Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
MỤC LỤC
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
1
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chú giải
NVL Nguyên vật liệu
CP Cổ phần
TCT Tổng công ty
DN Doanh nghiệp
XM Xi măng
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Số hiệu bảng biểu,
sơ đồ
Tên bảng biểu, sơ đồ
Sơ đồ 01 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán
Sơ đồ 02 Sơ đồ hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song
Biểu 01 Tờ trình mua vật tư
Biểu 02 Bảng đề nghị mức giá mua vật tư, hàng hoá
Biểu 03 Hoá đơn GTGT mua Đá bazan
Biểu 04 Giấy chứng nhận phụ gia khoáng
Biểu 05 Biên bản kiểm nghiệm nhập kho đá bazan
Biểu 06 Phiếu nhập kho đá bazan
Biểu 07 Hoá đơn GTGT mua Thạch cao
Biểu 08 Biên bản kiểm nghiệm thạch cao
Biểu 09 Phiếu nhập kho Thạch cao
Biểu 10 Phiếu xuất kho NVL chính
Biểu 11 Bảng tổng hợp Nhập-xuất-tồn
Biểu 12 Thẻ chi tiết vật tư
Biểu 13 Bảng đề nghị thanh toán tiền mua vật tư
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi
nhuận cho Công ty.
Với tầm quan trọng trên của công tác kế toán nguyên vật liệu và trong
thời gian thực tập tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn, em nhận thấy công tác kế
toán nguyên vật liệu của công ty luôn được coi trọng. Các nhà quản lý luôn cố
gắng tìm các biện pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác kế toán về NVL.
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
3
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Xuất phát từ lý luận về vai trò của công tác kế toán nguyên vật liệu, và
từ thực tế thực trạng công tác này tại Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn, với sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo – GVCC Phan Quang Niệm và của các cô
chú trong phòng KT – TK – TC đã giúp em hoàn thành tốt khoá luận tốt
nghiệp, và em xin chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công
ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Nội
dung của Khoá luận tốt nghiệp này bao gồm 3 phần:
Phần I: Cơ sở lí luận về kế toán nguyên vật liệu
Phần II: Thực trạng công tác kế toán Nguyên vật liệu ở Công ty CP Xi
măng Bỉm Sơn
Phần III: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế
toán nguyên vật liệu tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
4
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
PHẦN I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu và nhiệm vụ hạch toán
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu
Một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là đối tượng
doanh, chi phí NVL là một bộ phận của giá thành sản phẩm. Từ đó doanh
nghiệp có thể xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ của doanh nghiệp.
• NVL là một loại hàng tồn kho được dự trữ để đáp ứng cho nhu cầu của
quá trình sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp. NVL là thành phần thuộc về
vốn lưu động. Giá trị NVL trong kho cuối niên độ không chỉ là giá trị được
thể hiện trên báo cáo TC nà còn là chỉ tiêu để đánh giá khả năng hoạt động
của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu “Vòng quay vốn lưu động”. Nếu quá
trình thu mua, dự trữ và xuất dựng NVL được phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả
sẽ làm tăng nhanh vòng quay của vốn.
1.1.2.Yêu cầu quản lý NVL trong các doanh nghiệp
NVL là một yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất – kinh
doanh ở các doanh nghiệp. Giá trị NVL thường chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng chi phí sản xuất – kinh doanh, vì vậy, quản lý tốt khâu thu mua, dự trữ
và sử dụng vật liệu là điều kiện để bảo đảm chất lượng sản phẩm, tiết kiệm
chi phí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nhiệm vụ chủ yếu
ở từng khâu như sau:
- Khâu thu mua: Cần lập kế hoạch thu mua để bảo đảm doanh
nghiệp luôn có nguồn cung cấp NVL với số lượng lớn, chất lượng tốt và giá
cả ổn định hợp lý. Quản lý tốt quá trình vận chuyển NVL chống thất thoát,
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
6
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
hao hụt, giảm chất lượng trong quá trình vận chuyển. Đồng thời quan tâm đến
chi phí thu mua nhằm hạ thấp chi phí NVL một cách tối đa.
- Khâu bảo quản: Điều kiện cần thiết giúp cho việc bảo quản tốt
NVL ở doanh nghiêp là phải có hệ thống kho hàng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật,
nhân viên thủ kho có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt. Ngoài
ra, việc bảo quản đảm bảo đúng chế độ quy định phù hợp với tính chất lý hoá
của mỗi loại.
- Khâu dự trữ: Các doanh nghiệp cần xây dựng định mức dự trữ hợp
chính của Doanh nghiệp.
Để bảo quản tốt NVL dự trữ, giảm thiểu hư hao, mất mát, các doanh
nghiệp phải xây dựng hệ thống kho hàng, bến bãi đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, bố
trí thủ kho có đủ phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn để quản lý NVL
tồn kho và thực hiện các nghiệp vụ nhập, xuất kho, tránh việc kiêm nhiệm
chức năng thủ kho với tiếp liệu và kế toán vật tư.
1.1.3. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán NVL trong các doanh nghiệp
Để có thông tin cho công tác quản lý NVL lãnh đạo doanh nghiệp có
nhiều nguồn tin khác nhau để khai thác như thông tin về giá thị trường, thông
tin từ nhà phân phối… Tuy nhiên thông tin do kế toán vật tư cung cấp là
thông tin quan trọng nhất. Thông tin đó được thể hiện ở các mặt sau:
- Cung cấp thông tin cần thiết để quản trị mua hàng, quản trị hàng
tồn kho, công nợ với người bán. Kế toán vật tư cung cấp thông tin về số
lượng, giá trị của NVL nhập, xuất kho của từng kho, từng đơn vị, cung cấp
thông tin về trả khoản phải trả…
- Cung cấp thông tin cần thiết để ghi các chỉ tiêu lên các báo cáo tài
chính liên quan đến hàng tồn kho, các khoản phải trả…
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
8
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Để cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác thông tin cho công tác quản lý
NVL trong các doanh nghiệp, kế toán NVL phải thực hiện được các nhiệm vụ
chủ yếu sau:
- Ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời số lượng,
chất lượng và giá thành thực tế của NVL nhập kho.
- Tập hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời số lượng và giá trị
NVL xuất kho, kiểm tra tình hình chấp hành các định mức tiêu hao của từng
loại.
- Phân bổ hợp lý giá trị NVL sử dụng vào các đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất – kinh doanh.
VLP, tuy nhiên có được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu
dùng nhiên liệu chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Nhiên liệu cũng có yêu cầu và kỹ thuật quản lý hoàn toàn
khác với các loại VLP thông thường
- Phụ tùng thay thế là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa,
bảo dưỡng TSCĐ.
- Thiết bị và vật liệu XDCB là các loại thiết bị, vật liệu phục vụ cho hoạt
động xây lắp, XDCB.
- Vật liệu khác là các loại vật liệu đặc chủng của từng doanh nghiệp hoặc
phế liệu thu hồi.
Căn cứ vào nguồn hình thành NVL của doanh nghiệp thì NVL được
chia thành các loại sau:
- NVL nhập kho do mua ngoài
- NVL do nhận góp vốn kinh doanh
- NVL nhập kho do thuê gia công chế biến
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
10
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
- NVL do biếu tặng, tài trợ
- NVL do tự chế, tự sản xuất
Trong hai cách phân loại trên thì cách phân loại thứ nhất căn cứ vào nội
dung kinh tế, vai trò và tác dụng của NVL được sử dụng rộng rãi và thông
dụng hơn. Hạch toán theo cách phân loại nói trên đáp ứng được yêu cầu phản
ánh tổng quát về mặt giá trị đối với mỗi loại NVL. Để đảm bảo thuận tiện,
tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý và hạch toán về số lượng và giá trị đối
với từng thứ NVL, trên cơ sở phân loại theo vai trò và công dụng của NVL,
các doanh nghiệp phải tiếp tục chi tiết và hình thành nên “Sổ danh điểm vật
liệu”. Sổ này xác định thống nhất tên gọi, ký mã hiệu, quy cách, số hiệu, đơn
vị tính, giá hạch toán của từng danh điểm NVL.
1.2.2. Tính giá NVL nhập kho
+ Đối với những doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ thỡ thuế GTGT không được tính vào giá thực tế của NVL.
+ Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì
thuế GTGT được tính vào giá thực tế của NVL.
- Chi phí thu mua: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong định
mức… (cũng được xác định trên cơ sở phương pháp tính thuế GTGT mà
doanh nghiệp lựa chọn)
♦ Đối với NVL gia công chế biến xong nhập kho thì thực tế bao gồm giá
xuất và chi phí gia công chế biến, chi phí vận chuyển, bốc dỡ…
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
12
Giá thực tế của
NVL mua ngoài
=
Giá
mua
Chi phí
thu mua
+
CK thương
mại, giảm giá
+ -
Thuế (không
hoàn lại)
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
♦ Đối với NVL nhận vốn góp liên doanh hoặc cổ phần thì giá thực tế của
NVL là giá trị được các bên tham gia góp vốn thừa nhận.
♦ Đối với NVL vay mượn tạm thời của đơn vị khác, thì giá thực tế nhập
kho được tính theo giá thị trường hiện tại của số NVL đó.
♦ Đối với phế liệu thu hồi từ quá trình từ quá trình sản xuất – kinh doanh
được áp dụng được phương pháp này, thì điều kiện cốt yếu là hệ thống kho
tàng của doanh nghiệp cho phép bảo quản riêng từng lô nhập kho. Có thể nói
đây là phương pháp lý tưởng, giá trị vật tư được phản ánh theo giá trị thực tế
của nó, đồng thời phương pháp này tuân thủ theo nguyên tắc phù hợp của
hạch toán kế toán là chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế.
♦ Nhược điểm: Phương pháp này đòi hỏi những điều kiện áp
dụng rất khắt khe trong việc quản lý và phân lô sản phẩm. Chính vì thế mà
doanh nghiệp rất khó có thể áp dụng phương pháp này nếu như không có bộ
máy quản lý tốt.
Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có ít
chủng loại NVL, giá trị của mỗi loại lớn, dễ phân biệt giữa các chủng loại với
nhau.
Phương pháp nhập trước - xuất trước
♦ Đặc điểm: NVL được tính giá thực tế xuất kho trên cơ sở giả
định là lô NVL nào nhập vào kho trước sẽ được xuất dùng trước, vì vậy lượng
NVL xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính giá thực tế của lần nhập đó. Nói
cách khác, giá thực tế của số hàng nhập trước sẽ dùng làm giá để tính giá thực
tế của số hàng xuất trước và vì thế giá thực tế của số vật tư tồn cuối kỳ sẽ là
giá thực tế của số hàng mua vào sau.
♦ Ưu điểm: Phương pháp này là nó gần đúng với luồng tiền xuất
nhập hàng trong thực tế. Trong trường hợp vật tư được quản lý theo đúng
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
14
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
hình thức nhập trước - xuất trước thì phương pháp này gần giống như phương
pháp giá thực tế đích danh. Do đó sẽ phản ánh tương đối chính xác giá trị của
vật tư xuất kho. Hơn nữa, giá trị vật tư còn lại cuối kỳ là giá trị hàng mua vào
sau nên nó được phản ánh gần đúng với giá trị thị trường. Phương pháp này
thích hợp với điều kiện hàng tồn kho luân chuyển nhanh.
♦ Nhược điểm: Phương pháp nhập trước - xuất trước là phải tính
giảm chi phí quản lý NVL.
Phương pháp này dẫn đến thu nhập thuần của doanh nghiệp giảm trong
điều kiện lạm phát. Các nhà quản lý trong doanh nghiệp dường như thích trên
Báo cáo tài chính phản ánh lợi nhuận sau thuế cao hơn là chi phí thuế thu
nhập doanh nghiệp ít đi. Một nhược điểm khác đó là giá trị NVL, trên Bảng
cân đối kế toán có thể bị phản ánh thấp đi so với giá trị thực tế của nó. Vì theo
phương pháp này giá trị hàng tồn kho sẽ bao gồm vật tư được nhập về đầu
tiên với giá thấp hơn so với giá hiện thời. Điều này làm cho vốn lưu động của
doanh nghiệp thấp hơn giá thực tế HTK.
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại
NVL, số lần nhập ít, vật tư không có thời hạn bảo quản
Phương pháp thực tế bình quân gia quyền:
♦ Đặc điểm: Theo phương pháp này, căn cứ vào giá thực tế của
NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán xác định được giá được gía bình
quân của một đơn vị NVL. Căn cứ vào lượng NVL xuất trong kỳ và giá đơn
vị bỡnh quừn để xác định giá thực tế xuất trong kỳ.
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm
NVL nhưng số lần nhập - xuất của mỗi danh điểm nhiều.
Theo nguyên tắc trên ta có công thức:
Giá thực tế của NVL xuất kho = Giá bình quân 1 đơn vị NVL × Lượng
NVL xuất kho.
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
16
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Trong đó Đơn giá bình quân 1 đơn vị NVL được tính theo công thức :
♦ Ưu điểm: Phương pháp Giá đơn vị cả kỳ dự trữ có ưu điểm là
giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết NVL so với phương pháp Nhập trước -
xuất trước và Nhập sau - xuất trước, không phụ thuộc vào số lần nhập, xuất
của từng danh điểm NVL.
♦ Nhược điểm: Dồn công việc tính giá NVL, xuất kho vào cuối
nhiều.
Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước
♦ Đặc điểm: Theo phương pháp này, kế toán xác định giá đơn vị
bình quân dựa trên giá thực tế và lượng NVL, tồn kho cuối kỳ trước. Dựa vào
giá đơn vị bình quân nói trên và lượng NVL, xuất kho trong kỳ để kế toán xác
định giá thực tế NVL xuất kho theo từng danh điểm.
♦ Ưu điểm: Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính
toán của kế toán.
♦Nhược điểm: Trong phương pháp này, độ chính xác của công
việc tính toán phụ thuộc vào tình hình biến động giá cả NVL, trường hợp giá
cả thị trường NVL có sự biến động lớn thì việc tính giá NVL xuất kho theo
phương pháp này trở nên thiếu chính xác và có trường hợp gây ra bất hợp lý .
Phương pháp trị giá hàng tồn cuối kỳ
♦ Đặc điểm: Với các phương pháp trên, để tính giá thực tế của
NVL xuất kho đòi hỏi kế toán phải xác định được số lượng xuất kho căn cứ
vào các chứng từ xuất. Tuy nhiên, trong thực tế có những doanh nghiệp có
nhiều chủng loại NVL với mẫu mã khác nhau, giá trị thấp, lại được xuất dùng
thường xuyên thì sẽ không có điều kiện để kiểm kê từng nghiệp vụ xuất kho.
Trong điều kiện đó, doanh nghiệp phải tính giá cho số lượng NVL tồn kho kỳ
trước, sau đó mới xác định được giá thực tế của NVL xuất kho trong kỳ:
Gtt NVL tồn cuối kỳ = SL tồn kho cuối kỳ × Đơn giá NVL nhập lần cuối
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
18
Gtt NVL
xuất kho
=
Gtt NVL
nhập kho
+
Gtt NVL tồn
Hệ số giá
Gtt NVL tồn kho đầu kỳ + Gtt NVL nhập trong kỳ
Ght NVL tồn kho đầu kỳ + Ght NVL nhập kho trong kỳ
=
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
trường hợp để đơn giản doanh nghiệp thường tính hệ số giá chung cho nhiều
chủng loại vật tư thuộc cùng nhóm, loại vật tư. Trong khi đó, giá thực ttế bình
quân cả kỳ dự trữ thường tính riêng cho từng chủng loại vật tư.
Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết và
hạch toán tổng hợp về NVL trong công tác tính giá, nên công việc tính giá
được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm
NVL, số lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay ít.
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều chủng loại
NVL và đội ngũ kế toán có trình độ chuyên môn cao.
1.3.Tổ chức lập và luân chuyển chứng từ nhập, xuất kho NVL
1.3.1 Chứng từ sử dụng
Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo Quyết định số
15/2006/QĐ/-BTC ngày 20/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các chứng từ
về vật tư bao gồm:
- Phiếu nhập kho (mẫu 01-VT)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT)
- Biên bản kiểm nghiệm (mẫu 03-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư sản phẩm, hàng hoá (mẫu 05-VT)
- Hoá đơn GTGT (mẫu 01-GTKT-3LL)
Mỗi chứng từ kế toán NVL phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự
và thời gian hợp lý phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu
kịp thời của các bộ phận.
1.3.2. Tổ chức lập và luân chuyển chứng từ
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
20
5. Lập phiếu NK 5 5
6. Nhập kho 6
7. Ghi thẻ kho 7
8. Ghi sổ kế toán 8
9. Lưu chứng từ 9
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
21
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Quy trình lập phiếu nhập kho NVL
Giải thích:
1. Người giao hàng đề nghị nhập kho vật tư
2. Ban kiểm nghiệm: kiểm nghiệm số lượng, chất lượng, quy cách
3. Bộ phận cung ứng lập phiếu nhập kho
4. Phụ trách phòng kí phiếu nhập kho sau đó phiếu nhập kho được
chuyển cho thủ kho
5. Thủ kho nhập kho số hàng, ghi số thực nhập, ký vào phiếu nhập kho
sau đó tiến hành ghi thẻ kho và chuyển phiếu nhập kho cho kế toán.
6. Kế toán hàng tồn kho sau khi nhận chứng từ tiến hành kiểm tra chứng
từ và thực hiện ghi sổ tổng hợp và chi tiết, sau đó bảo quản và lưu trữ.
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
Người
giao
hàng
Ban
kiểm
nghiệm
Bộ
phận
cung
ứng
Người
giao
hàng
Ban
kiểm
nghiệm
Bộ
phận
cung
ứng
Phụ
trỏch
phũng
Thủ
kho
Kế
toỏn
HTK
Đề nghị
nhập
kho
Lập BB
kiểm
nghiệm
Lập
phiếu
nhập
kho
Ký
phiếu
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
Bộ
phận có
nhu cầu
sử dụng
Thủ
trưởng
KTT
Bộ
phận
cung
ứng
Thủ
kho
Kế
toán
Lập ctừ
xin xuất
Duyệt
lệch
xuất
Lập
phiếu
xuất
kho
Xuất
kho
Ghi sổ
Lưu
NV
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
24
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho và ghi vào thẻ kho, định kỳ thủ kho chuyển
các chứng từ nhập - xuất đó được phân loại cho phòng kế toán
♦ Tại phòng kế toán
Hàng ngày hoặc định kỳ kế toán xuống kho để lấy chứng từ nhập - xuất
kho. Kế toán phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi căn cứ vào
đó ghi vào sổ thẻ chi tiết NVL theo chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu giá trị cho
từng loại NVL nhập xuất kho. Mẫu sổ, thẻ kế toán chi tiết tương tự như thẻ
kho nhưng có thêm cột thành tiền.
Cuối tháng, căn cứ vào số liệu trên sổ, thẻ kế toán chi tiết vật tư để lập
bảng kê nhập - xuất - tồn kho NVL để lập bảng kê nhập - xuất - tồn kho mỗi
loại vật tư.
Việc đối chiếu số liệu số lượng giữa phòng kế toán với thủ kho thông qua
đối chiếu số liệu tương ứng giữa thẻ kho với sổ, thẻ chi tiết vật tư và đối chiếu
số lượng từng lần nhập - xuất. Việc đối chiếu số liệu giữa kế toán tổng hợp và
kế toán chi tiết được thực hiện bằng việc đối chiếu chỉ tiêu thành tiền trên
bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn với số liệu trên sổ cái TK 152
Ưu điểm : Phương pháp này rất đơn giản trong khâu ghi chép, đối chiếu
số liệu và phát hiện sai sót, đồng thời cung cấp thông tin nhập, xuất và tồn
kho của từng danh điểm vật tư kịp thời, chính xác.
Nhược điểm : Việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán cũng trùng lặp về
chỉ tiêu số lượng làm tăng khối lượng công việc của kế toán, ngoài việc kiểm
tra đối chiếu số lượng chủ yếu tiến hành vào cuối tháng do vậy hạn chế tính
chất kịp thời.
Điều kiện áp dụng : Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp
sử dụng kế toán máy. Đối với doanh nghiệp sử dụng kế toán thủ công thì chỉ
thích hợp với các doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư, khối lượng các nghiệp
vụ nhập - xuất ít, không thường xuyên.