BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÙI THỊ MƠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI ỐC CẠN Ở
KHU VỰC HANG THẲM BÓ, XÃ MƯỜNG BÚ,
HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
thành đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô thuộc phòng quản lý
khoa học và và quan hệ quốc tế trường Đại học Tây Bắc, ban chủ nhiệm khoa
Sinh - Hóa, các thầy cô giáo khoa Sinh - Hóa, thư viện trường Đại học Tây
Bắc đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân xã Mường Bú, huyện
Mường La, tỉnh Sơn La cùng nhân dân địa phương đã giúp đỡ em trong
quá trình thu mẫu .
Cuối cùng em xin gửi lời tri ân tới tất cả những người thân trong gia
đình cùng toàn thể bạn bè đã giúp đỡ em trong thời gian qua.
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Bùi Thị Mơ MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lược sử nghiên cứu 3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
3.1. Mục tiêu của đề tài 5
3.2. Nhiệm vụ của đề tài 5
4. Nội dung nghiên cứu 5
5. Giả thuyết khoa học 6
cứu 40
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI ỐC CẠN Ở KHU
VỰC NGHIÊN CỨU 44
1. Sự phân bố của các loài ốc cạn theo vị trí của hang 44
2. Sự phân bố của các loài ốc cạn theo mùa 48
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1. Kết luận 54
2. Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
MỤC LỤC CÁC BẢN ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Mường Bú, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.10
Hình 1. Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc 16
Hình 2. Sơ đồ mối quan hệ giữa các bậc phân loại ở khu vực nghiên cứu 21
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Đơn vị hành chính xã Mường Bú 8
Bảng 2. Thời gian và địa điểm thu mẫu 11
Bảng 3. Danh sách các loài ốc cạn gặp ở khu vực nghiên cứu 17
Bảng 4. Cấu trúc thành phần ốc cạn giữa các họ ốc cạn thuộc lớp Chân bụngở
khu vực nghiên cứu 22
Bảng 5. Tỉ lệ các họ, giống, loài của các bộ Chân bụng ở cạn thuộc khu vực
nghiên cứu 23
Bảng 6. Thành phần loài ốc cạn theo vị trí của hang ở khu vực nghiên cứu 44
Bảng 7. Số lượng cá thể, loài, giống, họ Thân mềm Chân bụng ở cạn theo vị trí
của hang ở khu vực nghiên cứu 46
(Gastropoda) là lớp đa dạng và phong phú nhất, có khoảng 90.000 loài, chiếm
khoảng 70% tổng số loài Thân mềm. Đây là lớp duy nhất của ngành Thân
mềm có cả đại diện sống ở dưới nước và trên cạn. Thân mềm Chân bụng ở cạn
gồm có các loài ốc và sên trần. Trong đó ốc cạn là nhóm động vật có số lượng
lớn hơn, phân bố ở các sinh cảnh trên cạn. Có cả ở vùng núi, đồng bằng, trên
mặt đất, trong hang động và có cả ở trên thực vật.
Về giá trị thực tiễn: Các loài ốc cạn giữ vai trò quan trọng trong nhiều hệ
sinh thái. Bản thân chúng là những mắt xích quan trọng trong nhiều chuỗi và
lưới thức ăn. Cũng là mắt xích tiêu thụ thức ăn có nguồn gốc thực vật và là
nguồn thức ăn cho động vật có xương sống như chim, thú, lưỡng cư…Nếu
thiếu đi mắt xích này sẽ tác động mạnh mẽ tới hệ sinh thái trên cạn.
Nhóm ốc sống trong thảm mục trên mặt đất góp phần cải tạo đất trồng,
phân ốc thải ra sẽ góp phần tăng độ phì nhiêu cho đất, đồng thời nó cũng là
thức ăn cho các vi sinh vật trong đất, giúp quá trình phân hủy các chất hữu cơ
trong đất diễn ra nhanh hơn.
Đối với con người, ốc cạn là nguồn thực phẩm dễ kiếm, có giá trị dinh
dưỡng rất cao. Ví dụ như loài ốc núi Cyclophorus anamiticus ở núi Bà Đen,
tỉnh Tây Ninh có thành phần dinh dưỡng là: protein 34 - 57%, acid amin 0.4 -
0.82%
[11]
. Ốc là một loại thực phẩm rất giàu đạm. Từ xa xưa con người đã biết
sử dụng chúng làm thức ăn cho tới ngày nay chúng được các đầu bếp chế biến
2
thành các món ăn đặc sản mang lại lợi ích kinh tế cao. Do đó, hiện nay chúng
đang được khai thác một cách phổ biến.
Hóa thạch của ốc cạn là đối tượng cho các nhà khảo cổ nghiên cứu và tìm
hiểu. Nhiều hài cốt, di chỉ của người xưa được phát hiện cùng với vỏ của nhiều
loại ốc. Từ xa xưa con người còn sử dụng vỏ ốc làm chuỗi hạt trang trí hoặc
làm tiền để trao đổi.
Trong khoảng thời gian 1848 - 1877, còn có những dẫn liệu về ốc, nhất là
ốc cạn vùng Nam Bộ trong các công trình của L. Pleiffer như Streptaxis
ebuneus, S. sinuosus, Nanina cambojiensis, Xesta cochinchinensis
Giai đoạn tiếp sau, vào nửa đầu thế kỷ XIX tới những năm 60 có những
công trình nghiên cứu về ốc ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ. Có thể kể đến
những công trình khảo sát và công bố rất cơ bản của Crosse et Fischer (1863,
1864, 1869), Mabille et Le Mesle (1866), Crosse (1867, 1868).
[11,17]
Những công trình nghiên cứu về ốc ở vùng phía bắc Việt Nam chỉ xuất
hiện nhiều trong nửa sau thế kỷ XIX. Trong những năm 60, ngoài những công
trình nghiên cứu chung về ốc ở cạn và ốc nước ngọt ở khu vực Bắc Bộ trong
những hoạt động khảo sát chung trong cả vùng Đông Dương, đã thấy có những
công trình nghiên cứu riêng về ốc ở cạn, điều chưa thấy trong thời gian trước
đó, với hàng loạt loài mới được mô tả từ vùng đất này. Có thể kể đến những
công trình của các chuyên gia hàng đầu như Morlet (1886, 1891, 1892),
Dautzenberg et hamonville (1887), Dautzenberg (1893), Bavay et Dautzenberg
(1899, 1900, 1091, 1903), Fischer (1848), Mollendorff (1901), Dautzenberg et
Fischer (1905), Ancey (1888). Danh mục thống kê của các tác giả này bao gồm
448 loài và phân loài ốc (chưa tính ốc ở nước).
[6,11]
Trong thời gian nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh
thế giới và chiến tranh Việt Nam, việc nghiên cứu nhóm ốc và nhiều động vật
khác ở Việt Nam và khu vực Đông Dương hầu như bị ngừng lại, ngoại trừ một
số ít công trình khảo sát kết hợp với địa chất ở các đảo Hoàng Sa, Bạch Long
Vĩ (1955, 1960) và một số điểm ở Bắc Bộ (S. Jaeckel, 1950; Varga, 1963).
Đến sau chiến tranh Việt Nam, ốc mới tiếp tục được chú ý nghiên cứu,
bắt đầu bằng một số công trình khảo sát đầu tiên về thành phần và phân bố ốc
Dầu Một, vùng đảo có Ba Mùn, Cát Bà, Kebao, vịnh Hạ Long, Bạch Long
Vĩ, Hoàng Sa.
[17]
Ở khu vực Tây Bắc và tỉnh Sơn La, dẫn liệu về ốc cạn được đề cập trong
một số ít công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Morlet,
5
Dautzenberg và Hamomville. Một số địa điểm được nghiên cứu ở tỉnh Sơn La
có Gia Phù (Phù Yên), Nhà tù Sơn La (thành phố Sơn La).
[13]
Như vậy, cho đến nay, việc nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng ở cạn ở
tỉnh Sơn La còn rất hạn chế. Nhóm Chân bụng ở cạn ở khu vực Sơn La đã
được đề cập trong một vài khảo sát của các tác giả nước ngoài từ rất sớm
nhưng những kết quả đó chưa được thống kê đầy đủ và xem xét lại về mặt
phân loại học.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu của đề tài
- Lập được danh sách các loài ốc cạn ở khu vực hang Thẳm Bó, xã
Mường Bú, huyện Mường la, tỉnh Sơn La.
- Mô tả đặc điểm hình thái ngoài các loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu.
- Xây dựng khóa định loại cho các loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu.
- Xác định đặc điểm phân bố của các loài ốc cạn ở khu vực nghiên cứu.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Với những mục tiêu trên, chúng tôi đề ra một số nhiệm vụ sau:
- Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới đề tài.
- Tiến hành thu nguồn mẫu vật tại khu vực nghiên cứu.
- Quan sát, mô tả đặc điểm hình thái ngoài của mẫu vật.
- Xây dựng các phiếu điều tra, chuẩn bị các câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp
2
, chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ ba trong số 63
tỉnh thành trong cả nước, nhưng lại là tỉnh có số dân vào loại thấp. Sơn La
nằm trên trục đường quốc lộ 6, tuyến đường giao thông huyết mạch của
vùng Tây Bắc.
[8]
Mường La là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Sơn La. Mường La có
tọa độ địa lý là 21°15' - 21°42' vĩ độ Bắc; 103°45' - 104°20' kinh độ Đông.
Mường La giáp với huyện Quỳnh Nhai ở phía Tây Bắc, huyện Thuận
Châu ở phía Tây, thành phố Sơn La ở phía Tây Nam, huyện Mai Sơn ở phía
Nam, huyện Bắc Yên ở phía Đông Nam, huyện Trạm Tấu (Yên Bái) ở phía
Đông, huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) và Than Uyên (Lai Châu) ở phía Bắc.
Diện tích của huyện khoảng 1.408km
2
, chiếm gần 10% diện tích toàn tỉnh.
[31]
Mường Bú là xã cửa ngõ của huyện Mường La. Mường Bú là một trong
16 xã của huyện Mường La, nằm trên trục đường tỉnh lộ 106. Đèo Cao Pha là
7
đèo cao nhất và cũng là đèo duy nhất ở xã Mường Bú. Hang Thẳm Bó nằm ở
lưng chừng đèo Cao Pha với độ cao khoảng 600m so với mực nước biển.
[17]
Đặc điểm địa hình
Đặc điểm nổi bật của trong tỉnh Sơn La nói chung và khu vực nghiên cứu
nói riêng là độ dốc lớn và chia cắt mạnh. Do đó, phần lớn đồng ruộng của tỉnh
nhỏ hẹp, chủ yếu là ruộng bậc thang.
sương muối và mưa đá.
Điều kiện khí hậu có sự phân hoá như vậy dẫn tới sự phân bố không đồng
đều giữa các mùa của các loài ốc cạn. 8
Tài nguyên động, thực vật
Thực vật rừng Sơn La gồm 69 họ với hơn 300 loài, một số loài thuộc
luồng thực vật di cư từ vùng ôn đới lạnh phía tây bắc xuống và một số từ phía
nam lên. Những nhóm loài có vị trí quan trọng là thông, dẻ, mộc lan, sau sau,
hồ đào… Phần lớn diện tích rừng thứ sinh đã bị tác động mạnh, thuộc rừng
nghèo kiệt và có diện tích không đáng kể.
Do đời sống của một bộ phận người dân còn phụ thuộc vào rừng, với tình
trạng rừng bị tàn phá như hiện nay đã tác động đến cảnh quan và môi trường
sống của nhiều loài động vật. Hệ động vật của khu vực hầu như không còn các
loài thú lớn, các nhóm gặp nhiều có gặm nhấm, dơi, thú ăn sâu bọ… Về chim
gặp chủ yếu là nhóm chim làm tổ. Lưỡng cư và Bò sát có các họ tắc kè, nhông,
thằn lằn bóng, rắn nước, cóc nhà, nhái bén, ếch… chúng phân bố chủ yếu ở
ven rừng, ven suối, các ao nhỏ…
6.2. Điều kiện xã hội
Đơn vị hành chính
Mường La có 16 đơn vị hành chính cấp xã, đó là các xã: Chiềng Hoa, Tạ
Bú, Mường Chùm, Chiềng San, Chiềng Lao, Pi Toong, Mường Bú, Nậm
Giôn, Mường Trai, Chiềng Muôn, Chiềng Ân, Nậm Păm, Chiềng Công, Ngọc
Chiến, Hua Trai và thị trấn Ít Ong.
Trong đó phân chia hành chính cụ thể của xã Mường Bú được thể hiện
qua bảng 1 sau:
Bảng 1. Đơn vị hành chính xã Mường Bú
TT
Tên đơn vị
8
Bản Đông Luông
23
Bản Huổi Cưởm
9
Bản Ngoạng
24
Bản Huổi Hào
9
10
Bản Nang Phai
25
Bản Bủng
11
Bản Bằng Phột
26
Bản Nà Nong
12
Bản Phiêng Bủng 1
27
Bản Văn Minh
13
Bản Phiêng Bủng 2
28
Bản Giàn
14
Bản Hua Bó
29
Bản Mường Bú
10
11
7. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
7.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đại diện của ốc ở cạn có trong khu
vực hang Thẳm Bó, xã Mường Bú, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
7.2. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu của đề tài là: khu vực hang Thẳm Bó, xã Mường Bú,
huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Phân bổ thời gian, địa điểm thu mẫu cụ thể
được thể hiện qua bảng dưới đây.
Bảng 2. Thời gian và địa điểm thu mẫu
TT
Thời gian
Địa điểm thu mẫu
1
02/08/2012
Chân núi, sườn núi và khu vực cửa hang
2
09/08/2012
Sườn núi và đỉnh núi
3
08/09/2012
Khu vực cửa hang, sườn núi và trong hang
4
13/01/2013
đề trong quá trình nghiên cứu và phân tích số liệu, tài liệu về giá trị thực tiễn,
dẫn liệu về môi trường, vùng phân bố, khí hậu và thủy văn Lưu ý rằng các
tài liệu thu thập đều được ghi chép nguồn gốc, thời gian, tác giả và đặc biệt cần
lưu ý đến các nguồn tài liệu.
Thu thập các tài liệu phân loại về các đối tượng sẽ nghiên cứu, các khóa
định loại, các tài liệu về khu hệ lân cận, các công trình đã công bố. Để nhanh
chóng xác định được danh sách các loài ốc cạn của khu hệ địa phương, cần
một lượng lớn mẫu vật được thu thập trong suốt thời gian điều tra.
9.2. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
9.2.1. Chuẩn bị dụng cụ:
Panh nhỏ, sàng có mắt lưới cỡ 5mm, túi nilon, ống nghiệm, hộp nhựa,
máy ảnh, kính lúp cầm tay, sổ ghi chép, bút chì, giấy can.
9.2.2. Phương pháp thu mẫu:
* Phương pháp thu mẫu định tính:
Thu mẫu định tính: mẫu định tính được thu ở các sinh cảnh khác nhau
trong khu vực nghiên cứu. Mẫu vật được bắt trực tiếp bằng tay hoặc nhờ dụng
cụ hỗ trợ.
Mẫu định tính được thu ở phạm vi rộng hơn so với mẫu định lượng và
mục đích bổ sung thành phần loài cho mẫu định lượng. Vì vậy khi thu mẫu cần
lưu ý không bỏ sót thành phần loài, thu tất cả các loại mẫu với mọi kích thước,
từ con non đến con trưởng thành (kể cả mẫu đã chết chỉ còn lại vỏ).
13
Các bước được tiến hành như sau :
- Đối với mẫu có kích thước lớn nhặt bằng tay hoặc dùng các dụng cụ như
cặp để thu.
- Đối với các mẫu nhỏ phải dùng sàng có mắt lưới cỡ 5mm bằng kim loại
để sàng các lá mục, bên dưới sàng được hứng bằng tấm nilon sáng màu hoặc
giấy trắng. Nếu có ốc nhỏ bám dưới lá mục, khi sàng mẫu sẽ rơi xuống và có
thể dùng kính lúp cầm tay hoặc nhìn bằng mắt để nhặt mẫu.
9.2.3. Phương pháp quan sát và chụp ảnh mẫu vật:
Quan sát đối tượng nghiên cứu phân bố ở các bộ phận của cây hay trên
mặt đất, dưới thảm lá mục, trong hang đá, khe đá , quan sát tập tính kiếm ăn,
di chuyển, gặp trướng ngại vật cách xử trí của chúng và chụp ảnh lại.
14
Ảnh thực địa phải phản ánh được các nội dung nghiên cứu như các loại
sinh cảnh điển hình, các loại thảm thực vật, các loại địa hình, các tính chất đặc
biệt của khu vực nghiên cứu, các mẫu đang hoạt động sống, các loại cây là
thức ăn hoặc các dấu vết thức ăn của ốc cạn, các vị trí tập trung nhiều mẫu
sống và chết. ngoài và hoạt động sống của mẫu sống sau đó chụp ảnh.
9.2.4. Phương pháp điều tra, phỏng vấn:
Phỏng vấn và điều tra trực tiếp nhân dân địa phương và những người am
hiểu, quan tâm tới các loài ốc cạn.
Tùy điều kiện có thể tiến hành điều tra, phỏng vấn về các thông tin như:
nơi sống, mùa sinh sản, giá trị kinh tế, tác dụng chữa bệnh, tên gọi địa
phương… của các loài ốc cạn.
9.3. Phương pháp ngiên cứu trong phòng thí nghiệm
9.3.1. Phương pháp xử lý mẫu vật:
Sau khi thu mẫu ngoài thực địa và mang về phòng thực hành thì mẫu vật
cần phải được xử lý. Đầu tiên, phải rửa sạch mẫu vật. Sau đó, với những mẫu
sống thì bảo quản trong dung dịch cồn hoặc foocmon, đối với mẫu là vỏ ốc thì
tiến hành bảo quản khô trong các túi nilon hoặc lọ đựng mẫu.
9.3.2. Phương pháp phân tích mẫu vật:
Phân loại ốc dựa vào hai dấu hiệu cơ bản:
- Đặc điểm hình thái ngoài: đỉnh vỏ, các vòng xoắn, rãnh xoắn, lỗ rốn, trụ
ốc, màu sắc, hoa văn trang trí trên vỏ ốc Kích thước của vỏ: chiều cao (kí
hiệu là h), chiều rộng (kí hiệu là d). Các kích thước này thường được thể hiện
bằng số đo hay tỷ lệ của chúng, dễ nhận biết, dễ so sánh phân biệt các quần thể
của loài hay nhóm loài trên vỏ.
hay nốt sần, có lông phía ngoài, có màu sắc hay các hoa văn khác nhau.
Rãnh xoắn: là ranh giới các vòng xoắn, nông hoặc sâu, rõ hoặc không.
Miệng vỏ: nơi vỏ ốc thông với bên ngoài. Ở vùng miệng phân biệt bờ trục
(bờ trong) và vành miệng ngoài (bờ ngoài), hình dạng lỗ miệng thay đổi (xiên,
bầu dục, hình thoi, hình ô van, hình thang, bán nguyệt, hình quả lê ). Gờ vành
miệng ngoài có thể liên tục hoặc không, bị ngắt quãng ở bờ trụ.
Hình dáng vỏ ốc: vỏ là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc bên trong. Vỏ ốc
cỡ lớn, trung bình hay nhỏ; hình dáng vỏ ốc có thể là hình cầu, hình nón, dạng
16
tháp xoắn, hình trụ, dạng con quay, dạng cuộn trong Vỏ có thể mỏng hay
dày, chắc chắn hoặc không.
Trụ ốc: các vòng xoắn quấn quanh trụ ốc, có thể rỗng và mở ra ngoài gần
lỗ miệng vỏ tạo thành lỗ rốn. Có khi trụ ốc dày đặc không tạo lỗ rốn.
Kích thước: tính bằng đơn vị mm, chiều cao ký hiệu là h, chiều rộng ký
hiệu là l.
Hình 1. Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc
[11]
17
PHẦN 2
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI ỐC CẠN Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2
Elasmias sp.
ốc sên
3
0.11
ARIOPHANTIDAE
Họ ốc sên núi
412
15.39
3
Euplecta sp.
ốc núi
3
0.11
4
Macrochlamys despecta Mabille, 1887
ốc núi
351
13.11
5
Megaustenia imperator Gauld, 1859
ốc núi
58
2.17
BRADYBAENIDAE
Họ ốc núi
4
0.15
6
Bradaena jourdyi Morelet, 1886
CYCLOPHORIDAE
Họ ốc miệng
tròn
420
15.69
11
Cyclophorus siamensis Sowerby, 1850
ốc miệng tròn
161
6.01
12
Diorix messageri Bavay và
Dautzenberg, 1930
ốc miệng tròn
24
0.90
13
Japonia insularis Moellendorff, 1901
ốc núi có lông
33
1.23
14
Japonia scissimargo Benson, 1856
ốc núi có lông
98
3.66
15
Liardetia sp.
ốc miệng tròn
9
theristicaMabille, 1887
ốc xoắn dài
7
0.27
21
Heudiela sp.
ốc xoắn trái
5
0.19
22
Phaedusa phongthoensis Bemmel, 1948
ốc xoắn dài
9
0.33
DIPLOMMATINIDAE
Họ ốc miệng
tròn
34
1.27
23
Diplommatina scolops Moellendorff, 1901
ốc miệng tròn
23
0.87
24
Diplommatina rotundata Saurin, 1953
ốc miêng tròn
11
0.40
EUCONULIDAE
Geotrochatella jourdyi Dautzenberg,
1895
ốc sên
5
0.19
HYDROCENIDAE
Họ ốc núi
13
0.48
30
Georissa sulcata Mollendorff, 1884
ốc núi
13
0.48
PLECTOPINIDAE
Họ ốc sên
73
2.73
31
Plectopylis mansuyi
ốc sên
20
0.75
32
Plectopylis phyaria
ốc sên
53
1.98
PLEURODISCIDAE
Họ ốc sên núi
0.93
37
Gonospira clavatula Lamarck, 1822
ốc hình trụ
2
0.08
SUBULINIDAE
Họ ốc núi
281
10.50
38
Allopeas gracilei Huntton, 1834
ốc dài
18
0.68
39
Allopeas javanicum Reeve, 1849
ốc núi
21
0.79
40
Allopeas sp1.
ốc núi
13
0.49
41
Allopeas sp2.
ốc núi
19
0.73
48
Opeas sp2.
ốc núi
28
1.02