BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Tuyết An XÂY DỰNG BỘ ĐỀ PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ
GIÚP HỌC SINH THPT TĂNG CƯỜNG
KHẢ NĂNG TỰ KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Hóa học
Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 5 năm 2010 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐH : đại học
GV : giáo viên
HS : học sinh
NXB : nhà xuất bản
PPDH : phương pháp dạy học
THPT : trung học phổ thông
TNKQ : trắc nghiệm khách quan
TNTL : trắc nghiệm tự luận
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09/12/2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần
này là “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam,
tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”.
Để nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi phải đổi mới nội dung và phương pháp dạy học.
Trong đó việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra – đánh giá là một khâu quan trọng. Đổi
mới kiểm tra – đánh giá tạo động lực để đổi mới phương pháp dạy học và ngược lại đổi mới phương
pháp dạy học là điều kiện quan trọng nhất để đổi mới kiểm tra – đánh giá. Kiểm tra – đánh giá là
công cụ quan trọng, chủ yếu điều chỉnh hoạt động dạy và học, góp phần cải thiện, nâng cao chất
lượng đào tạo con người theo mục tiêu. Ngoài việc giáo viên đánh giá học sinh còn phải chú trọng
hướng dẫn học sinh phát triển khả năng và thói quen tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá
- Xác định hệ thống kiến thức, kỹ năng hóa học cần kiểm tra.
- Xây dựng các bộ đề kèm theo đáp án giúp HS tự kiểm tra – đánh giá.
- Thực nghiệm sư phạm.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu việc xây dựng bộ đề kiểm tra kiến thức, kỹ năng phần hóa học vô cơ giúp HS tự kiểm tra
– đánh giá thì sẽ nâng cao kết quả học tập môn Hóa ở trường THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến phương pháp kiểm tra, đánh giá.
- Quy trình xây dựng đề kiểm tra, đánh giá.
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc phần hóa học vô cơ chương trình THPT.
6.2. Nhóm các phương pháp thực tiễn
Điều tra cơ bản
- Điều tra, tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu giáo dục.
- Trao đổi ý kiến với các giáo viên dạy hóa học ở các trường THPT về số lượng câu hỏi, nội
dung, hình thức, khả năng sử dụng các đề kiểm tra.
- Thăm dò ý kiến của học sinh sau khi sử dụng bộ đề kiểm tra.
Thực nghiệm sư phạm
6.3. Phương pháp toán học
Sử dụng toán thống kê trong việc phân tích và xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm.
7. Phạm vi nghiên cứu
* Nội dung: phần hóa học vô cơ THPT chương trình cơ bản, gồm các chương:
- Nhóm halogen.
- Oxi – Lưu huỳnh.
- Nitơ – Photpho.
- Cacbon – Silic.
- Kim loại kiềm – kim loại kiềm thổ - nhôm.
và điều tra xã hội học gần đây trên thế giới cũng như ở nước ta cho thấy thanh thiếu niên có những
thay đổi trong sự phát triển tâm sinh lý, đó là sự thay đổi có gia tốc trong điều kiện phát triển của
các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, học sinh được tiếp nhận
nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, hiểu biết nhiều hơn, linh
hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đây mấy chục năm, đặc biệt là học sinh bậc
trung học. Trong học tập, học sinh không thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không
chỉ chấp nhận các giải pháp đã có sẵn được đưa ra. Như vậy, ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu và
cũng là một quá trình: sự lĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng để hình thành và phát
triển phương thức học tập ở học sinh một cách có chủ định thì cần thiết phải có sự hướng dẫn đồng
thời tạo các điều kiện thuận lợi.
Do đó, việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và kiểm tra – đánh
giá là đòi hỏi của thực tế khách quan, mang tính quy luật phổ biến mà mọi quốc gia, mọi nền giáo
dục đều phải chấp nhận.
Trích:
- Điều 29, mục II – Luật Giáo dục – 2005: “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục
tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông;
phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với
các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông”.
1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc đổi mới kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh đặc biệt là tự kiểm tra – đánh
giá của HS là một vấn đề rất quan trọng và được nhiều nhà giáo dục quan tâm. Trong lĩnh vực này
chúng tôi đã tìm hiểu và thống kê được một số tài liệu:
- Các văn bản, tài liệu hướng dẫn về đổi mới kiểm tra đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo :
+ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10, 11, 12 – môn
Hóa học, NXB Giáo dục (2005 – 2006 – 2007).
+ Tài liệu hướng dẫn: Kĩ thuật xây dựng bộ đề trắc nghiệm khách quan, Vụ phổ thông - Bộ
Giáo dục và Đào tạo (2008).
- Các sách về vấn đề tự kiểm tra đánh giá:
+ Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Ngà, Vũ Anh Tuấn (2009), Tự học tự kiểm tra đánh giá kiến
dng, phõn tớch, tng hp, ỏnh giỏ), k nng bit lm v lm mt cỏch thnh tho nhng iu ó
hc.
V trớ ca kim tra ỏnh giỏ trong quỏ trỡnh dy hc:
Mục tiêu
đào tạo
Trình độ xuất phát
của học sinh
Nghiên cứu
tài liệu mới
Kiểm tra - đánh giá
kết quả học tập
Các mối liên hệ nghịch
a) Kim tra
Kim tra l theo dừi s tỏc ng ca ngi kim tra i vi ngi hc nhm thu c nhng
thụng tin cn thit cho vic ỏnh giỏ.
Trong lớ lun dy hc, kim tra l giai on kt thỳc ca quỏ trỡnh dy hc, m nhn mt
chc nng lớ lun dy hc c bn, ch yu khụng th thiu c ca quỏ trỡnh ny. Kim tra cú vai
trũ liờn h nghch trong quỏ trỡnh dy hc, nhm mc ớch bit nhng thụng tin, kt qu v quỏ trỡnh
dy ca thy v quỏ trỡnh hc ca trũ, t ú cú nhng quyt nh cho s iu khin ti u ca c
thy v trũ. Kim tra ỏnh giỏ nhm kho sỏt kh nng ca ngi hc v mụn hc m im s cỏc
bi kho sỏt l nhng s o o lng kh nng hc tp ca HS. Nu vic kim tra v ỏnh giỏ mt
cỏch nghiờm tỳc, thng xuyờn v cụng bng vi k thut cao v t kt qu tt thỡ ngi hc s hc
tt hn.
b) ỏnh giỏ
ỏnh giỏ kt qu hc tp l o lng mc t c ca ngi hc v cỏc mc tiờu v
nhim v ca quỏ trỡnh dy hc. Mụ t mt cỏch nh tớnh v nh lng: tớnh ỳng n, tớnh chớnh
xác, tính vững chắc của kiến thức, tính đầy đủ, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, khả năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết,
bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của người học,… và thái độ của người học trên cơ sở phân tích
hóa học… đã học. Trả lời câu hỏi thế nào? Là gì?...
+ Hiểu: Học sinh nêu và giải thích được các khái niệm, tính chất, hiện tượng hóa học, công
thức… Trả lời câu hỏi tại sao? Vì sao? Như thế nào?...
+ Vận dụng: Học sinh áp dụng những điều đã học trong các trường hợp tương tự, giải các
bài tập hóa học, giải thích hiện tượng thực tế, áp dụng một cách sáng tạo trong những điều kiện đã
thay đổi… Trả lời câu hỏi tại sao? Như thế nào? Vì sao? Bằng cách nào?
Như vậy, câu hỏi có thể chia làm 3 loại:
- Loại bề rộng cơ bản (tối thiểu) để đánh giá trình độ nhận thức “biết” và “hiểu”.
- Loại bề sâu, nâng cao để đánh giá trình độ nhận thức từ khá trở lên.
- Loại vận dụng sáng tạo để đánh giá trình độ nhận thức, kỹ năng, kỹ xảo đạt loại giỏi.
b) Đa dạng hóa các loại hình câu hỏi, bài tập trong đề kiểm tra:
- Bài tập trắc nghiệm khách quan có nội dung định tính và định lượng. Đối với bài kiểm tra
45 phút hoặc đề thi học kỳ, bài tập trắc nghiệm chiếm khoảng 30 – 40% về thời lượng và về số
điểm. Đối với bài kiểm tra 15 phút có thể hoàn toàn là trắc nghiệm hoặc tự luận.
- Bài tập tự luận định tính và định lượng chiếm khoảng 60 – 70% về thời lượng và số điểm
toàn bài.
- Nội dung của bài tập trắc nghiệm hoặc tự luận nên có câu hỏi thực hành hóa học (tư duy
hoặc thao tác), câu khảo sát, tra cứu, sưu tầm.
1.3.3.3. Yêu cầu, giải pháp
- Coi trọng kiểm tra, đánh giá chất lượng, nắm vững hệ thống khái niệm cơ bản hóa học, chú
ý phát triển năng lực tư duy hóa học, năng lực giải quyết vấn đề, không nặng về học thuộc lòng.
- Nội dung kiểm tra có tính bao quát chương trình đã học và theo đúng chuẩn kiến thức, kỹ
năng.
- Nội dung kiểm tra phải đảm bảo tính chính xác, khoa học và có tác dụng phân hóa trình độ
học sinh.
- Nội dung kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan và công khai kể cả đáp án cũng như kết
quả.
- Việc kiểm tra – đánh giá phải có tính khả thi và có giá trị phản hồi.
1.3.3.4. Thực trạng kiểm tra – đánh giá môn hóa học trong trường THPT hiện nay [2]
a) Ưu điểm
tra kiến thức mình đã lĩnh hội, tự giải đáp và giải đáp một cách chính xác các câu hỏi mà mình còn
băn khoăn hoặc phát sinh trong quá trình học. Như vậy, học sinh đã đạt được mục đích của việc tự
học.
Học sinh có thể tự lên kế hoạch tìm kiếm được những thông tin cần thiết để bổ sung kịp thời
những thiếu sót hoặc sai sót khi tự kiểm tra kiến thức, qua đó tự mình điều chỉnh được kịp thời
những khiếm khuyết trong nhận thức.
1.3.4.2. Ưu điểm, hạn chế của việc tự kiểm tra – đánh giá
* Ưu điểm:
- Phát triển việc tự học trong HS.
- Tạo được môi trường học tập thân thiện giữa HS với nhau, điều kiện tốt cho việc hỗ trợ
nhau cùng tiến trong học tập.
- Việc kiểm tra một vấn đề có thể được lặp đi lặp lại nhiều lần.
* Hạn chế:
- Tính khách quan không cao do người tự kiểm tra có thể tự thỏa mãn với câu trả lời hoặc kết
quả mình tìm được hoặc trình độ của người cùng học có hạn.
- Nội dung kiểm tra có độ khó thấp nếu không có sự hỗ trợ, hướng dẫn của HS giỏi hay của
GV.
* Điều kiện đạt kết quả cao:
- Nghiêm khắc với chính mình.
- Tự kiểm tra một vấn đề nhiều lần. Một vấn đề cần được xem xét nhiều mặt qua nhiều câu
hỏi tương ứng.
- Có đủ tài liệu tham khảo.
1.3.5. Thực trạng của việc tự kiểm tra - đánh giá kiến thức kĩ năng hoá học của học sinh
a) Mục đích điều tra: Để nắm rõ được thực trạng của việc tự kiểm tra - đánh giá kiến thức kĩ năng
hoá học của học sinh ở trường THPT hiện nay.
b) Đối tượng và phương pháp điều tra: chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho 249 học sinh ở 4
trường THPT tại Tp.HCM.
Bảng 1.1. Số lượng phiếu tham khảo ý kiến
STT Chương
Số phiếu
Xác định dạng câu hỏi,
bài tập
89 36,93
135 56,02 17 7,05
3
Trình bày bài giải rõ
ràng, ngắn gọn
103 42,74
127 52,70 11 4,56
4
Phân phối thời gian
hợp lý cho từng bài
113 46,89 126 52,28 2 0,83
5 Kiểm tra lời giải 194 80,50 44 18,26 3 1,24
6
Quan sát, giải thích,
kết luận các hiện tượng
thí nghiệm, hiện tượng
xảy ra trong tự nhiên.
159 65,98
80 33,19 2 0,83
7
Viết phương trình hóa
học minh họa tính chất
của một chất.
149 61,83 88 36,51 4 1,66
8
Giải bài tập định lượng
liên quan đến kiến thức
của chương.
định hướng quan trọng của việc đổi mới đánh giá đang được sử dụng trong đổi mới phương pháp
dạy học hiện nay.
1.4. Cơ sở lý luận về việc xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự
luận [2], [39]
1.4.1. Câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
1.4.1.1. Khái niệm
TNKQ là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống những
câu hỏi trắc nghiệm mà hệ thống cho điểm hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào người chấm.
Bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan được chấm điểm bằng cách đếm số câu người làm trắc nghiệm
đã chọn được những câu trả lời đúng.
1.4.1.2. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp kiểm tra TNKQ
a) Ưu điểm
- Có thể kiểm tra được nhiều kiến thức đối với nhiều học sinh trong một thời gian ngắn; đề
thi bao quá được phần lớn nội dung học tập buộc học sinh phải nắm được tất cả các nội dung kiến
thức đã học, tránh được tình trạng học tủ, học lệch và học sinh không thể chuẩn bị tài liệu để quay
cóp.
- Giúp giáo viên tiết kiệm thời gian và công sức chấm bài. Việc tính điểm rõ ràng, cụ thể nên
thể hiện tính khách quan, minh bạch.
- Khuyến khích khả năng phân tích, gây hứng thú và tích cực học tập của học sinh.
b) Hạn chế
- TNKQ chỉ cho biết kết quả suy nghĩ của học sinh mà không cho biết quá trình suy nghĩ,
không cho phép kiểm tra năng lực diễn đạt (viết hoặc dùng lời), tư duy sáng tạo và khả năng lập
luận của học sinh. Vì vậy với cấp học càng cao thì khả năng áp dụng hình thức này cũng bị hạn chế.
- Học sinh có thể chọn đúng ngẫu nhiên.
- Việc soạn thảo các câu hỏi TNKQ tốn thời gian, công sức.
- TNKQ không thể kiểm tra được kỹ năng thực hành thí nghiệm mà chỉ kiểm tra được kiến
thức về kỹ năng thực hành thí nghiệm.
1.4.1.3. Phân loại các dạng TNKQ
Hiện nay, đa số các nhà giáo dục thống nhất chia các câu hỏi TNKQ thành 5 dạng chính sau:
+ Nhận biết các điều sai lầm.
+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau.
+ Định nghĩa các khái niệm.
+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện.
+ Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa 2 hay nhiều vật.
+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện.
+ Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật.
+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm.
* Hạn chế:
- Đối với người soạn: loại câu này khó soạn, tốn thời gian soạn câu hỏi và phải tìm được câu
trả lời đúng nhất, còn các câu nhiễu thì cũng phải hợp lý. Đặc biệt, phải soạn câu hỏi sao cho có thể
đo được các mức nâng cao hơn mức độ biết, nhớ và hiểu. Yêu cầu người soạn phải có độ tính toán
chính xác cao để đưa ra các đáp án nhiễu phải tương đối sát với đáp án đúng, tránh hiện tượng học
sinh không cần tính toán hoặc không cần tư duy nhiều vẫn có thể lựa chọn được đáp án đúng.
- Đối với học sinh: với những học sinh thông minh, có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm ra
những câu trả lời hay hơn đáp án.
- Câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải
quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu TNTL.
- Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi.
* Những lưu ý khi soạn câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi nhiều lựa chọn có thể dùng để thẩm định trí năng ở mức biết, vận dụng, phân tích,
tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn. Vì vậy, khi soạn loại câu hỏi này cần lưu ý lựa
chọn những ý tưởng quan trọng và viết ra những ý tưởng ấy một cách rõ ràng để làm căn bản cho
việc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm.
* Cách thiết kế câu có nhiều lựa chọn:
Cấu tạo của câu gồm:
- Phần dẫn: viết chưa đầy đủ.
Yêu cầu của phần dẫn:
+ Nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn diễn đạt rõ ràng, chính xác. Không nên dùng từ phủ
định, nếu không tránh được thì phải được nhấn mạnh để học sinh không bị nhầm.
* Một số điểm nên tránh khi soạn câu TNKQ có nhiều lựa chọn:
- Trong các phương án chọn có 2 – 3 câu trả lời đúng (mặc dù chưa đù).
- Trong các phương án chọn không có phương án đúng.
- Nội dung trong các câu chọn có chỗ chưa phù hợp với câu dẫn.
- Cần có ít nhất 4 phương án để chọn, không nên chỉ có 2 – 3 phương án.
- Nếu chọn câu sai, phải có in đậm hoặc gạch chân chữ sai.
- Nội dung của các câu nhiễu phải chú ý đến những sai lầm của học sinh khi chưa học kỹ
bài, chưa hiểu khái niệm… hoặc do thiếu cẩn thận trong tính toán. Không nên để câu nhiễu có nội
dung sai quá lộ liễu để học sinh nhận thấy ngay.
- Nếu là câu nhiều lựa chọn có nội dung định lượng, cần chú ý số liệu để nhẩm, tính nhanh
được kết quả, bài toán có cách giải nhanh gọn để đảm bảo tính chất TNKQ. Tránh trường hợp
chuyển nội dung bài toán tự luận hoàn toàn thành câu trắc nghiệm không đảm bảo tính chất giải
nhanh của câu hỏi lựa chọn.
1.4.2. Câu hỏi trắc nghiệm tự luận (TNTL)
1.4.2.1. Khái niệm
- TNTL là phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng việc sử dụng công cụ đo
lường lá các câu hỏi, bài tập. Khi làm bài, học sinh phải tự trả lời bằng các hình thức lập luận (suy
luận, biện luận, lý giải, chứng minh) theo ngôn ngữ của chính mình dưới dạng bài viết trong một
khoảng thời gian đã định trước.
- TNTL không những có thể kiểm tra được kết quả mà còn có thể kiểm tra được quá trình tư
duy của học sinh để đi đến kết quả đó. Trong TNTL, học sinh có thể phát triển được tư duy theo
hướng sáng tạo; giáo viên rút ngắn thời gian ra đề; câu hỏi khai thác được chiều sâu của kiến thức.
Tuy nhiên, TNTL không tránh khỏi được sự chủ quan của người chấm, thang điểm khó có thể
chung cho nhiều cách giải vì còn phụ thuộc rất nhiều vào người chấm. Thời gian chấm bài lâu, chưa
kiểm tra được nhiều câu hỏi trong cùng một thời gian.
Đây là cách kiểm tra truyền thống trong quá trình dạy học.
1.4.2.2. Phân loại
Câu hỏi TNTL gồm các dạng:
a) Câu hỏi tự luận có sự trả lời mở rộng: Loại câu này có phạm vi tương đối rộng và khái
quát. Học sinh được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức trong câu trả lời nên có thể phát huy óc
1.4.3. So sánh 2 loại câu hỏi TNKQ và TNTL
Phương pháp TNKQ và TNTL đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, thể hiện qua
bảng so sánh sau:
Bảng 1.6. So sánh phương pháp TNKQ - TNTL
Đặc điểm TNTL TNKQ
Việc chuẩn bị
câu hỏi
Ít tốn công ra đề Tốn nhiều thời gian soạn thảo đề (yêu
cầu có chuyên môn cao)
Phạm vi
kiến thức
Ít câu hỏi, phạm vi kiến thức sâu Trong một thời gian nhất định trả lời
nhanh nhiều câu hỏi, phạm vi kiến thức
rộng.
Hiệu quả đối với
học tập
- Học sinh dễ học tủ, học lệch.
- Đánh giá được khả năng diễn đạt,
đặc biệt là diễn đạt tư duy hình
tượng, khuyến khích sự suy nghĩ
độc lập, sự sáng tạo của cá nhân.
- Ít mang rủi ro trúng tủ, học lệch.
- Khuyến khích khả năng phân tích và
hiểu đúng ý người khác, khả năng bật
nhanh.
Đánh giá
- Chủ quan trong việc chấm điểm,
độ tin cậy không cao.
- Học sinh tự chủ khi trả lời.
- Khách quan, đơn giản và ổn định, độ
b) Bộ đề kiểm tra cần mang tính khả thi
- Về nội dung đánh giá: nội dung đánh giá phải nằm trong những nội dung đã được quy định
trong chương trình, không quá khó, không lắt léo, có tính thực tiễn.
- Về hình thức đánh giá: các hình thức đánh giá là có thể áp dụng được đối với tất cả các
vùng miền khác nhau.
- Đa dạng hoá nội dung, hình thức câu hỏi và bài tập nhằm đánh giá được những mục tiêu đã
đặt ra cho môn hóa học.
- Bộ đề kiểm tra được xây dựng trên cơ sở khoa học, có khả năng áp dụng có hiệu quả đối
với tất cả học sinh để nhằm xác nhận một trình độ hoặc nhằm điều chỉnh một vấn đề nào đó về nội
dung, phương pháp.
- Khả thi về xử lý kết quả đánh giá: việc xử lý kết quả đánh giá có thể bằng tay hoặc bằng
máy tính nhưng có khả năng áp dụng được, không quá khó hoặc quá phức tạp.
Tuy nhiên, cần xem xét tính khả thi theo hướng phát triển, nếu không dễ bị lạc hậu so với thế
giới.
1.5.2. Quy trình thiết kế bộ đề kiểm tra hóa học
a) Xác định mục tiêu kiểm tra
Cần xác định đánh giá quá trình hay đánh giá tổng kết.
b) Xác định các tiêu chí nội dung cần kiểm tra
Để xây dựng được đề kiểm tra tốt, cần liệt kê chi tiết các mục tiêu giảng dạy cơ bản, trọng
tâm thể hiện ở các hành vi hay năng lực cần phát triển ở học sinh như là kết quả của việc dạy học
(kiến thức, kỹ năng, thái độ) đồng thời với các nội dung kiến thức cụ thể kiểm tra theo chuẩn kiến
thức, kỹ năng cần đạt.
c) Thiết lập ma trận 2 chiều
* Nội dung bảng ma trận
- Một chiều thường là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh giá.
- Một chiều là các mức độ nhận thức của học sinh (biết, hiểu, vận dụng).
(Hiện nay, tồn tại 2 loại bảng ma trận: matrix và rubric)
Trong đó, xây dựng trọng số điểm cho từng nội dung kiến thức và từng mức độ nhận thức
cần kiểm tra.
* Xác định số lượng, hình thức các câu hỏi trong mỗi ô của bảng ma trận (bao nhiêu câu trắc
Chương trình môn Hóa học lớp 12 phần vô cơ gồm có:
- Kim loại kiềm – kim loại kiềm thổ - nhôm
- Crom – sắt – đồng
2.2. Thiết kế đề kiểm tra
2.2.1. Chương Nhóm halogen
2.2.1.1. Các tiêu chí nội dung cần kiểm tra [2]
* Về kiến thức
Biết:
- Cấu tạo nguyên tử của các halogen, số oxi hóa của các halogen trong các hợp chất.
- Tính chất vật lý, tính chất hóa học của các halogen và một số hợp chất quan trọng của
chúng.
- Phương pháp điều chế halogen và một số hợp chất quan trọng của halogen.
Hiểu:
- Vì sao halogen có tính oxi hóa mạnh.
- Nguyên nhân làm cho halogen có sự giống nhau về tính chất hóa học cũng như sự biến đổi
có quy luật, tính chất của đơn chất và hợp chất của chúng.
- Nguyên tắc chung của phương pháp điều chế halogen.
* Về kỹ năng
- Giải thích hiện tượng khi làm thí nghiệm về halogen (tính tan của hidroclorua, tính tẩy màu
của clo ẩm, nhận biết ion clorua…).
- Vận dụng những kiến thức đã học về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, độ âm điện, số oxi
hóa và phản ứng oxi hóa khử để giải thích một số tính chất của đơn chất và hợp chất halogen.
- Giải các bài tập định lượng.
2.2.1.2. Thiết lập ma trận hai chiều
* Nội dung bảng ma trận
- Một chiều là nội dung chính cần đánh giá.
- Một chiều là các mức độ nhận thức của học sinh (biết, hiểu, vận dụng).
* Xác định số lượng, hình thức các câu hỏi trong mỗi ô của bảng ma trận
- Thời gian thực hiện: 45 phút.
+ 2HCl → CaCl
2
+ CO
2
+ H
2
O.
C. 2Al + 6HCl → 2AlCl
3
+ 3H
2
.
D. MnO
2
+ 4HCl → MnCl
2
+ Cl
2
+ 2H
2
O.
2. Axit không được đựng trong các bình thủy tinh là
A. HF. B. HCl.
C. HBr. D. HI.
3. Khi cho dây sắt nóng đỏ vào bình đựng khí clo dư ta thu được sản phẩm là
A. FeCl
2
.
B. FeCl