giảm, để đảm bảo thu nhập
người ta đã tăng sản xuất, sản lượng nhiều, dư thừa giá lại càng giảm, đúng với
tính chất của cuộc khủng khoảng thừa.
Trong công nghiệp, sản lượng công nghiệp giảm sút nhanh chóng. Năm
1930, sản lượng gang giảm xuống 30%, thép giảm xuống còn 47% .
Thị trường nước ngoài bị thu hẹp, mậu dịch đối ngoại năm 1930 so với 1925

giờ hết.
Trong khi tình hình đất nước đang nguy cấp, đời sống nhân dân cực khổ
như như vây thì đối với các Zaibatsu cuộc khủng hoảng là cơ hội tốt để họ đầu
cơ làm giàu, và là cơ hội để họ tập trung sản xuất. Quá trình tập trung sản xuất
hàng hóa của Nhật mang đặc điểm khác với các nước tư bản chủ nghĩa khác ở
chỗ nó xuất hiện các tổ hợp tài chính do các thế lực phong kiến kiểm soát. Theo
thống kê đến 1931 năm ngân hàng tài phiệt là Misui, Mitsubishi, Sumitomo,
Daichi, Yaxuda chiếm 38% số tiền gửi của các ngân hàng trong cả nước và tiền
gửi của 7 ngân hàng lớn kế tiếp chiếm 19% .Như vậy, chỉ 12 ngân hàng đã
chiếm 57% số tiền gửi ngân hàng. [7, 130]

13
Trước những hậu quả mà cuộc khủng hoảng kinh tế để lại thì chủ nghĩa tư
bản trên thế giới phân hóa thành hai hướng giải quyết khác nhau. Các nước có
nhiều thuộc địa, thị trường, vốn, được cung cấp đầy đủ tài nguyên thiên nhiên
tiêu biểu là Anh, Pháp, Mĩ theo con đường chủ nghĩa tư bản đại nghị. Còn
ngược lại, những nước không có hoặc có rất ít thuộc địa, thiếu vốn, thiếu thị
trường, thiếu nguồn nguyên liệu tiêu biểu là Đức, Ý, Nhật thì chọn con đường
phát xít hóa bộ máy chính quyền nhằm mục đích bành trướng xâm lược chia lại
thị trường thế giới. Đặc biệt đối với nước Nhật với một nền kinh tế hướng ngoại
phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây, nhưng khi
các nước phương Tây thoát khỏi khủng hoảng (1919- 1923), cùng với Mĩ trở
thành đối thủ cạnh tranh của Nhật, nhất là khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
bùng nổ thì thị trường của Nhật ngày càng thu hẹp cả trong và ngoài nước, tài
nguyên thiên nhiên khan hiếm trong khi dân số Nhật ngày càng gia tăng đã tạo
sức ép rất lớn đối với Nhật.
Những khó khăn và túng quẫn về kinh tế đã làm cho mâu thuẫn nội bộ giới
cầm quyền Nhật Bản trở nên gay gắt. Phái Tướng tá trẻ ( Tân hưng) chủ trương
lật đổ chính quyền lập hiến thành lập chính quyền độc tài quân phiệt mạnh và
lập tức tiến hành chiến tranh xâm lược trên quy mô rộng lớn. Phái Thống chế

gia hạng hai vĩnh viễn. Người Nhật không được phép di cư đến những vùng đất
đai rộng lớn và hấp dẫn ở Bắc Mĩ và Australia, xuất khẩu của họ ngày càng khó
khăn do gặp phải rào cản của bên ngoài đặc biệt là Anh, Mĩ. Vị trí hải quân của
Nhật bị hạn chế trong hiệp ước Oasinhtơn ngày 6 tháng 2 năm 1922. Hiệp định
này quy định tỷ lệ trọng tải các tàu chủ lực của Nhật chỉ bằng 3/5 so với Anh,
Mĩ nhưng mong muốn của Nhật là ngang bằng Anh, Mĩ, thậm chí còn mưu toan
đạt được ưu thế về vấn đề này ở Viễn Đông.
Những quyết định của hội nghị Oasinhtơn về vấn đề Trung Quốc cũng bất
lợi cho Nhật Bản. Nhật phải rút quân ở bán đảo Sơn Đông, phải từ bỏ “Bản yêu
sách 21 điều” từ bỏ đặc quyền cho Trung Quốc xây dựng tuyến đường sắt Đông
Bắc - Trung Quốc và vùng nội Mông, từ bỏ quyền ưu đãi của người Nhật cho
Trung Quốc vay với điều kiện đảm bảo hàng rào thuế quan và việc Trung Quốc
phải tiếp nhận các cố vấn của Nhật. Ngược lại, Mĩ lại giành được những thắng
lợi lớn, tăng cương lực lượng hải quân “mở cửa” được thị trường Trung Quốc.
Nhật Bản không thể ngồi im trước sự sắp đặt của các nước phương Tây. Nhật
cần chứng minh cho các nước phương Tây thấy mình là một “cường quốc” để
không bị họ xem thường nữa. Biện pháp mà giới cầm quyền Nhật lựa chọn cho
mục đích của mình là vũ trang chính quyền xâm lược ra bên ngoài, đánh thẳng
vào hệ thống thuộc địa của các nước phương Tây.
Như vậy, với tất cả những yếu tố khách quan và chủ quan trên đã đưa tới sự
xuất hiện của chủ nghĩa quân phiệt Nhật trong những năm 30 của thế kỉ XX, nó
không chỉ làm thay đổi tình hình bên trong nước Nhật mà còn gây nên đảo lộn
trật tự thế giới trong những năm 30 - 40 của thế kỉ XX. 15
Chương 2. Quá trình phát xít hóa bộ máy chính quyền của chủ nghĩa
quân phiệt Nhật Bản và con đường chiến tranh
2.1. Sự xuất hiện của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản và quá trình phát
xít hóa bộ máy chính quyền của Nhật Bản

phong kiến” ra đời muộn, đất nước khô cằn, thiếu nguyên liệu, thiếu thị trường,

16
dân số tăng nhanh mẫu thuẫn giai cấp luôn gay gắt do đó nó tìm cách giải quyết
bằng việc tiến hành chiến tranh xâm lược để bành trướng ra bên ngoài. Do đó,
tính hiếu chiến xâm lược là một trong những đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa đế
quốc Nhật Bản ngay từ khi nó ra đời. Trong việc thực hiện chính sách đối nội và
đối ngoại đế quốc chủ nghĩa giai cấp cầm quyền Nhật Bản đã sử dụng một cách
hết sức khéo léo vai trò của Thiên Hoàng và thế lực quân phiệt (tầng lớp võ sĩ
đạo Samurai). Vì thế nước Nhật là một nước quân phiệt nắm giữ mọi quyền lực
chủ chốt và chủ nghĩa quân phiệt hầu như đã trở thành một “lí tưởng”, một “ đạo
giáo” chi phối, bao trùm mọi mặt sinh hoạt trong xã hội Nhật Bản.
Điều này còn bắt nguồn từ bản hiến pháp của Nhật năm 1890 với tên gọi
“Dai Nihon Teikodu Kempo” (Đại Nhật Bản đế quốc hiến pháp). Bản hiến pháp
này tồn tại đến năm 1945 đánh dấu bước tiến lớn của nền dân chủ Nhật Bản theo
quỹ đạo phương Tây. Tuy nhiên, đặc điểm xuyên suốt bản hiến pháp này chịu
ảnh hưởng nặng nề của hiến pháp nước Phổ. Đó là cơ sở cho giới quân sự ngày
càng gia tăng quyền lực.
2.2.2. Quá trình phát xít hóa bộ máy chính quyền của chủ nghĩa quân
phiệt Nhật Bản
Quá trình thiết lập nghĩa phát xít ở Nhật Bản diễn ra tương đối chậm và kéo
dài, trỗi dậy mạnh mẽ trong những năm 1930.
Trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 các chính sách của
giới cầm quyền Nhật Bản càng thế hiện rõ đặc trưng của chủ nghĩa quân phiệt
Nhật.
Về đối nội, đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân trong nước
như ban bố luật giới nghiêm (1923), đàn áp Đảng Cộng Sản, ban bố luật trị an
(1925)… Khi cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính nổ ra giai cấp tư sản cầm
quyền đẩy mạnh hơn nữa việc đàn áp phong trào cách mạng trong nước bóc lột
nhân dân trong giai đoạn này bản thân nhà vua và giới quân phiệt Nhật Bản đã

này. Đầu năm 1932, 15.000 quân Quan Đông đã đánh bại 10 vạn quân Quốc dân
Đảng và chiếm toàn bộ Mãn Châu. Thiên Hoàng và các lãnh đạo quân sự cũng
không kiểm soát được “sự cố” này, mặc dù họ cố gắng nhưng vô hiệu. Quân đội
Nhật đã tách Mãn Châu Lý ra khỏi Trung Quốc biến nó thành nhà nước bù nhìn
- Mãn Châu Quốc. Hội Quốc Liên đã cử một phái đoàn điều tra đến Mãn Châu
Lý và phái đoàn này đã có báo cáo chỉ trích, lên án hành động xâm lược của
Nhật Bản đối với khu vực Đông Bắc Trung Quốc. Nhật Bản liền tuyên bố rút
khỏi Hội Quốc Liên.
Sự kiện Mãn Châu Lý đã tạo nên không khí chiến tranh ở Nhật Bản. Dân
chúng bị cuốn vào trạng thái dân tộc chủ nghĩa sôi sục trước việc Mãn Châu –
một vùng đất rộng lớn hơn nhiều so với Nhật Bản bị đánh chiếm một cách dễ
dàng. Sự kiện này chứng tỏ lục quân đã định hình chính sách ngoại giao của
Nhật Bản thông qua những việc đã rồi.
Sau sự kiện Mãn Châu, hoạt động của các nhóm quốc gia cực đoan và quân
phiệt, nhất là các sĩ quan trẻ tuổi ngày càng ráo riết, lan rộng. Nhiều tổ chức phát
xít được thành lập như: Thuyết minh đoàn, Hoàng đạo hội, Thanh niên đoàn,

18
Thiên kiếm đảng, Anh đào hội,… những người cầm đầu các tổ chức này là bọn
tài phiệt, tầng lớp quan liêu, tướng lĩnh quân nhân, đại địa chủ. Điểm tương
đồng của các tổ chức này là sự tôn thờ Thiên Hoàng và chủ trương bảo tồn, phát
huy quốc thể của Nhật Bản, từ đó hình thành nên quan niệm Kokutai (quốc thể).
Kokutai là tổng hợp của các khái niệm: Nhật Bản là quốc gia được các vị
“thần” (Kami) tạo nên và che chở, Thiên Hoàng là “đấng thiêng liêng bất khả
xâm phạm”, Thiên Hoàng vừa là người cai trị vừa là cha mẹ của dân. Từ quan
niệm Kokutai đã hình thành nên quân niệm cho rằng Nhật Bản là “ưu việt hơn
tất cả các nước khác”. Quan niệm Kokutai trên thực tế đã trở thành nền tảng ý
thức hệ của chiến tranh Đại Đông Á sau này.
Đứng đằng sau các tổ chức phát xít này là hai đảng tư sản luôn thay nhau
cầm quyền ở Nhật Bản là Dân chính đảng và Chính hữu hội. Hai chính đảng này

Sự kiện này là thách thức quân sự lớn nhất đối với chính phủ Nhật Bản.
Lúc đó phái Thống chế đang kiểm soát lực lượng trong lục quân nhận thấy cần
phải trừng trị thẳng tay cuộc bạo loạn, cuộc đảo chính bị dập tắt nhanh chóng do
sự chống đối của Thiên Hoàng và sự ủng hộ của hải quân. Đến tối 29 tháng 2
năm 1936, thủ lĩnh cuộc đảo chính ra đầu hàng, hai thủ lĩnh khác mổ bụng tự
sát, 17 người bị tuyên án tử hình.
Cuộc đảo chính thất bại nhưng chủ nghĩa quân phiệt đã thắng thế, chiếm
được vị trí độc tôn và chính quyền Nhật Bản bị phát xít hóa. Quân đội Nhật đã
kiểm soát được chính phủ dân sự cũng như chính sách đối ngoại của Nhật Bản.
Sau khi tướng Hayashi Senjuro (1876 - 1943) lên làn thủ tướng tháng 2
năm 1937, ở Nhật Bản chính sách “đàn áp tư tưởng” được tăng cường ráo riết,
mà lúc đầu là thẳng tay đàn áp bất kì ai không chấp nhận quan niệm Kokutai,
vấn đề tự do ngôn luận, tự do tư tưởng bị xiết chặt. Tháng 3 năm 1937, Bộ Giáo
dục Nhật Bản phát hành cuốn “Ý nghĩa căn bản của Kokutai” được sử dụng như
sách giáo khoa môn “luân lý” trong trường học. Như vậy, quan niệm Kokutai
được đề cao như ý thức hệ chính thức, một giá trị tinh thần của xã hội, nhưng
thực ra đó chỉ là đặc trưng của nhiều tư tưởng đương thời chứ không phải là nội
dung học thuật.
Xu hướng tiến tới một xã hội độc tài ở Nhật Bản là hoàn toàn rõ ràng. Nó
cũng giống với các nhà nước độc tài đang xuất hiện ở châu Âu. Nhưng khác với
Đức, Italia, ở Nhật Bản không có một phong trào độc tài có tổ chức và được ủng
hộ rộng rãi. Người dân Nhật do đã quen với quá khứ độc đoán nên có thể dễ bảo
hơn, dễ lãnh đạo hơn, lực lượng phản đối các xu hướng mới đều không có
đường lối và tư tưởng tự do đủ vững để cản trở có hiệu quả. Ở Nhật không hề có
một thay đổi cách mạng nào, không hề có sự phá vỡ quá khứ một cách đột ngột
mạnh mẽ và cũng không cần thanh lọc hàng loạt các phần tử đối lập. Sự thay đổi
diễn ra chậm chạp và không rõ ràng. Chế độ độc tài của Nhật Bản vì thế ít táo
bạo hơn và trên thực tế nó chưa phát triển thành một chế độ độc tài hoàn toàn.
Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản tuy mang nhiều nét riêng biệt nhưng bản
chất giai cấp và những đặc điểm cơ bản của nó không khác gì chủ nghĩa phát xít

nghĩa phát xít Đức và Italia đang có những thành công nhất định điều này như
một chỗ dựa “tinh thần” để Nhật yên tâm đi theo con đường đã chọn.
Với các nguyên nhân trên đã sản sinh ra một nước Nhật phát xít vô cùng
phản động, hiếu chiến cùng với phát xít Đức, Italia âm mưu phát động chiến
tranh chia lại thị trường thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status