MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
PHẦN I: MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4. Giả thuyết khoa học 6
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
6. Phương pháp nghiên cứu 7
7. Giới hạn đề tài nghiên cứu 7
8. Đóng góp của đề tài 7
9. Cấu trúc luận văn 7
PHẦN II: NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1. Cơ sở lý luận 8
1.1.1. Quá trình dạy học 8
1.1.1.1. Khái niệm quá trình dạy học 8
1.1.1.2. Quan hệ giữa quá trình dạy học và sự phát triển nhận thức 8
1.1.2. Học cách học 10
1.1.2.1. Quan niệm về học 10
1.1.2.2. Khái niệm cách học 10
1.1.2.3. Những yếu tố quan trọng của phương pháp học tập 11
1.1.3. Dạy cách học 17
1.1.3.1. Cách tiếp cận, quan niệm việc học của HS và việc dạy của GV 17
1.1.3.2. Quan niệm về mối quan hệ giữa dạy và học 18
1.1.4. Phương pháp học hóa học 19
2.3.1.1. Về mục đích học tập 64
2.3.1.2. Về nhận thức việc tự học 65
2.3.1.3. Về tình hình tự học 65
2.3.1.4. Về hiệu quả tự học 66
2.3.2. Nguyên nhân và hậu quả của tình trạng trên 66
2.3.3. Biện pháp nâng cao năng lực tự học môn hóa học cho HS 68
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm 71
3.2. Nhiệm vụ 71
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71
3.3.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 71
3.3.2. Tiến hành thực nghiệm sư phạm 71
3.4. Xử lí số liệu thực nghiệm sư phạm 72
3.4.1. Tính các tham số đặc trưng 72
3.4.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm 74
3.5. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 77
PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ 78
1. Kết quả đạt được và hạn chế của đề tài 78
1.1. Kết quả 78
1.2. Hạn chế 78
2. Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHẦN PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DD: Dung dịch
ĐC: Đối chứng
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
HT: Hiện tượng
nghiên cứu vào đặc điểm môn Hoá học mà khởi đầu là Hóa học lớp 10. Đây là giai
đoạn quan trọng để hình thành cho học sinh cách học tốt môn hoá, làm cơ sở cho
việc học môn Hoá học lớp 11 và lớp 12 một cách hiệu quả nhất.
Từ những lí do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng phương pháp học và
nâng cao năng lực tự học cho học sinh qua phần hóa học vô cơ lớp 10 nâng
cao” là rất cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác đổi mới nội dung và
phương pháp giảng dạy hiện nay.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Hình thành cho HS cách học tốt môn hóa THPT thông qua cách dạy của GV
qua chương nhóm halogen và nhóm oxi lớp 10 nâng cao, để phát triển năng lực tư
duy sáng tạo, tính chủ động trong học tập, từ đó nâng cao chất lượng dạy học nói
chung và dạy học hóa học nói riêng ở trường THPT.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu một số khái niệm cơ bản về quá trình dạy học, cách dạy và cách
học, mối quan hệ giữa cách dạy và cách học, ý nghĩa của việc hình thành cách học
cho HS
- Điều tra thực tiễn về cách dạy và cách học môn hoá học ở một số trường
THPT ở thành phố Huế hiện nay.
- Xây dựng và sử dụng các bài giảng, bài tập để tổ chức dạy cho HS lớp10
nâng cao trường THPT qua chương nhóm halogen và nhóm oxi, thông qua đó hình
thành cho HS có cách học tốt môn hóa THPT.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nghiên cứu, đề xuất và xây dựng cách dạy
thích hợp và đặc trưng, để tổ chức cho người học có cách học tốt môn Hoá học ngày
càng đạt chất lượng và hiệu quả ngày càng cao.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng và hiệu quả về việc
hình thành cách học tốt môn Hóa học THPT của HS thông qua cách dạy của GV
trong thực tế dạy học ở THPT.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu trong quá trình dạy học người GV biết tiến hành cách dạy một cách hợp
- Đề xuất một số cách dạy nhằm hình thành cách học tốt môn hóa cho HS
trong chương nhóm halogen và nhóm oxi.
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Những biện pháp bồi dưỡng phương pháp học và nâng cao năng lực
tự học cho học sinh qua phần hóa vô cơ lớp 10 nâng cao
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Phần III: Kết luận chung và kiến nghị
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Quá trình dạy học
1.1.1.1. Khái niệm quá trình dạy học [13],[15]
Quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của GV và hoạt
động học của HS. GV giữ vai trò chủ đạo, hướng dẫn; một mặt phải tổ chức, điều
khiển những tác động đến HS; mặt khác phải tiếp nhận và điều khiển tốt thông tin
phản hồi về kết quả học tập của HS. Ngược lại, HS là đối tượng chịu sự tác động của
hoạt động dạy, HS phải tuân theo sự tổ chức, điều khiển của GV đồng thời phải chủ
động, tích cực và sáng tạo trong hoạt động học tập của bản thân.
Xem xét về mối quan hệ giữa dạy và học trong quá trình dạy học, Jean Vial
(1986) cho rằng tế bào của quá trình dạy học là sự tác động
qua lại giữa GV, HS và đối tượng (ĐT) mà GV cần nắm vững
để dạy, còn HS cần nắm vững để học. Do đó xuất hiện một
hay một kĩ năng xác định và cuối cùng là: cần nắm được những biện pháp để khuyến
khích HS tích cực, tự lực thực hiện các hành động đó, đánh giá kết quả hành động.
1.1.1.2.3. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học [4],[7],[18]
Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho
người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ
có được lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ
được nhân lên gấp bội. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ
đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách
dạy của thầy. Vì vậy, GV phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây
dựng cho HS phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao.
1.1.1.2.4. Dạy và học theo hướng rèn luyện tư duy và suy luận logic [9],[18]
Để cho hoạt động nhận thức đạt được kết quả và thực hiện với tốc độ ngày
càng nhanh thì GV cần rèn luyện cho HS kĩ năng, kĩ xảo thực hiện những thao tác tư
duy và phương pháp suy luận logic. Các thao tác tư duy diễn ra trong óc của GV và
HS. HS không thể quan sát GV thực hiện chúng như thế nào để bắt chước và GV
cũng không thấy được HS thực hiện như thế nào để uốn nắn, giúp đỡ. Vậy thì làm
thế nào để dạy cho HS hoàn thành những thao tác tư duy đó một cách có hiệu quả?
Đối với HS phổ thông, có thể sử dụng những cách làm sau:
- GV lựa chọn con đường hình thành những kiến thức hóa học phù hợp với các
quy luật của logic học và tổ chức quá trình học tập sao cho trong từng giai đoạn xuất
hiện tình huống bắt buộc HS phải thực hiện các thao tác tư duy và suy luận logic.
- GV đưa ra những câu hỏi để định hướng cho HS tiến hành những thao tác tư duy
và suy luận logic trong mỗi tình huống cụ thể.
- GV phân tích các câu trả lời của HS để chỉ ra được chổ sai của HS trong khi
thực hiện các thao tác tư duy, suy luận logic và hướng dẫn cách sửa chữa.
- GV giúp HS khái quát hóa kinh nghiệm thực hiện những suy luận logic dưới
dạng một số quy tắc đơn giản. Thông thường, một HT hóa học có thể do nhiều nguyên
nhân đồng thời tác động hoặc là lần lượt tác động. Lúc đầu, cần phải hướng dẫn HS
phân tích những HT đơn giản và thực hiện từng phép suy luận đơn giản. Sau đó, khi
1.1.2.3.1. Không bằng lòng với những gì chưa hiểu [21]
“Không bằng lòng với những điều mình chưa hiểu” là động lực giúp HS vượt
qua chướng ngại về mặt tư duy và logic kiến thức. Đó là mâu thuẫn tích cực để HS
không ngừng phát triển mình về mọi mặt trên con đường học vấn và cuộc sống, điều
đó giúp HS nắm vững vấn đề và luôn phát triển sức suy nghĩ của mình.
Học để hiểu. Hiểu để học. Hiểu vừa là mục đích vừa là cách học. Học - Hiểu là
phát hiện, khai thác, phân tích, lý giải, xử lí được thông tin, giải quyết được vấn đề
một cách có hiệu quả, tức là phát huy trí lực, đặc biệt là cách tư duy, để tạo cho mình
năng lực tư duy. Học - Hiểu là học cách học, cách tự học, tự nghiên cứu, tự tìm ra
kiến thức bằng hành động và thao tác tư duy của chính mình.
1.1.2.3.2. Tự nêu những câu hỏi để trả lời [2],[21]
Người học nên rèn luyện thói quen là sẵn sàng tự đặt ra những câu hỏi như: Tại
sao? Như thế nào? Tự hỏi để động não, như thế là tốt, dù chưa tự trả lời được thì bộ
óc vẫn có làm việc. Việc đặt câu hỏi sẽ khuyến khích các em tư duy về môn học và
liên hệ các kiến thức mới với những điều đã biết, đồng thời giúp HS kiểm tra lại kiến
thức của mình. Qua kinh nghiệm cho thấy những câu hỏi dạng sau vừa có ý nghĩa
tương đối phổ biến để tìm hiểu vấn đề, vừa bổ ích cho rèn luyện tư duy.
Câu hỏi “Tại sao”: là loại câu hỏi giúp ta tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân
của vấn đề rất thích hợp khi chứng minh các định lý, định luật, hay tìm các luận cứ
để khẳng định tính đúng đắn của một vấn đề.
Câu hỏi “Như thế nào”: là loại câu hỏi giúp ta suy nghĩ để tìm hiểu các dấu
hiệu đặc trưng của sự vật hay quá trình phát triển của sự vật. Trả lời được câu hỏi
“Như thế nào” tức là hiểu được các dấu hiệu nhận biết sự vật, bản chất của khái
niệm hay những khâu chủ yếu của một quá trình.
Khái niệm hỏi “người khác” không chỉ là “người” khác mà còn là các đối
tượng “ngoài bản thân” như các tài liệu, báo, phim, ảnh, phương tiện mới về công
nghệ thông tin và truyền thông. Như vậy tiềm năng “người khác” là một nguồn lực
bên ngoài rất mạnh mà HS cần tranh thủ tận dụng, khai thác trong quá trình tự học.
Người học phải “học cách hỏi”: cách tự hỏi và cách hỏi người khác. Cách tư duy
trong việc tự học ngày nay cần phải tính đến hiệu quả tương tác, vì vậy nên tổ chức
học tập và làm việc theo nhóm, có đối thoại, kể cả học tập có máy tính hỗ trợ.
Như vậy học phải đi đôi với hỏi thì mới hiểu và hiểu sâu, đồng thời mới thấy
những điều chưa biết, chưa hiểu, cần tiếp tục học. Khi học thì không nên tiếp thu
một chiều mà phải lật đi lật lại vấn đề, tức là phải đề ra được câu hỏi và tìm cách trả
lời thì mới hiểu được sâu, rộng. Nhận thức được tầm quan trọng của việc hỏi, còn
phải học cách hỏi để câu hỏi phản ánh được điều chưa hiểu, thể hiện lộ trình các
bước hỏi. Như vậy “hỏi” chính là một thao tác kích thích tư duy trong quá trình học.
1.1.2.3.3. Tự học qua cách học ở thầy, ở bạn, ở sách [21]
a) Học ở thầy. “Thầy chủ đạo” nhưng “trò chủ động” nên HS phải kết hợp
nhuần nhuyễn việc học với thầy và tự học của mình. Vì lẽ đó, người học không được
bao giờ có tư tưởng ỷ lại, trông chờ sự chỉ vẽ của thầy. Thầy nên dẫn dắt HS tập quen
dần với sự suy nghĩ, vận dụng hết mọi khả năng của bản thân và mọi phương tiện để
giải quyết vấn đề; chỉ nên hỏi thầy, nhờ thầy chỉ bảo khi đã suy nghĩ nhiều.
* Cách học ở thầy
Giai đoạn 1. Chuẩn bị thật kĩ.
- Nắm chắc kiến thức của bài học cũ.
- Soạn bài sắp học với một dàn bài chi tiết.
Giai đoạn 2. Tiếp thu và vận dụng kiến thức tốt.
Đây là giai đoạn chính của HS trong quá trình học ở thầy trên lớp. Điều quan
trọng nhất mà HS phải nắm được là con đường dẫn đến kiến thức, là phương pháp
tìm kiếm kiến thức mà thầy chỉ dẫn trong lúc truyền thụ.
Giai đoạn 3. Củng cố, vận dụng kiến thức và phát triển tư duy.
Đây là giai đoạn để HS củng cố, rèn luyện tư duy, tiêu hóa kiến thức, rèn
Mô hình học tập của HS phổ thông có thể được phát họa như sau:
Ba vị trí của Thầy - Bạn - Sách tạo thành một tam
giác học tập, ba đỉnh là ba nguồn cung cấp tri thức. HS
ở vị trí trọng tâm tam giác. Từ vị trí trọng tâm này, HS
dùng phương pháp học của mình để thu hút tri thức từ
ba đỉnh về trọng tâm. HS phát huy nội lực càng cao,
phương pháp học càng tốt thì càng rút được nhiều tri
thức và kĩ năng về cho mình, nghĩa là việc học càng có hiệu quả.
Nếu HS có ý chí học tập, tích cực phát huy năng lực tự học và biết cách học ở
thầy, ở bạn, ở sách (và khi lớn lên thì ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người và bằng mọi
phương tiện) thì việc thành công trong học tập ắt là tất yếu. Đó là cốt lõi của việc
học. Ta có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:
1.1.2.3.4. Học cách nghe bài giảng và ghi chép [1],[9],[21]
* Chuẩn bị nghe giảng:
- Nắm vững kiến thức bài cũ, HS có thể lĩnh hội nội dung bài học mới tốt hơn.
- Nghiên cứu trước vấn đề bài giảng mới.
* Nghe giảng trên lớp:
- Khi nghe giảng người học phải có sự tư duy hết sức tích cực. Kết hợp cao
nhất đồng thời thính giác, thị giác. Cố gắng để hiểu rõ vấn đề mấu chốt, trọng tâm
chi phối các vấn đề khác. Vậy sự hoạt động tư duy tích cực đó phải được biểu hiện
như thế nào trong quá trình nghe giảng?
- Cần nhanh chóng nắm bắt logic bài giảng và vận dụng toàn bộ vốn hiểu biết
của mình để so sánh, đối chiếu: vấn đề nào đã biết, chưa biết? điểm nào đúng với sự
dự đoán của mình, tại sao như vậy? Liên tục suy nghĩ như vậy, người học vừa tiếp
nhận được tri thức của người dạy vừa kiểm tra được suy nghĩ, dự đoán của bản
thân.
- Với một vấn đề có một cách lý giải. Vì vậy, khi nghe giảng người học nên
mạnh dạn đề xuất những suy nghĩ của mình để trao đổi thêm với người dạy.
- Phải vừa nghe, vừa suy nghĩ một cách độc lập. Song song với sự nghe giảng
- Khi tư duy độc lập đã khá phát triển thì phải đẩy mạnh nó lên qua việc sau
đây: Đọc sách đến một chừng mực nào đó rồi gấp sách lại, dùng năng lực tư duy của
mình để tự phát triển tiếp phần còn lại của sách. Sau đó đối chiếu với phần sách phát
triển để nghiêm khắc kiểm tra tư duy của mình, tìm ra chỗ yếu, chỗ mạnh trong tư
duy, ví dụ như tự đánh giá rằng “mình còn suy nghĩ một chiều”, hay mình còn thiếu
“tư tưởng tiến công”, dễ thỏa mãn.
- Để bạn bè kích thích nhau động não thì nên tổ chức những cuộc hội thảo có
chủ đề định trước, mỗi người phải tự giác chuẩn bị ở nhà để đến nơi tranh luận, ý kiến
người này gợi mở cho người kia. Về phía GV, nên động viên giúp đỡ người học tổ
chức hội thảo, uốn nắn những sai sót có phương hại cho việc rèn luyện tư duy độc lập.
1.1.3. Dạy cách học
Việc dạy phải thực sự đi đôi với việc học, GV phải gắn bó với HS; việc “dạy
có hiệu quả” nhất thiết phải được đánh giá từ việc “học có hiệu quả”. Như vậy phải
bắt đầu từ quan niệm về học mà xác định quan niệm về dạy và từ đó, làm rõ mối
quan hệ giữa dạy và học.
1.1.3.1. Cách tiếp cận, quan niệm việc học của HS và việc dạy của GV
1.1.3.1.1. Cách tiếp cận và quan niệm việc học của HS [21]
HS có hai cách tiếp cận chủ yếu: “bề mặt” và “bề sâu”
- Cách tiếp cận “bề mặt”, nhằm hoàn thành “nhiệm vụ”, mang tính chất bên
ngoài, gây cảm giác là có học. Ví dụ: học để lấy điểm …mà không thực sự hiểu kĩ,
hiểu sâu nội dung nên chóng quên. HS thường nhìn vấn đề học theo cách định
lượng (số giờ học, số điểm…). Họ quan niệm: học là chiếm lĩnh thông tin càng
nhiều càng tốt; học là ghi nhớ, lặp lại và thuộc lòng những mẩu kiến thức tách biệt
nhau.
- Cách tiếp cận “chiều sâu”, dựa vào nguyên tắc khai thác tối đa việc học. Đây
là cách tiếp cận “hiểu sâu, nhớ lâu”, lại chú trọng mặt chất lượng của việc học. Họ
quan niệm học hiểu bản chất của sự vật và kiểm nghiệm giá trị của sự vật trong thực
tiễn; học là tạo ra sự biến đổi về nhận thức để hiểu biết thế giới bằng cách lý giải và
thông hiểu thực tiễn; học là biến đổi con người; học để nên người; học để làm người.
bạn và thầy, do thầy tổ chức.
Học cách học, cách ứng xử, cách giải
quyết vấn đề, cách sống.
Tự đánh giá, tự điều chỉnh, cung cấp mối
liên hệ ngược cho thầy đánh giá, có tác
dụng khuyến khích tự học.
Thầy là thầy học, chuyên gia về việc học,
dạy cách học cho trò tự học chữ, tự học
nghề, tự học nên người.
9EFG$6 :H4 H456
I-/41J4!/
K4BE@1.L48M4%"56
N6-
O58
I-/44!$E@B6-
P08Q!$.L48M4
PR.:/+#5@
I8.S4T-
1.1.3.2. Quan niệm về mối quan hệ giữa dạy và học [21]
Dạy nhằm làm cho HS hiểu, hiểu đúng, hiểu nhanh, cho nên GV luôn phải nắm
được cách hiểu của HS với những điều GV dạy. Có hiểu thì mới hành đúng.
Học → Hiểu → Hành
Mục đích của Học là Hiểu, trên cơ sở đó là Hành
Việc dạy và việc học là hai mặt của một quá trình thống nhất - sự dạy học. Việc
dạy của thầy phải có tác dụng điều khiển (tổ chức, chỉ đạo, đánh giá) sự học của trò.
Dạy tốt là làm cho trò biết học, biết hỏi do đó sẽ hiểu và biết hành, biết biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Sự học của trò một mặt phải biết dựa vào sự
- HS chưa thực sự cố gắng, nỗ lực, không chịu khó suy nghĩ vấn đề một cách
sâu sắc.
• PPDH của GV ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng phương pháp học tập của HS:
- GV chưa thực sự áp dụng các PPDH theo hướng đổi mới nhằm phát huy tính
tích cực của HS. Giáo án của những năm trước vẫn được GV sử dụng giảng
dạy mà không có sự bổ sung, thay đổi gì cho phù hợp với tình hình mới.
- GV còn ngại khó:
+ Việc sử dụng TNg trong dạy học chưa thực hiện thường xuyên, không hoặc ít
khi tổ chức cho HS tự lực làm TNg trong giờ học. TNg là cơ sở quan trọng để xây
dựng lòng tin vào khoa học, là nguồn gốc làm nảy sinh muôn điều thắc mắc đặt ra
trong đầu HS.
+ Việc soạn bài bằng giáo án điện tử nhằm khai thác các lợi thế của phương
tiện trực quan không được GV thực hiện đều đặn.
- Hứng thú học tập giúp HS tự lực suy nghĩ, thực hiện các thao tác tư duy, phát
triển óc sáng tạo của bản thân. Tuy nhiên, trong các giờ học, GV chưa tạo
được hứng thú học tập, lôi cuốn HS vào các hoạt động trên lớp.
- Các giờ luyện tập, ôn tập chưa thực sự diễn ra đúng nghĩa. GV chủ yếu nhắc
lại kiến thức cũ, làm bài tập vận dụng trong sách giáo khoa mà chưa khai
thác những bài tập bên ngoài để HS động não, rèn luyện suy luận logic và
khả năng tư duy.
- GV còn chú trọng truyền thụ kiến thức cho HS, chưa chú trọng dạy cho HS
cách nghĩ, cách tư duy.
* Số lượng HS trong một lớp đông, thời gian cho mỗi tiết học ngắn, do đó,
HS không có điều kiện để thể hiện mình. Bên cạnh một số ít HS nhanh chóng bắt kịp
tiến trình giảng dạy của GV thì vẫn còn phần lớn HS chưa theo dõi kịp. Thời gian
trên lớp không đủ để giúp HS suy nghĩ, tự lực tìm câu trả lời thì GV đã phải hướng
dẫn, dẫn đến HS bị đưa vào tình thế bị động, làm hạn chế việc thường xuyên suy
nghĩ, phát triển tư duy.
Do đó, trong quá trình dạy học hóa học cần cố gắng bằng mọi cách động viên
- Giải một số bài tập định tính, định lượng liên quan đến kiến thức trong chương.
c. Giáo dục tình cảm, thái độ
Thông qua nội dung về tính chất hóa học và ứng dụng của các chất đã được
học, giáo dục cho HS:
- Lòng say mê học tập, ý thức vươn lên chiếm lĩnh khoa học kĩ thuật.
- Ý thức bảo vệ môi trường…
2.1.1.2. Một số điểm cần lưu ý
Nhóm halogen được học sau khi HS đã học các LT chủ đạo về cấu tạo nguyên
tử, liên kết hóa học; bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và một số khái niệm cơ
bản: độ âm điện, phản ứng oxi hóa - khử… Vì vậy, GV cần chú ý khai thác những
nội dung kiến thức này, hướng dẫn HS tự tìm ra kiến thức về tính chất hóa học của
đơn chất và hợp chất của halogen.
Một số TNg, HS đã được quan sát và thực hiện ở lớp 9, GV không nhất thiết
phải lặp lại những TNg này. Những TNg tiến hành là nhằm chứng minh cho tính
chất hóa học đã được rút ra từ LT chủ đạo.
Halogen và hợp chất của halogen có nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất,
GV cần khai thác khía cạnh thực tiễn giúp HS có kiến thức về thực tiễn ở Việt Nam.
Tính chất của các nguyên tố trong nhóm halogen: Các halogen có tính chất
hóa học tương tự nhau, trong quá trình giảng dạy GV cần hướng dẫn HS so sánh về
tính chất và khả năng tham gia phản ứng của các halogen, từ đó rút ra những quy
luật cần thiết minh chứng cho những kiến thức đã học về LT chủ đạo.
2.1.2. Chương “Nhóm oxi” [24]
2.1.2.1. Mục tiêu của chương
a. Về kiến thức
∗ HS biết
- Tính chất lí, hoá học cơ bản của oxi, ozon, lưu huỳnh và hợp chất của chúng.
- Một số ứng dụng quan trọng oxi, ozon, lưu huỳnh và hợp chất của chúng.
- Biết vận dụng những kiến thức đã học: Cấu tạo nguyên tử, phản ứng oxi hoá
-khử giải thích tính chất của đơn chất O
cực, độc lập nghiên cứu tính chất của nhóm nguyên tố, tính chất của các nguyên tố
và hợp chất cụ thể trong mỗi nhóm cùng các ứng dụng và phương pháp điều chế
chúng, bằng cách sử dụng kiến thức đã biết về cấu tạo nguyên tử, bảng tuần hoàn và
định luật tuần hoàn, liên kết hóa học, phản ứng hóa học… để:
- Suy đoán tính chất của chất từ LT chủ đạo đã học.
- Kiểm tra dự đoán đó (bằng các kiến thức đã biết, bằng TNg hóa học, …).
- Tự đọc, tự tìm hiểu thu thập và xử lí thông tin từ nội dung sách giáo khoa để rút ra
một số kiến thức chưa biết về ứng dụng, điều chế.
Kiến thức của hai chương này bao gồm những HT cụ thể có thể quan sát được
nên GV chú ý tận dụng các TNg và sử dụng TNg hóa học theo phương pháp nghiên
cứu, tạo điều kiện cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới, kết hợp sử dụng phương
pháp đàm thoại tìm tòi - phát hiện. Coi trọng việc hình thành và phát triển năng lực