Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
Lời mở đầu:
Sản xuất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài ngời. Muốn tiến hành
sản xuất phải có đầy đủ hai điều kiện là t liệu sản xuất và sức lao động. TSCĐ là
một bộ phận t liệu sản xuất giữ vai trò t liệu lao động chủ yếu trong quá trình sản
xuất, chúng đợc coi là cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò cực kỳ quan trọng trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
C.Mác đã từng nói TSCĐ là xơng, là bắp thịt của sản xuất, nh vậy TSCĐ
là điều kiện quan trọng để tăng năng suất lao động và là yếu tố để phát triển nền
kinh tế quốc dân, TSCĐ thể hiện một cách chính xác nhất năng lực và trình độ
trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay,
dới sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trờng, để tồn tại và phát triển đợc thì
doanh nghiệp luôn phải tìm tòi cho mình những bớc đi vững chắc hơn. Khi khoa
học kỹ thuật ngày càng phát triển thì việc đổi mới TSCĐ ngày càng đóng vai trò
quan trọng hơn bởi nó ảnh hởng trực tiếp tới năng suất lao động và nó quyết định
đến sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề đó nói chung và ở công ty Dệt
vải công nghiệp Hà Nội nói riêng. Với kiến thức và kinh nghiệm đã đợc trang bị ở
nhà trờng, và với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô, chú trong công ty và sự hớng
dẫn tận tụy của thầy giáo Trần Văn Dung, em đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu
đề tài Tổ chức công tác kế toán TSCĐ ở công ty Dệt vải công nghiệp Hà
Nội, làm chuyên đề tốt nghiệp cuối khoá của mình.
Kết cấu của chuyên đề đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
1
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
Chơng 2: Thực trạng công tác TSCĐ ở công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội
hình hao mòn, việc thu hồi vốn đầu t ban đầu để tái sản xuất TSCĐ trong doanh
nghiệp.
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán trong công tác quản lý và sử dụng TSCĐ.
Kế toán là công cụ đắc lực để quản lý kinh doanh một cách có hiệu quả nhất.
Vì vậy, kế toán TSCĐ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời mọi tài liệu cần
thiết phục vụ cho việc quản lý của giám đốc, đồng thời quản lý chặt chẽ TSCĐ
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng. Để thực hiện đợc yêu cầu dó kế toán TSCĐ cần
thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu một cách chính xác, đầy đủ kịp
thời về số lợng, hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng giảm và di
chuyển TSCĐ trong nội bộ doanh nghiệp, giám sát chặt chẽ việc mua sắm, đầu t,
bảo quản và sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp.
- Phản ánh kịp thời giá trị hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng, tình hình
trích lập hoặc phân bổ và kết chuyển chính xác số khấu hao và chi phí sản xuất
kinh doanh.
- Cần lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ, phản ánh
chính xác chi phí thực tế về sửa chữa TSCĐ kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và
chi phí sửa chữa TSCĐ.
- Tham gia kiểm kê định kỳ hay bất thờng TSCĐ trong doanh nghiệp, tham
gia đánh giá lại TSCĐ khi cần thiết, tổ chức phân tích tình hình bảo quản và sử
dụng TSCĐ trong doanh nghiệp.
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
3
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
1.2. Phân loại và đánh giá TSCĐ.
1.2.1. Phân loại TSCĐ.
Tuỳ theo công dụng và đặc trng nhất định của TSCĐ ngời ta có những cách
phân loại TSCĐ khác nhau:
TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể nhng xác
định giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung
cấp dịch vụ hoặc cho các đối tợng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận
TSCĐ.
Đối với TSCĐ vô hình, do rất khó nhận biết một cách riêng biệt nên khi xem
xét một nguồn lực vô hình có thoả mãn định nghĩa trên hay không, ta phải xem
xết đến các khía cạnh sau:
- Tính có thể xác định đợc: TSCĐ vô hình có thể xác định một cách riêng
biệt, có thể đem cho thuê hoặc bán một cách độc lập.
- Khả năng kiểm soát: doanh nghiệp phải có khả năng kiểm soát tài sản, lợi
ích thu đợc, gánh chịu rủi ro liên quan đến tài sản và có khả năng ngăn chặn sự
tiếp cận cảu các đối tợng khác với tài sản.
- Lợi ích kinh tế trong tơng lai: doanh nghiệp có thể thu đợc các lợi ích kinh
tế từ TSCĐ dới các hình thức khác nhau.
Theo cách phân loại TSCĐ theo đặc trng kỹ thuật thì TSCĐ vô hình còn đợc
chia thành các loại sau:
+ Quyền sử dụng đất: là giá trị của quyền sử dụng một mặt bằng diện tích
mặt đất, mặt nớc, mặt biển...
+ Chi phí thành lập và chuẩn bị sản xuất: là các chi phí phát sinh lúc doanh
nghiệp mới thành lập nh chi phí công tác nghiên cứu, thăm dò lập dự án đầu t, chi
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
5
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
phí cho sử dụng vốn ban đầu, chi phí cho đi lại, hội họp, khai trơng, quảng cáo vv.
Các chi phí này chấm dứt khi doanh nghiệp đi vào hoạt động chính thức.
+ Bằng phát minh sáng chế: Giá trị của nó là các chi phí doanh nghiệp phải trả
để mua bẳn quyền bằng phát minh của các nhà nghiên cứu, hoặc phải trả cho các
công trình nghiên cứu thử nghiệm đợc Nhà nớc cấp bằng phát minh, sáng chế.
kiện nào của hợp đồng thuê tài chính. Bên đi thuê có quyền quản lý và sử dụng
trong thời gian hợp đồng và phải hoàn trả khi kết thúc hoặp đồng.
Cách phân loại này giúp ta thấy rõ cơ cấu TSCĐ của doanh nghiệp góp phần
cho việc quản lý TSCĐ của doanh nghiệp nhng cha phản ánh rõ tình hình sử dụng
TSCĐ của doanh nghiệp.
1.2.1.3. Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành.
Theo cách phân loại này, TSCĐ bao gồm: TSCĐ đợc mua sắm đầu t bằng
nguồn vốn nhà nớc cấp, bằng nguồn vốn liên doanh, bằng nguồn vốn tự bổ sung
của doanh nghiệp.
1.2.1.4. Phân loại theo công dụng và tình hình sử dụng:
- TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh: Đây là TSCĐ đang thực tế sử dụng
trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những TSCĐ này bắt
buộc phải trích khấu hao tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
- TSCĐ hành chính sự nghiệp là TSCĐ của các đơn vị hành chính sự nghiệp
nh: đoàn thể quần chúng, tổ chức y tế, văn hoá, thể thao.
- TSCĐ phúc lợi: là những TSCĐ của đơn vị dùng cho nhu cầu phúc lợi
công cộng nh nhà văn hoá, nhà trẻ, câu lạc bộ, nhà nghỉ mát
- TSCĐ chờ xử lý: Bao gồm những TSCĐ không cần dùng, cha cần dùng vì
thừa so với nhu cầu sử dụng hoặc vì không thích hợp với sự đổi mới qui trình công
nghệ, bị h hỏng chờ thanh lý, TSCĐ tranh chấp chờ giải quyết. Những TSCĐ này
cần xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc đổi mới TSCĐ.
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
7
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
Cách phân loại này giúp nhà quản lý phân bổ TSCĐ hợp lý giúp nhà quản trị
quản lý và sử dụng, phát huy tối đa tính năng của mỗi loại TSCĐ đồng thời kịp thời
xử lý các TSCĐ chờ thanh lý giúp thu hồi vốn nhanh hơn để quay vòng vốn một cách
có hiệu quả.
* Với một TSCĐ hữu hình không tơng tự hoặc tài sản khác:
Nguyên giá = Giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận về
= Giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi + các khoản phải trả
thêm (- các khoản phải thu về)
(3) Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự sản xuất:
Nguyên giá = Giá thành thực tế sản xuất + chi phí lắp đặt chạy thử
(4) Nguyên giá TSCĐ hữu hình do đầu t xây dựng cơ bản hình thành theo
phơng thức giao thầu:
Nguyên giá = Giá quyết toán công trình ĐTXD + Các chi phí liên quan
trực tiếp khác + Thuế trớc bạ (nếu có)
(5) Nguyên giá TSCĐ hữu hình đợc cấp đợc điều chuyển đến:
Nguyên giá = Giá trị đấnh giá của hội đồng liên doanh giao nhận + ci phí
vận chuyển lắp đặt (Nguyên giá ghi sổ bên giao)
(6) Nguyên giá TSCĐ hữu hình đợc cho, đợc biếu tặng:
Nguyên giá = Giá trị hợp lý của TSCĐ tại thời điểm giao nhận TSCĐ (giá
trị danh nghĩa)
(7) Nguyên giá nhận vốn góp liên doanh, nhận lại vốn góp:
Nguyên giá = Trị giá vốn góp hội đồng liên doanh đánh giá + Các chi phí
mà bên nhận phải chi trả
b) Nguyên giá TSCĐ vô hình:
Nguyên giá TSCĐ vô hình đợc xác định trong các trờng hợp: mua sắm,
trao đổi, đợc tài trợ, đợc cấp, đợc biếu đều tơng tự nh xác định nguyên giá TSCĐ
hữu hình. Dới đây ta chỉ xem xét một số trờng hợp đặc thù:
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
9
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
(1) Nguyên giá TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn:
Nguyên giá = Quyền sử dụng đất có thời hạn khi đợc giao nhận
hiện hành. Việc phản ánh tăng, giảm nguyên giá TSCĐ thực hiện tại thời điểm
tăng, giảm TSCĐ.
1.2.2.2. Đánh giá theo giá trị còn lại.
Giá trị còn lại của TSCĐ là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao
luỹ kế (hoặc giá trị hao mòn luỹ kế) của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo.
Giá trị còn lại Nguyên giá Số khấu hao
trên sổ kế toán = của TSCĐ - luỹ kế
của TSCĐ của TSCĐ
Đây là chỉ tiêu phản ánh đợc năng lực sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật và quy mô của một doanh nghiệp tại một thời điểm cụ thể. Đó cũng
là căn cứ quan trọng để các cấp quản lý đa ra quyết định tái đầu t TSCĐ.
Nh vậy, để đa ra quyết định quản lý chính xác doanh nghiệp phải theo dõi
GTCL trên cả phơng diện sổ sách lẫn thực tế. Tuy vậy phơng pháp đánh giá này có
nhợc điểm là không phản ánh rõ ràng phần vốn mà ta thu hồi đợc, do đó kế toán
phải theo dõi TSCĐ trên cả 3 phơng diện: nguyên giá, giá trị hao mòn, và giá trị
còn lại.
Có thể nói việc đánh giá lại TSCĐ là bớc khởi đầu trong công tác hạch toán
TSCĐ trong doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có những thông tin tổng hợp về
TSCĐ để sử dụng nó có hiệu quả hơn nữa.
1.3. Tổ chức hạch toán chi tiết TSCĐ trong doanh nghiệp.
1.3.1. Chứng từ kế toán
Mọi nghiệp vụ kinh tế- tài chính có liên quan đến TSCĐ đều phải đợc phản
ánh vào các chứng từ kế toán làm căn cứ để ghi sổ. Những chứng từ đợc sử dụng
chủ yếu là:
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
11
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
- Biên bản giao nhận TSCĐ (Mẫu 01-TSCĐ)
Việc theo dõi TSCĐ tại nơi sử dụng, bảo quản nhằm xác định và gắn trách
nhiệm sử dụng và bảo quản tài sản tới từng bộ phận, góp phần nâng cao trách
nhiệm và hiệu quả sử dụng TSCĐ.
Tại nơi sử dụng, bảo quản TSCĐ sử dụng Sổ TSCĐ theo đơn vị sử dụng
để theo dõi tình hình tăng giảm TSCĐ trong phạm vi bộ phận quản lý.
1.4. Kế toán tổng hợp TSCĐ.
Là quá trình hình thành, lựa chọn và cung cấp thông tin về tình hình tăng
giảm và sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp trên cơ sở thiết kế một hệ thống chứng từ,
tài khoản, sổ sách, trình tự, phản ánh, giám sát các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Mục đích của công tác hạch toán là nhằm đảm bảo tính khoa học và hiệu
quả của việc hạch toán, nhờ đó theo dõi, quản lý chặt chẽ trên cơ sở các thông tin
về TSCĐ đợc cung cấp kịp thời, chính xác và đầy đủ.
1.4.1. Tài khoản sử dụng.
Tài khoản 211 TSCĐ hữu hình dùng để phản ánh giá trị hiện có và biến
động tăng, giảm TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp theo nguyên giá.
Tài khoản 212: TSCĐ thuê tài chính dùng để phản ánh giá trị hiện tại và sự
biến động tăng, giảm của TSCĐ thuê tài chính
Tài khoản 213: TSCĐ vô hình dùng để phản ánh giá trị hiện có và biến
động tăng giảm TSCĐ vô hình ở doanh nghiệp.
Tài khoản 214 Hao mòn TSCĐ: dùng để phản ánh tình hình tăng giảm giá
trị hao mòn của toàn bộ TSCĐ trong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ và
do những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ.
Ngoài ra kế toán tổng hợp TSCĐ còn sử dụng các tài khoản khác để phản
ánh sự thay đổi của TSCĐ.
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
13
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
1.4.2. Trình tự kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ vô hình, hữu hình
thấp phụ thuộc vào các yếu tố nh cờng độ sử dụng, chế độ bảo quản bảo dỡng,
điều kiện môi trờng, khí hậu trình độ quản lý.
Vì vậy để giảm bớt hao mòn hữu hình ngời ta phải làm sao để giảm bớt sự
tác động của các yếu tố trên.
Hao mòn vô hình: Là sự thuần tuý về mặt giá trị do không kịp tiến độ khoa
học, kỹ thuật, cạnh tranh vvkhoa học phát triển càng nhanh thì khả năng hao
mòn vô hình càng lớn. Sự hao mòn này không phụ thuộc vào việc TSCĐ sử dụng
ít hay nhiều mà phụ thuộc vào việc TSCĐ đợc tối đa hoá đến đâu. Xu thế hiện
nay, để giảm bớt hao mòn vô hình, ngời ta thờng rút ngắn thời gian thu hồi vốn
đầu t ở TSCĐ.
- Khấu hao TSCĐ: Một TSCĐ đợc mua khi nó thoả mãn nhu cầu sản xuất
hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp, nghĩa là nó hữu dụng. Và khi mua một TSCĐ
cũng đồng nghĩa với việc đầu t dài hạn hiện tại cho tơng lai..Hay nói cách khác,
doanh nghiệp đã ứng trớc một khoản chi phí hiện tại để hy vọng nhận đợc một
khối lợng giá trị trong tơng lai khi sử dụng TSCĐ này. Do đó phải tính toán phân
bổ dần chi phí TSCĐ để thu hồi vốn kịp thời, quá trình này đợc gọi là khấu hao
TSCĐ.
- Mối quan hệ giữa khấu hao và hao mòn TSCĐ: Hao mòn là một hiện tợng
khách quan làm giảm giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ. Còn khấu hao là một
biện pháp mang tính chủ quan của nhà quản lý, nó ảnh hởng đến giá trị sản phẩm
doanh thu, lợi nhuận thu đợc của doanh nghiệp, từ đó ảnh hởng đến thuế và các
khoản phải nộp nhà nớc khác.Vì TSCĐ không chỉ hao mòn hữu hình mà còn hao
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
15
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
mòn vô hình nên việc xác định mức độ hao mòn của TSCĐ để phân bổ vào chi phí
kinh doanh là hết sức phức tạp.
1.5.2. Các phơng pháp tính khấu hao TSCĐ
Mức khấu hao bình quân Nguyên giá của TSCĐ
trên một đơn vị sản phẩm Sản lợng theo công suất thiết kế
c) Phơng pháp khấu hao theo số d giảm dần có điều chỉnh
Mức khấu hao Giá trị còn lại Tỷ lệ khấu hao
hàng năm của TSCĐ của TSCĐ nhanh
Trong đó:
Tỷ lệ khấuhao Tỷ lệ khấu hao theo Hệ số
nhanh phơng pháp đờng thẳng điều chỉnh
Mức khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm, chia cho 12
tháng
1.5.3. Tổ chức kế toán hao mòn TSCĐ và khấu hao TSCĐ
a) Tài khoản sử dụng: TK 214 và TK 009
b) Phơng pháp hạch toán
* Kế toán khấu hao và hao mòn TSCĐ. Định kỳ trích khấu hao TSCĐ vào
chi phí sản xuất kinh doanh.- Kế toán vay vốn khấu hao TSCĐ trong nội bộ:
* Đơn vị cho vay vốn khấu hao TSCĐ, khi cho vay vốn:
Nợ TK 1368
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
17
214
627,641,642
Khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động sxkd
Cuối năm phản ánh
hao mòn TSCĐ
Nếu TSCĐ dùng vào
hoạt động sự nghiệp,
Sau đó doanh nghiệp phải lập bảng khấu hao cho tùng loại TSCĐ có trong
doanh nghiệp. Cuối cùng lập bảng tính và phân bổ khấu hao vào chi phí tơng ứng.
1.6. Kế toán sửa chữa TSCĐ:
Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn h hỏng từng bộ phận. Để đảm
bảo cho TSCĐ hoạt dộng bình thờng trong suốt thời gian sử dụng, các doanh
nghiệp phải thờng xuyên bảo dỡng và sữa chửa TSCĐ bị h hỏng.
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
18
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
Nhiệm vụ của kế toán sửa chữa là phản ánh chính xác chi phí và tính giá
thành các công việc sửa chữa lớn hoàn thành, phân bổ đúng chi phí sửa chữa
TSCĐ vào các đối tợng có liên quan trong doanh nghiệp
Tuỳ theo qui mô, tính chất công việc sửa chữa, doanh nghiệp có thể tiến
hành sửa chữa TSCĐ thờng xuyên hoặc sửa chữa lớn TSCĐ:
- Sửa chữa thờng xuyên (nhỏ) là hoạt dộng sửa chữa có tính chất bảo quản,
bảo dỡng thờng xuyên TSCĐ, chi phí bỏ ra một lần sửa chữa nhỏ và thời gian sửa
chữa ngắn. Vì vậy kế toán thờng xuyên tính toàn bộ chi phí sửa chữa vào chi phí
sản xuất kinh doanh tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ sửa chữa TSCĐ.
- Sửa chữa lớn TSCĐ: là loại hình sửa chữa có tính chất thay thế những bộ phận
chủ yếu của TSCĐ. Loại sửa chữa này chi phí bỏ ra một lần tơng đối lớn, thời gian sửa
chữa tơng đối dài. Vì vậy kế toán có thể trích trớc hoặc phân bổ vào chi phí sản xuất
kinh doanh trong kỳ để đảm bảo cự ổn định của chỉ tiêu giá thành
Có 2 phơng thức sửa chữa là phơng thức tự làm hoặc thuê ngoài
1) Kế toán sửa chữa theo phơng thức tự làm đợc thể hiện theo sơ
Đối với sửa chữa thờng xuyên:
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
19
thành, với doanh nghiệp áp dụng phơng pháp khấu trừ thuế GTGT, ghi:
Nợ TK 241
Nợ TK 133
Có TK 331
Tuỳ thuộc vào doanh nghiệp có hay không trích trớc chi phí sửa chữa lớn
TSCĐ, để kết chuyển chi phí thực tế về sửa chữa TSCĐ vào các TK 142, 242,
335- làm tơng tự nh đối với sửa chữa theo phơng thức tự làm
1.7. Sổ kế toán sử dụng trong kế toán TSCĐ ở công ty
Trong hình thức NKCT sử dụng các sổ:
- NKCT số: 1,2,3,4,5,6,9
- Các bảng kê: 4,5,6
- Bảng phân bổ số 3
- Sổ chi tiết, thẻ
- Sổ cái các tài khoản 211,213,214
1.8. Tổ chức kế toán TSCĐ trong điều kiện doanh nghiệp áp dụng kế toán
máy vi tính.
Hiện nay do nền kinh tế thị trờng ngày càng phát triển, quy mô hoạt động
doang ngiệp ngày càng tăng, làm cho nhu cầu thu nhận, xử lý và cung cấp thông
tin ngày càng khó khăn. Hơn nữa hệ thống thông tin kế toán còn có vai trò chủ
đạo trong quá trình kiển soát, yêu cầu của đối tợng thông tin ngày càng nhiều với
mục đích khác nhau. Do vậy hầu hết các doanh nghiệp đã áp dụng tin học vào
công tác kế toán, việc ứng dụng này đã mang lại kết quả vô cùng to lớn giúp giải
quyết các yêu cầu trên. Quy trình kế toán TSCĐ trong điều kiện áp dụng kế toán
máy nh sau:
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
20
Sợi đơn PA
Xây dựng, khai báo hệ thống danh
mục đối đối tượng kế toán:
của Đế quốc Mỹ. Tiền thân từ một xí nghiệp thành viên của nhà máy liên hiệp dệt
Nam Định, đợc lệnh tháo dỡ máy móc sơ tán lên Hà Nội với tên gọi ban đầu là
Nhà máy dệt chăn, địa điểm tại xã Vĩnh Tuy-Thanh Trì-Hà Nội. Trong thời gian
mới thành lập công ty đã gặp rất nhiều khó khăn cả về cơ sở vật chất lẫn trình độ
sản xuất. Sản phẩm của xí nghiệp là chăn chiên đợc sản xuất từ phế liệu bông đay
và sợi rối của nhà máy dệt Nam Định. Sau khi sơ tán lên Hà Nội xí nghhiệp đã
phải mua phế liệu của các nhà máy khác tại đây nh Dệt 8/3, dệt kim Đông Xuân
để tiếp tục sản xuất. Nhng do công nghệ thủ công và máy móc thiết bị lạc hậu,
nguyên liệu để sản xuất thì tạp nham, nhiều nguồn cung cấp lại không đều đặn
nên sản phẩm đạt chất lợng thấp và giá thành cao. Chính vì vậy, trong suốt thời
gian đầu mới thành lập xí nghiệp bị thua lỗ liên miên và nhà nớc phải bù lỗ.
Năm 1970 xí nghiệp lắp đặt dây chuyền sản xuất vải mành từ sợi bông do
Trung Quốc giúp xây dựng để cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy Cao su Sao
Vàng làm lốp xe đạp.
Năm 1973 xí nghiệp đã trả lại dây chuyền dệt chăn cho Nhà máy dệt Nam
Định và nhận nhiệm vụ lắp đặt dây chuyền sản xuất vải bạt song song với dây
chuyền sản xuất vải mành, từ đó sản xuất kinh doanh dần đi vào thế ổn định. Đến
tháng 10/1973 nhà máy đổi tên thành Nhà máy Dệt vải Công nghiệp Hà Nội với
các nhiệm vụ chủ yếu là dệt các loại vải dùng trong công nghiệp nh vải mành, vải
bạt, sợi xe-là nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân cụ
thể: vải mành dùng để sản xuất lốp xe đạp, xe máy, ôtô, vải bạt dùng để làm giầy,
băng tải sợi xe dùng làm chỉ may công nghiệp.
Từ năm 1974 đến năm 1986 trong cơ chế bao cấp, sản xuất theo định mức
kế hoạch của Nhà Nớc, công ty luôn hoàn thành vợt mức kế hoạch và có xu thế
năm sau cao hơn năm trớc.
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
23
Học viện Tài Chính
Chuyên đề cuối khoá
cuối năm 2004 thì xí nghiệp vải bạt đã thu hẹp qui mô sản xuất và đến đầu năm
2005 đã giải thể.
Công ty đã từng bớc đi lên, từ khi chuyển sang sản xuất kinh doanh theo cơ
chế thị trờng không cần sự hỗ trợ của Nhà nớc nh trong cơ chế quản lý bao cấp.
Chất lợng sản phẩm đợc đánh giá bằng các huy chơng vàng, bạc tại các hội chợ,
triễn lãm công nghiệp nh:
- Vải màng cotton đợc cấp giấy chứng nhận chất lợng số 1 trên toàn quốc.
- Vải bạt 3x3, 3x4 đợc tặng huy chơng vàng trong hội chợ triễn lãm thành tựu
kinh tế, kỹ thuật Việt Nam .
Nhìn chung hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm qua
có xu hớng đi lên. Công ty đã duy trì tốc độ phát triển tạo đủ công ăn việc làm
cho cán bộ công nhân viên trong công ty, phát huy tối đa công suất máy móc
thiết bị.
Một số chỉ tiêu tổng quát phản ánh tình hình công ty trong 3 năm gần đây,
qua bảng sau đây:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tổng hợp Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Doanh thu bán hàng 112.218 124.371 184.950
Lợi nhuận sau thuế 163,1 0 184,8
Vốn cố định bình quân 59.699 59.935 75.689
Nộp ngân sách 8.525 9.550 9.785
Số lao động (ngời) 787 727 830
Thu nhập bình quân (1000đ) 787,235 915,850 1.200,000
Trịnh Thị Thuý Hằng
Lớp: K40-21.05
25