Đề tài: "Thành lập quỹ bảo
hiểm xã hội thành phần ở
Bảo hiểm xã hội Việt Nam"
thành phần ở Bảo hiểm xã hội Việt nam . Nội dung ngoài phần mở đầu và kết
luận bao gồm ba chơng:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.4
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội và quỹ Bảo hiểm xã
hội
Chơng II: Thực trạng tổ chức quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt nam hiện nay.
Chơng III: Thành lập quỹ Bảo hiểm xã hội thành phần ở Bảo hiểm xã
hội Việt nam.
Việc thành lập quỹ bảo hiểm xã hội thành phần ở Việt nam hiện nay là một
vấn đề lớn và hết sức mới mẻ. Hơn nữa, mặc dù rất tâm huyết với đề tài song do
hạn chế về thời gian cũng nh năng lực, do đó đã không tránh khỏi những thiếu
xót. Em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và
những ai quan tâm đến đề tài.
Để hoàn thành bài luận, em đã đợc sự giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo bảo
hiểm xã hội Tỉnh Sơn La cũng nh tập thể cán bộ công nhân viên tại cơ quan. Em
xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và các cô chú cán bộ công tác tại Bảo hiểm xã
hội tỉnh Sơn La đã giúp em hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn thực tập và
nghiên cứu tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Sơn La.
Cũng qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, TS Nguyễn
Văn Định- trởng bộ môn Kinh tế bảo hiểm, Đại học Kinh tế Quốc dân-Hà nội đã
tận tình hớng dẫn em trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn.
Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều phát sinh ngẫu nhiên
làm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.
Chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm hay khi tuổi
già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ suy giảm khi rơi vào những
trờng hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái
lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới nh: cần đợc
khám chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn thơng tật nặng cần phải có ngời chăm sóc
nuôi dỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con ngời và xã hội loài
ngời phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau nh: San sẻ,
đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; Đi vay, đi xin hay dựa vào sự cứu trợ
của nhà nớc song đó là những cách làm thụ động và không chắc chắn.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.6
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn nhân công trở nên phổ
biến. Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau đã phải cam
kết cả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang
trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn Trong thực tế,
nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi ra một
đồng nào. Nhng cũng có khi sảy ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều
khoản tiền lớn mà họ không mong muốn. Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh,
giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh ngày
càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy Nhà
nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt
làm tăng đợc vai trò của nhà nớc, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải
đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở
xác suất rủi ro sảy ra đối với ngời làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
đối với ngời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng
lao động hoặc mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một nguồn quỹ tiền
tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao dộng và gia đình họ, góp phần
đảm bảo an toàn xã hội.
b, Đối tợng của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất
đi do ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các
nguyên nhân nh ốm đau, tai nạn, già yếu Chính vì vậy, đối tợng của bảo hiểm
xã hội chính là thu nhập của ngời lao động bị biến động giảm hoặc mất đi của
những ngời tham gia bảo hiểm xã hội.
Chúng ta cũng cần phân biệt giữa đối tợng của bảo hiểm xã hội và đối tợng
tham gia bảo hiểm xã hội, ở đây đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội chính là
những ngời lao động đứng trớc nguy cơ mất an toàn về thu nhập và cả những
ngời sử dụng lao động bị ràng buộc trách nhiệm trong quan hệ thuê mớn lao
động.
c, Chức năng của Bảo hiểm xã hội
Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm của ngời lao động tham
gia bảo hiểm xã hội. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra, vì
suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết
tuổi lao động theo các điều kiện quy định của bảo hiểm xã hội. Còn mất việc làm
và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, ngời lao động
cũng sẽ đợc hởng trợ cấp bảo hiểm xã hội với mức hởng phụ thuộc vào các
điều kiện cần thiết. Đây là chức năng cơ bản nhất của bảo hiểm xã hội, nó quyết
định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của bảo hiểm xã hội.
Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia
bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội đợc hình thành từ nhiều nguồn: Ngời lao
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội:
Chúng ta biết rằng bảo hiểm xã hội ra đời do xuất hiện những mâu thuẫn
trong hệ chủ-thợ. Ngời lao động trong quá trình lao động khó có thể tránh đợc
những biến cố, rủi ro, có những trờng hợp rủi ro xảy ra nh là một tất yếu. Khi đó
ngời sử dụng lao động cũng rơi vào tình trạng khó khăn bởi sự gián đoạn trong
sản xuất kinh doanh. Khi nền sản xuất càng phát triển thì những rủi ro trong lao
động càng nhiều và trở lên phức tạp dẫn đến mối quan hệ chủ-thợ ngày càng căng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.9
thẳng và nhà nớc phải đứng ra can thiệp thông qua bảo hiểm xã hội. Do đó, Bảo
hiểm xã hội hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của
mỗi nớc.
Tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian:
Xuất phát từ những rủi ro mang tính ngẫu nhiên không lờng trớc đợc, khó có
thể xác định đợc khi nào thì ngời lao động gặp rủi ro trong lao động và cũng
không phải tất cả những ngời lao động đều gặp rủi ro vào cùng một thời điểm.
Tính chất này thể hiện bản chất của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít.
Bảo hiểm xã hội vừa có tính kinh tế, vừa có tính dịch vụ:
Xét dới góc độ kinh tế, cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động đều
đợc lợi khi không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những ngời lao
động khi họ bị mất hoặc gảm thu nhập. Với nhà nớc, bảo hiểm xã hội góp phần
làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời quỹ bảo hiểm xã hội còn là nguồn
đầu t đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra bảo hiểm xã hội còn mang tính
dịch vụ trong lĩnh vực tài chính bằng các hình thức phân phối và phân phối lại thu
nhập giữa những ngời tham gia bảo hiểm xã hội.
Tính nhân đạo nhân văn cao cả:
9. Trợ cấp mất ngời nuôi dỡng.
ở
từng nớc, tuỳ theo điều kiện có thể thực hiện có thể thực hiện một số chế
độ cơ bản hoặc mở rộng. Tuy nhiên, ILO quy định rằng các thành viên phê chuẩn
công ớc phải thực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ nêu trên, trong đó phải có ít nhất
một trong các chế độ 3, 4, 5, 8 hoặc 9. Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay ở Việt
nam bao gồm:
1.Trợ cấp ốm đau.
2.Trợ cấp thai sản.
1. Trợ cấp tai nạn lao động_ bệnh nghề nghiệp.
2. Trợ cấp hu trí.
3. Trợ cấp tử tuất.
Ngoài ra ở Châu
â
u, các thành viên của cộng đồng châu âu đã ký một đạo
luật gọi là Đạo luật Châu
â
u về bảo hiểm xã hội. Đạo luật này về cơ bản tơng tự
nh công ớc 102 nhng ở mức độ cao hơn và những điều kiện chặt chẽ hơn, phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế và xã hội của các nớc thuộc cộng đồng châu
â
u.
5. Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội
a, Mọi ngời lao động đứng trớc nguy cơ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm đều có quyền tham
gia bảo hiểm xã hội
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
hiểm xã hội là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu
nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới đợc thực hiện. Hơn nữa, nó còn tạo ra
mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham
gia, góp phần tránh những hiện tợng tiêu cực nh lợi dụng chế độ bảo hiểm xã
hội.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.12
d, Phải lấy số đông bù số ít
Bảo hiểm nói chung hoạt động trên cơ sở xác suất rủi ro theo quy luật số lớn,
tức là lấy sự đóng góp của số đông ngời tham gia san xẻ cho số ít ngời không
may gặp rủi ro.
Trong số đông ngời tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội, chỉ những ngời
lao động mới là đối tợng hởng trợ cấp và trong số những ngời lao động lại chỉ
có những ngời bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay tuổi già có đủ các điều
kiện cần thiết mới đợc hởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.
e, Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phơng thức đáp ứng nhu
cầu bảo hiểm xã hội
Việc xác định lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm xã hội thì đã đợc làm
rõ và quyền lợi luôn đi đôi với trách nhiệm, điều đó đòi hỏi phải có một sự cân đối
giữa trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên tham gia, nghĩa là xác định mức đóng
góp của mỗi bên tham gia phù hợp với lợi ích mà họ nhận đợc từ việc tham gia
đó. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho ngời lao động sẽ không đợc thực hiện
nếu nh gánh nặng thuộc về bất cứ bên nào làm triệt tiêu đi lợi ích mà họ đáng
đợc hởng.
f, Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm,
nhng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu
Trong điều kiện bình thờng, ngời lao động làm việc và nhận đợc mức tiền
bớc phát triển mới làm nảy sinh những vấn đề mà hệ thống bảo hiểm xã hội hiện
thời không còn phù hợp thì yêu cầu đặt ra là sự đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội (
Cơ cấu các bộ phận của hệ thống, số lợng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức đóng
phí ) cho phù hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội.
ii. Bảo hiểm xã hội Việt nam trong nền kinh tế thị trờng
1. Giai đoạn 1945- 1959
a, Văn bản pháp quy quy định
Sau Cách mạng tháng 8-1945 Nhà nớc Việt nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
và mặc dù đang phải giải quyết trăm công ngàn việc quan trọng mang tính sống
còn của đất nớc nhng Đảng và Nhà nớc vẫn quan tâm đến công tác bảo hiểm
xã hội đối với công nhân viên chức khi ốm đau, thai sản, TNLĐ, tuổi già và tử
tuất.
Tháng 12-1946 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nớc
dân chủ nhân dân. Trong Hiến pháp có xác định quyền đợc trợ cấp của ngời tàn
tật và ngời già.
Ngày 12-3-1947 Chủ tịch nớc Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29/SL quy định
chế độ trợ cấp cho công nhân.
Ngày 20-5-1950 Hồ chủ tịch ký hai Sắc lệnh số 76, 77 quy định thực hiện
các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hu trí cho cán bộ, công nhân viên
chức.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.14
b, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội
Trong thời kỳ này thực dân pháp lại xâm chiếm Việt nam nên trong hoàn
cảnh kháng chiến gian khổ việc thực hiện bảo hiểm xã hội rất hạn chế ( các loại
trợ cấp đều đợc thực hiện bằng gạo ) tuy nhiên đã thể hiện đợc sự quan tâm rất
lớn của Đảng và Nhà nớc đối với chính sách bảo hiểm xã hội đánh dấu thời kỳ
15
BHXH còn rất hạn hẹp ( mới chỉ thực hiện đợc với công nhân viên chức nhà
nớc) và nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện trợ cấp các chế độ BHXH là do
NSNN bảo đảm.
3. Giai đoạn 1995 đến nay
a, Văn bản pháp quy quy định
- Để thực hiện BHXH đối với ngời làm công ăn lơng và phát triển các hình
thức BHXH khác, ngay 23-6-1994 Quốc hội đã thông qua Bộ luật lao động trong
đó có một chơng quy định về BHXH .
- Ngày 26-01-1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP kèm theo Điều
lệ Bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức và ngời lao động.
- Ngày 15-7-1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 45/CP kèm theo Điều lệ
Bảo hiểm xã hội đối với quân nhân trong lực lợng vũ trang.
Nội dung cơ bản của những văn bản pháp quy này:
1, Từng bớc mở rộng đối tợng tham gia BHXH bằng hình thức kết hợp bắt
buộc và tự nguyện đối với ngời lao động trong mọi thành phần kinh tế.
2, Hệ thống các chế độ trợ cấp BHXH gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-
bệnh nghề nghiệp, hu trí và tử tuất.
3, Hình thành quỹ BHXH độc lập, nằm ngoài NSNN. Quỹ BHXH hình thành
chủ yếu từ 3 nguồn: Nhà nớc, ngời lao động và ngời sử dụng lao động.
4, Hình thành cơ quan chuyên trách về BHXH là Bảo hiểm xã hội Việt nam.
b, Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm xã hội đã đợc tổ chức và thực hiện phù hợp với điều kiện nền
kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng Xã hội chủ
nghĩa.
- Thực hiện sự công bằng về quyền đợc BHXH của mọi ngời lao động.
- Thực hiện quan hệ giữa nghĩa vụ đóng góp và hởng trợ cấp BHXH.
- Thực hiện cơ chế quản lý thực hiện pháp luật BHXH chuyên trách.
Quỹ bảo hiểm xã hội đợc thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng
trởng theo quy định của chính phủ .
Tính tích luỹ.
Quỹ BHXH là của để dành của ngời lao động phòng khi ốm đau, tuổi
già và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của ngời lao động.
Trong quỹ BHXH luôn tồn tại một lợng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm
hiện tại để chi trả trong tơng lai, khi ngời lao động có đủ các điều kiện cần thiết
để đợc hởng trợ cấp ( chẳng hạn nh về thời gian và mức độ đóng góp BHXH ).
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.17
Số lợng tiền trong quỹ có thể đợc tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên
tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trởng quỹ.
Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để
chi trả trợ cấp cho ngời lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất
hay giảm thhu nhập. Do đó, ngời lao động là đối tợng đóng góp đồng thời cũng
là đối tợng nhận trợ cấp. Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi
ngời sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng nh
mức độ đóng góp và thời gian tham gia BHXH.
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có
đóng- có hởng, đóng ít- hởng ít, đóng nhiều- hởng nhiều nhng nh vậy không
có nghĩa là những ngời có mức đóng góp nh nhau sẽ chắc chắn đọc hởng một
khoản trợ cấp nh nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhng có ngời đợc
hởng nhiều lần, có ngời đợc hởng ít lần ( với chế độ ốm đau), thậm trí không
đợc hởng (chế độ thai sản).
2. Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội
Nhiệm vụ của các nhà làm công tác BHXH là phải thành lập nên quỹ BHXH
hiểm xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ quản lý nhà nớc
Thông thờng, khi mới thực hiện BHXH các nớc thành lập một quỹ chung nhất
cho mọi ngời lao động do: Trình độ tổ chức và quản lý còn hạn chế, đối tợng
BHXH còn hạn hẹp và các chế độ bảo hiểm xã hội còn ít ( một vài chế độ ).
Nhng khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, trình độ quản lý đợc
nâng cao, đối tợng tham gia ngày càng lớn thì xuất hiện những bất cập mà đòi
hỏi phải thành lập ra các quỹ BHXH thành phần.
ở
Việt nam, nên chăng chúng ta cũng thành lập ra các quỹ BHXH thành phần
và thành lập theo cách nào là tốt nhất. Việc thành lập theo cách tiếp cận thứ hai và
thứ ba đối với Việt nam trong điều kiện hiện nay dờng nh không thích hợp vì
nh thế sẽ đẫn tới tình trạng quá phân tán nguồn đóng góp của các đối tợng tham
gia bảo hiểm xã hội ( theo cách tiếp cận thứ hai chúng ta phải thành lập ra 5 quỹ
BHXH tơng ứng với 5 chế độ BHXH hiện hành và theo cách tiếp cận thứ ba thì ít
nhất cũng phải thành lập ra không dới 5 quỹ BHXH). Trong điều kiện hiện nay,
chúng ta nên thành lập ra các quỹ BHXH thành phần theo cách tiếp cận thứ nhất là
hợp lý hơn cả và những lý do sẽ đợc trình bày ở phần sau.
3. Tạo nguồn
a, Đối tợng tham gia và đóng góp.
Những câu hỏi cơ bản nhất liên quan đến tài chính BHXH là: Ai đóng góp,
đóng góp bao nhiêu và dựa trên cơ sở nào. Nói chung, các nguồn kinh phí của một
hệ thống BHXH có thể liệt kê nh sau: Sự tham gia của Nhà nớc, sự tham gia của
chính quyền các cấp ( chính quyền tỉnh và địa phơng ); những khoản thuế đã
đợc nhắm trớc hoặc phân bổ cho BHXH; Đóng góp của ngời tham gia bảo
hiểm xã hội, của chủ sử dụng lao động; Thu nhập từ đầu t và các khoản thu nhập
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.19
thu nhập của họ và khi đó mức hởng cũng sẽ là một khoản đợc ấn định trớc.
Đóng góp gắn với thu nhập:
Theo phơng thức này, mức đóng góp sẽ gắn với thu nhập của từng cá nhân
và đợc ấn định bằng cách sử dụng cách tính phần trăm đơn giản so với thu nhập,
khi hởng trợ cấp thì mức trợ cấp cũng đợc căn cứ vào mức thu nhập khi còn làm
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.20
việc của ngời lao động. Phơng thức này đợc áp dụng phổ biến nhất trên thế
giới.
Đóng góp theo nhóm tiền công:
Trong từng nhóm tiền công có các mức tiền công và đối với mỗi mức tiền
công sẽ có một mức đóng góp tơng ứng theo mức độ luỹ tiến. Nhóm tiền công
cũng có thể đợc sử dụng nh là một công cụ thúc đẩy việc phân phối lại nguồn
quỹ giữa các thành viên.
Đóng góp theo tỷ lệ đặc biệt:
Một số nớc dựa vào mức đóng góp theo một tỷ lệ đặc biệt dựa vào sự khác
biệt giữa các công việc của ngời lao động. Chẳng hạn trong chế độ bảo hiểm tai
nạn lao động, tỷ lệ đóng góp thay đổi tuỳ theo ngành công nghiệp và mức độ rủi ro
của mỗi ngành nghề.
c, Xác định mức đóng góp.
Nói chung, xác định mức đóng góp BHXH dựa trên một cơ chế tài chính là
cân đối giữa thu và chi. Có thể xác định mức đóng góp và, trên cơ sở đó xác định
mức hởng hoặc cũng có thể xác định mức hởng trớc rồi xác định mức đóng
góp. Cho dù thực hiện theo cách nào thì vẫn phải đảm bảo sự cân đối giữa tổng số
tiền hình thành quỹvà tổng số tiền đợc chi ra từ quỹ.
Hệ thống trợ cấp xác định và hệ thống đóng góp xác định :
- Hệ thống đóng góp xác định : Hệ thống này xác định ngời lao động nên
- Phải cân bằng Thu - Chi.
- Lấy số đông bù số ít.
- Có dự phòng.
Khoản tiền đóng góp của những ngời tham gia BHXH cho quỹ BHXH đợc
gọi là phí BHXH :
Ptp = Ptt + Phc + Pdp
Trong đó: Ptp: phí toàn phần.
Ptt: phí thuần tuý.
Phc: chi phí hành chính.
Pdp: phần an toàn.
Phí thuần tuý đợc dùng để chi trả trợ cấp các chế độ BHXH và đó là phần
mà những ngời lao động tham gia BHXH sẽ đợc nhận khi họ có đủ các điều
kiện hởng trợ cấp. Đây là phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quỹ BHXH việc xác
định phí thuần tuý liên quan trực tiếp đến mức trợ cấp BHXH. Thông thờng, mức
trợ cấp càng cao thì phí thuần tuý cũng đợc tăng lên và ngợc lại, tuy nhiên điều
này cũng không phải luôn đúng khi số lợng những đóng góp vào quỹ là lớn và chỉ
có số ít những ngời hởng trợ cấp.
Chi phí hành chính đợc dùng để trang trải cho các hoạt động sự nghiệp.
Những ngời thực hiện BHXH suy cho cùng họ không thể uống nớc lã mà sống (
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.22
thậm chí nớc lã cũng mất tiền ) và thêm vào đó là các khoản chi phí để xây dựng
cơ sở vật chất, hạ tầng Nguồn tài chính tài trợ cho các chi phí này là từ quỹ
BHXH. Chi phí hành chính bị ảnh hởng bởi cả thời gian thành lập và độ lớn của
tổ chức BHXH. Các tổ chức BHXH mới thành lập thờng có chi phí hành chính
cao hơn bởi những hệ thống này còn đang trong giai đoạn học hỏi để hoạt động có
hiệu quả. Những hệ thống BHXH nhỏ có chi phí hành chính cao hơn gắn với mức
a, Điều kiện hởng trợ cấp
Nh đã nêu, không phải tất cả những ngời tham gia đều đợc nhận trợ cấp và
không phải ai cũng nhận đợc một khoản trợ cấp nh nhau mà chỉ khi họ thực sự
bị mất hay giảm thu nhập. Nghĩa là họ gặp phải các rủi ro trong quá trình lao động
và trong cuộc sống. Các rủi ro này có thể là:
- Theo nguyên nhân:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.23
+ Những rủi ro thể chất: Làm giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do
những nguyên nhân nghề ngiệp nh bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hoặc
không do nguyên nhân nghề nghiệp nh ốm đau, sinh đẻ, tuổi già làm cho sức
lao động của đối tợng bị giảm sút hoặc mất hẳn.
+ Rủi ro kinh tế: Loại rủi ro này cũng làm giảm hoặc mất thu nhập do sức lao
động không đợc sử dụng. Đó là trờng hợp thất nghiệp.
+ Làm giảm mức sống vì những chi tiết bất thờng: Đây là loại rủi ro liên quan
đến sử dụng thu nhập. Thu nhập của ngời lao động trong các trờng hợp này
không phải do giảm hay mất đi mà do phải sử dụng thu nhập để chi cho các khoản
chi bất thờng nh chi phí thuốc men, chữa bệnh hoặc các đảm phụ gia đình.
- Theo hậu quả:
Về biểu hiện, có nhiều loại rủi ro khác nhau nhng đều có hậu quả là đe doạ
sự an toàn về kinh tế của ngời lao động cũng nh gia đình họ. Những rủi ro này
cũng bao gồm cả rủi ro về thể chất và rủi ro về kinh tế.
Tuy nhiên, không phải tất cả những rủi ro nêu trên đều thuộc đối tợng của
BHXH (chẳng hạn nh tai nạn chiến tranh, ). Ngay cả những rủi ro đợc gọi là
đối tợng của BHXH không phải lúc nào cũng đợc bảo hộ, đợc đền bù. Trong
lịch sử phát triển của mình, ban đầu các trờng hợp đợc BHXH là những rủi ro
liên quan đến quá trình lao động của ngời làm công ăn lơng nh ốm đau, tai nạn
những rủi ro xảy ra, mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau dẫn tới việc
giảm thu nhập khác nhau. Do đó, mức trợ cấp BHXH phải căn cứ vào mức suy
giảm thu nhập để có thể bù đắp một cách hợp lý. Tuy nhiên đối với cả một tập hợp
ngời lao động với những mức độ suy giảm khả năng lao động khác nhau và do đó
mức suy giảm thu nhập khác nhau thì cần phải tính toán những thiếu hụt có tính
xã hội chung, có khả năng đại diện cho mọi ngời lao động trong các trờng hợp
cụ thể.
Những chi phí cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu của ngời lao động:
Đó là các khoản chi phí để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu nh: nhu cầu ăn, ở,
mặc, đi lại, nhu cầu chữa bệnh, nhu cầu học tập Đây là những khoản chi phí cần
thiết khách quan và phải tuỳ thuộc vào khả năng của nền kinh tế quốc dân cũng
nh khả năng tài chính của cơ quan BHXH mà có thể xác định những chi phí cần
thiết đó, đáp ứng mức độ nhất định nhu cầu đòi hỏi.
Mức và thời gian đóng BHXH: Mối liên hệ giữa mức đóng và mức hởng
liên quan chặt chẽ với nhau, và mặc dù những chi phí nh đã nêu trên là khách
quan và chính đáng nhng khả năng đáp ứng nhu cầu đó lại phụ thuộc rất nhiều
vào lợng vất chất (tiền) của quỹ BHXH. Quỹ này lại đợc tạo ra từ sự đóng góp
của các đối tợng tham gia. Để thực hiện sự tơng đơng giữa đóng và hởng
BHXH, các mức trợ cấp và thời hạn hởng trợ cấp phải căn cứ vào mức và thời
gian đóng phí BHXH của ngời lao động và, về nguyên tắc, ai đóng cao hơn và lâu
hơn sẽ đợc hởng mức trợ cấp cao hơn và dài hơn.
Theo công ớc 102 của ILO: khoản trợ cấp BHXH cho thai sản không thể
thấp hơn 2/3 thu nhập trớc khi sinh và khuyến cáo các nớc nên tăng mức trợ cấp
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.25
thai sản bằng 100% mức thu nhập trớc khi sinh; Mức hởng trợ cấp ốm đau bằng
45% mức lơng (tuy nhiên đa số các nớc quy định trợ cấp ốm đau bằng 50-70%
hội có hiệu quả hơn ? Chúng ta thử so sánh hai hình thức này thông qua việc lập
quỹ hu trí:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.26
Bảng 02: Quản lý Nhà nớc và t nhân các hình thức quỹ BHXH.
Quản lý nhà nớc Quản lý t nhân An toàn
thu nhập
khi nghỉ
hu
- Các quỹ có thể liên quan tới việc
tái phân phối.
- Các quỹ thờng đợc đầu t vào
trái phiếu chính phủ mà ở nhiều
nớc đang phát triển cho lợi
nhuận thấp hoặc âm, ngay cả các
nớc đã phát triển trái phiếu cũng
sụt giá do lạm phát
- Ngay cả khi đầu t vào tài sản
thì cũng chỉ trong nền kinh tế nội
địa, do đó thu nhập phụ thuộc vào
hoạt động của nền kinh tế nội địa.
- Do tính động lực thấp, hay yếu
tố chính trị nên các khoản mục
tăng lên do lãi thấp từ các khoản
đầu t tồi từ quỹ.
- Tính phi kinh tế bởi quy mô
trong quản lý tài sản dẫn đến sự
không có khả năng trong việc dịch
chuyển đầu t.
- Đầu t có hiệu quả sẽ giảm chi phí do
tăng lãi ở mức rủi ro nhất định.
- Lợng quỹ có thể phi kinh tế do nhỏ,
chi phí quản lý có thể cao.
- Chi phí marketing của lơng hu cá
nhân cao.
- Cơ cấu quản lý phức tạp hơn do yêu
cầu của quản lý tài sản t nhân .
Các
nớc áp
dụng
Thuỵ Điển, Malayxia, Singapore. Anh, Mỹ, Hà Lan.
Nguồn: Ngân hàng tái thiết và phát triển Châu âu.
Theo cách tiếp cận này, chúng ta thấy quản lý t nhân và quản lý nhà nớc
đều có những u và nhợc điểm riêng. Xét về khía cạnh kinh tế, quản lý t nhân sẽ
có hiệu quả hơn do khả năng tham gia vào thị trờng trong hoạt động đầu t. Thế
nhng, BHXH lại là một chính sách xã hội và do đó, quản lý nhà nớc các hình
thức quỹ BHXH sẽ có hiệu quả hơn trong việc bảo đảm đời sống ngời lao động
cũng nh ổn định tình hình kinh tế- chính trị và xã hội của đất nớc.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.