PHẦN MỞ ĐẦU
Trong phát triển du lịch, để đáp ứng được yêu cầu của du khách là muốn
tham quan nhiều nơi, đòi hỏi các đơn vị kinh doanh trong ngành du lịch phải xây
dựng được các chương trình du lịch qua nhiều địa phương, kết nối các điểm thu
hút của các địa phương để xây dựng nên các tuyến du lịch chủ đề khác nhau,
không còn rào cản của địa phương này với địa phương khác, giữa vùng này với
vùng khác.
Với mong muốn thúc đẩy du lịch Việt Nam nói chung, du lịch miền
Trung nói riêng phát triển hơn nữa, trên cơ sở tiềm năng thiên nhiên, văn hóa,
lịch sử của mình, được sự hỗ trợ của Tổng cục du lịch và nhiều địa phương,
tuyến du lịch chủ đề "Con đường di sản thế giới" được hình thành với Quảng
Nam & Đà Nẵng là hai trong nhiều tâm điểm chính của tuyến.
Quảng Nam & Đà Nẵng là mảnh đất giàu tiềm năng du lịch. Tại đây hội
tụ của nhiều bãi biển đẹp, khu nghỉ mát nổi tiếng, đặc biệt, là nơi duy nhất tại
Việt Nam có đến 2 di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ
Sơn được UNESCO công nhận vào năm 1999. Đây là một tiềm năng vô cùng to
lớn và quý giá để du lịch Quảng Nam & Đà Nẵng phát triển.
Tuy du lịch Quảng Nam & Đà Nẵng trong thời gian qua có những bước
phát triển nhất định, song kết quả kinh doanh chưa xứng với tiềm năng vốn có,
còn đang thiếu sự đầu tư cho các khu, điểm du lịch, thiếu sự liên kết để cùng
nhau có thể thu lợi lợi ích lớn hơn.
Để góp phần vào sự phát triển du lịch của Quảng Nam & Đà Nẵng, tôi
thực hiện đề tài:
"Một số giải pháp khai thác, phát triển tuyến du lịch chủ đề "Con
đường di sản thế giới" nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch tại
Quảng Nam & Đà Nẵng"
Đề tài dựa trên nền tảng cơ sở lý luận và thực tiễn, tìm ra các giải pháp
hợp lý cho việc khai thác, phát triển tuyến tại Quảng Nam & Đà Nẵng, nhằm tạo
ra những kết quả kinh doanh cao hơn cho mỗi địa phương.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo,
đề tài gồm 3 phần:
Nếu biết tôn tạo, bảo vệ, trùng tu thì các tài nguyên du lịch có khả
năng được sử dụng lâu dài và bền vững.
1.1.2. Điểm du lịch :
Điểm du lịch là một nơi, một khu vực, một vùng có sức hấp dẫn đặc biệt
đối với dân cư ngoài địa phương và gây ra những thay đổi nhất định trong đời
sống kinh tế của vùng đó do hoạt động kinh doanh du lịch tạo ra.
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị phân vùng du lịch,
có quy mô nhỏ, diện tích, không gian riêng biệt. Điểm du lịch là nơi tập trung
một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa lịch sử, kinh tế xã hội …) hay một
loại công trình nhân tạo hoặc là sự kết hợp cả hai yếu tố trên phục vụ du lịch.
Ví dụ: Điểm du lịch Ngũ Hành Sơn, phố cổ Hội An…
Điểm du lịch tồn tại dưới hai dạng là điểm du lịch tài nguyên và điểm du
lịch chức năng.
Thời gian lưu lại của du khách tại điểm du lịch là tương đối ngắn (1-2
ngày) bởi do hạn chế về đối tượng du lịch chỉ trừ một số trường hợp là điểm du
lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ…
Một điểm du lịch tốt cần có môi trường tự nhiên và văn hóa lành mạnh, có
các điều kiện đảm bảo dịch vụ tối thiểu cho khách du lịch như khách sạn, thông
tin liên lạc, cửa hàng ăn uống, dịch vụ mua sắm, bán hàng lưu niệm…
Trang 2
Về mặt không gian, các điểm du lịch được kết nối với nhau bằng tuyến du
lịch và được tổ chức thuận tiện, khoa học và mang tính kinh tế cao.
1.1.3. Tuyến du lịch:
Tuyến du lịch là sự tập hợp các điểm thu hút, hệ thống các cơ sở cung ứng
dịch vụ trên một tuyến hành trình tạo nên các chương trình du lịch phục vụ
khách du lịch trong và ngoài nước.
Các tuyến du lịch được xem là sản phẩm du lịch đặc biệt dựa vào các
điểm hút; các cửa khẩu kinh tế quan trọng; hệ thống đường bộ, đường sắt, đường
không, đường thuỷ; hệ thống đô thị; các cơ sở lưu trú cũng như giá trị đặc biệt
của các điểm du lịch để hình thành nên các chương trình du lịch theo tuyến du
biệt về mặt thu hút khách du lịch.
Tính thống nhất theo chủ đề và sự đa dạng của tài nguyên du lịch để bổ
sung cho chủ đề thể hiện qua:
Tính độc đáo của di sản thể hiện trong phong cách kiến trúc, loại
hình kiến trúc, chức năng công trình cũng như tính riêng có, duy
nhất của công trình.
Các loại hình hoạt động văn hóa và nội dung của nó như lễ hội,
âm nhạc, nghề thủ công, lối sống, cách sinh hoạt của cộng đồng.
Điều kiện cảnh quan tự nhiên trên tuyến du lịch chủ đề.
Tài nguyên du lịch được kiểm kê bao gồm cả hai dạng là tài nguyên du
lịch thiên nhiên (khí hậu, hệ động thực vật, địa hình, nguồn nước…) và tài
nguyên du lịch nhân văn (di tích lịch sử, di tích văn hóa, lễ hội, làng nghề…)
1.2.2. Thị trường khách du lịch quan tâm đến sản phẩm của tuyến du lịch
chủ đề:
Khi xây dựng tuyến du lịch chủ đề cần xác định rõ đối tượng khách muốn
hướng đến (những khách hàng đó là ai?; thuộc loại khách hàng nào?; họ có đặc
điểm gì?…).Từ những phân tích về khách hàng, căn cứ vào nhu cầu của khách
du lịch, người ta xây dựng những sản phẩm du lịch cho phù hợp. Thường thì các
đối tượng khác nhau có nhu cầu khác nhau về từng loại sản phẩm du lịch.
Những sản phẩm du lịch chuyên đề về lịch sử, về văn hoá, về sinh thái… được
tạo ra cho phù hợp với từng loại thị trường khách du lịch. Những thị trường
khách du lịch là những người có sự hiểu biết cao và có thu nhập cao thường
quan tâm đến sản phẩm du lịch của tuyến du lịch chủ đề hơn.
1.2.3. Cơ sở hạ tầng & điều kiện sẵn sàng đón tiếp trên tuyến du lịch chủ
đề:
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành phải đảm bảo như
giao thông thuận tiện, cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn, vận chuyển đủ độ an toàn…
Đồng thời phải đạt được những yêu cầu sau:
Phù hợp đặc điểm khách hàng nghĩa là các cơ sở kinh doanh du
lịch phải đáp ứng được yêu cầu của khách, phù hợp với đặc điểm
thứ, kiểu theo bảng sau:
Bảng 1.3.1: Kiểm kê & đánh giá tài nguyên du lịch trên tuyến du lịch chủ đề
Loại hình thu
hút
Thứ thu hút Kiểu thu hút Điểm thu
hút
Tài nguyên du
lịch tự nhiên
Thắng cảnh & các bộ
phận hợp thành
1. Địa chất
2. Khí hậu
3. Thuỷ văn
4. Địa hình
5. Hệ động thực vật
Tài nguyên du
lịch nhân văn
Những điểm thu hút
của quá khứ
Thời kỳ hiện đại
1. Lịch sử
2. Nghệ thuật
3. Truyền thống
1. Khoa học kỹ thuật
2. Nghệ thuật ẩm thực
3. Nhân vật nổi tiếng
Du lịch giải trí
Những thiết bị giải trí
Trình diễn văn hoá
Trình diễn thương mại
1.3.3. Kiểm kê và đánh giá điều kiện đón tiếp trên tuyến du lịch chủ đề:
Cơ sở lưu trú: Để kiểm kê và đánh giá hệ thống cơ sở lưu trú tại một
điểm du lịch, trước hết cần phân loại chúng.
Căn cứ vào chức năng sử dụng, khách sạn được chia thành khách
sạn nghỉ mát, khách sạn thành phố và khách sạn quá cảnh.
Căn cứ vào quy mô khách sạn, có 3 loại: khách sạn quy mô lớn
(>300 phòng), trung bình (150-250 phòng), nhỏ (<75 phòng).
Căn cứ vào vị trí cảnh quan, vẻ đẹp kiến trúc, trang thiết bị, tiện
nghi phục vụ, số lượng và chất lượng đội ngũ nhân viên… khách
sạn được chia theo các cấp hạng từ 1 đến 5 sao.
Việc đánh giá và kiểm kê cơ sở lưu trú dựa vào quy mô của hệ thống cơ
sở lưu trú, khả năng lưu trú thông qua số lượng buồng giường. Ngoài ra, còn có
một số chỉ tiêu khác như diện tích sử dụng, trang thiết bị …
Trang 6
Cơ sở phục vụ ăn uống: Cũng như cơ sở lưu trú, phân bố mạng lưới
nhà hàng rất quan trọng trong quá trình kiểm kê và đánh giá hệ thống nhà hàng.
Cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung khác: Việc kiểm kê và đánh giá thông
qua chỉ tiêu quy mô bao gồm số chỗ, diện tích, mức luân chuyển hàng hoá…
Lực lượng lao động trên tuyến du lịch chủ đề: Việc đánh giá và kiểm
kê lực lượng lao động trên tuyến du lịch chủ đề là vô cùng khó khăn. Tùy vào
mỗi công việc cần có những tiêu chuẩn tuyển chọn và đánh giá khác nhau.
Chẳng hạn như việc đánh giá và tuyển chọn nhân viên tiếp xúc trực tiếp không
chỉ căn cứ vào giới tính, sức khoẻ, trình độ văn hóa… mà còn chú ý đến tuổi tác,
hình thức bên ngoài, tình trạng gia đình, sẵn sàng phục vụ, tính kiềm chế và lòng
trung thực...
1.3.4. Phát triển tuyến du lịch chủ đề:
Trong phát triển du lịch, để đáp ứng được yêu cầu của du khách là muốn
thăm thú nhiều nơi, đòi hỏi các doanh nghiệp du lịch phải xây dựng cho được
các tuyến du lịch qua nhiều địa phương, không có rào cản của địa phương này
đối với địa phương khác, giữa vùng này với vùng khác, tạo điều kiện thuận lợi
các ngành khác để tận dựng tối đa được lợi thế so sánh của từng ngành tạo sự
phát triển bền vững.
1.3.5. Tổ chức bán các chương trình du lịch khai thác từ tuyến du lịch chủ
đề:
1.3.5.1. Xác định nguồn khách:
Khi xây dựng các chương trình du lịch từ tuyến du lịch chủ đề, người xây
dựng thường đã xác định các thị trường mục tiêu chủ yếu cho sản phẩm của
mình.
Theo đánh giá và kết quả nghiên cứu sơ bộ thì các nguồn khách quan
trọng của thị trường du lịch Việt Nam được sắp xếp như sau:
Khách quốc tế:
1. Các công ty lữ hành gửi khách quốc tế và trong nước.
2. Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
3. Các công ty, xí nghiệp liên doanh hoặc có quan hệ kinh tế với nước
ngoài.
4. Các mối quan hệ cá nhân.
5. Các đối tượng khách đi lẻ, khách tự đến.
Khách nội địa:
1. Các công ty lữ hành trong nước.
2. Các công ty, xí nghiệp, trường học…
3. Các tổ chức xã hội, đoàn thể.
4. Các đối tượng khách trực tiếp
5. Các mối quan hệ khác.
1.3.5.2. Quan hệ giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với nhau &
với khách du lịch:
Đối với tuyến du lịch chủ đề kéo dài qua nhiều địa phương vấn đề không
chỉ là giữa doanh nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ lưu trú,
ăn uống, mua sắm mà còn ở chỗ:
Giữa tất cả các loại hình doanh nghiệp du lịch trong nỗ lực quảng
bá chung cho tuyến, cho việc đảm bảo chất lượng phục vụ của từng
như:
Tính hấp dẫn và độc đáo của các tài nguyên du lịch có trong
chương trình
Uy tín và chất lượng của các sản phẩm từ các nhà cung cấp
Mức giá hợp lý của các dịch vụ du lịch.
Điều kiện môi trường tự nhiên xã hội
Chất lượng hướng dẫn viên
Sự hài lòng của khách du lịch …
Chất lượng sản phẩm thể hiện phần lớn qua phương thức, thái độ phục vụ
của các đội ngũ nhân viên đối với khách du lịch, vì vậy chất lượng phục vụ đóng
vai trò quan trọng tới chất lượng sản phẩm. Quá trình xây dựng và quản lý chất
lượng phục vụ được chia thành năm nhóm công việc cơ bản là:
Tìm hiểu khách hàng mục tiêu - tiền đề của chất lượng phục vụ
Xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng phục vụ
Xây dựng đội ngũ nhân viên nhằm thực hiện các tiêu chuẩn về
chất lượng phục vụ
Hệ thống kiểm tra thường xuyên: hệ thống đo lường dịch vụ, hệ
thống tiếp nhận và xử lý thông tin từ phía khách hàng, hệ thống tiếp
nhận báo cáo và ý kiến của nhân viên.
Trang 9
Tạo dựng bầu không khí tích cực, dân chủ trong khi làm việc cho
toàn thể nhân viên.
1.3.8. Tổ chức các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền cho tuyến du lịch chủ
đề:
Tất cả các hoạt động quảng cáo đều nhằm khơi dậy nhu cầu của du khách
đối với các điểm thu hút, các sản phẩm du lịch thuộc tuyến du lịch chủ đề. Các
sản phẩm quảng cáo phải tạo ra được sự phù hợp giữa các chương trình du lịch
trên tuyến với nhu cầu, mong muốn và nguyện vọng của khách du lịch.
Khi quảng cáo cho các điểm du lịch, các sản phẩm của tuyến thường áp
dụng các hình thức quảng cáo:
2.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẢNG NAM & ĐÀ
NẴNG:
2.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch trong thời gian qua:
2.1.2.1. Thành phố Đà Nẵng:
Bảng 2.1.2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Đà Nẵng 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2000
2001 2002 2003
Số
lượng
Tđt
( % )
Số
lượng
Tđt
( % )
Số
lượng
Tđt
( % )
1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng doanh thu 255.626 297.800 16,5 338.838 13,78 338.000 -0,25
- Khách sạn 130.230 160.900 23,55 188.700 17,28 181.033 -4,06
- Lữ hành 80.572 84.400 4,75 89.600 9,72 98.223 6,07
- Vận chuyển 30.820 32.400 5,13 35.388 9,07 37.586 6,36
- Ăn uống 9.336 13.400 42,95 16.800 10,89 14.095 -4,76
- Khác 4.668 6.754 23,30 7.100 5,12 6.963 -1,93
Tổng chi phí 215.237 249.258 23,30 282.539 13,35 283.920 4,89
Lợi nhuận 19.939 24.542 23,30 29.140 18,74 27.343 -0,30
Nộp ngân sách 20.450 24.000 17,36 27.159 13,16 26.737 -1,55
2.1.2.2. Tỉnh Quảng Nam:
Bảng 2.1.2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Quảng Nam 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
2003
Số lượng Tđt
( %)
Số
lượng
Tđt
( % )
Số lượng
Tđt
( % )
1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng doanh thu 43.515 78.782 81,05 121.108 53,73
120.000 -0,91
- Khách sạn 27.048 47.053 73,95 75.960 61,43
73.840 -2,79
- Lữ hành 767 1.485 93,61 2.330 56,90
2.220 -4,72
- Vận chuyển 936 1.383 47,76 1.711 23,72
1.624 -5,08
- Ăn uống 6.589 15.265 131,67 24.830 62,66
22.516 -9,32
Trang 12
Bảng 2.1.2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Quảng Nam 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
Kết quả được như trên là nhờ các doanh nghiệp du lịch đã chú trọng hơn
trong việc đầu tư xây dựng, nâng cấp trang thiết bị, mở thêm nhiều dịch vụ bổ
sung nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách tốt hơn. Công tác
tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, mở rộng thị trường cho chương trình du
lịch của tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế giới” cùng hai di sản văn
hoá thế giới là Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn được quan tâm hơn nên đã thu
hút được lượng khách lớn đến tham quan. Đặc biệt, Sở Du Lịch Quảng Nam kết
hợp với các Sở Du lịch các tỉnh, thành lân cận, các doanh nghiệp liên quan đến
du lịch tổ chức thành công nhiều liên hoan, lễ hội du lịch như “Gặp gỡ đêm rằm
phố cổ Hội An”, “Hành trình con đường di sản thế giới”, “Ấn tượng Mỹ Sơn”
… thu hút được khá đông khách du lịch quốc tế cũng như trong nước góp phần
vào sự tăng lên của doanh thu du lịch Quảng Nam.
Tuy nhiên, sự phát triển du lịch chỉ tập trung ở Hội An còn các khu vực
khác phía Nam và phía Tây như Thánh địa Mỹ Sơn, hồ Phú Ninh… thì vẫn chưa
được phát triển bao nhiêu.
Trang 13
2.1.2. Tình hình phát triển các ngành chuyên môn hóa trong du lịch:
2.1.2.1. Tình hình phát triển ngành kinh doanh lữ hành:
2.1.2.1.a. Thành phố Đà Nẵng:
So với trước đây đã có nhiều doanh nghiệp tham gia vào việc kinh doanh
lữ hành nói chung cũng như lữ hành quốc tế nói riêng. Hiện nay, tại Đà Nẵng có
43 đơn vị kinh doanh lữ hành, 10 văn phòng đại diện và 33 chi nhánh của các
công ty du lịch, các trung tâm lữ hành trên cả nước đóng tại Đà Nẵng. Tuy
nhiên, hầu hết các doanh nghiệp chưa tự mình thu hút được khách mà chỉ làm
chức năng vận chuyển khách là chủ yếu và cũng chưa nghĩ đến chuyện liên kết
lại với nhau để có tiềm lực lớn hơn trong việc cạnh tranh trên trường quốc tế.
2.1.2.1.b. Tỉnh Quảng Nam:
Kinh doanh lữ hành tại Quảng Nam trong thời gian qua có nhiều khởi sắc
song chưa có sự phát triển mạnh như ở Đà Nẵng và sự tập trung các doanh
nghiệp lữ hành, các trung tâm du lịch còn khá hạn chế. Tính đến nay, tổng số
(%)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
TSố 33 1.480 66 200,0 2.318 156,62 71 107,6 2.394 161,76
3-5 sao 2 130 8 400,0 630 484,62 8 100,0 630 484,62
1-2 sao 13 610 22 169,2 850 139,34 25 113,6 890 145,90
Đạt TC 18 740 36 200,0 838 113,24 38 105,6 874 118,11
Nguồn: Đại diện văn phòng TCDL tại miền Trung
Trang 14
Số lượng cơ sở lưu trú tại Đà Nẵng 1996 - 2003 tăng đáng kể.
Giai đoạn 1996-2000, số cơ sở lưu trú tăng gấp 2 lần đạt mức tăng trưởng
100%, trong đó số phòng tăng 59,3%. Sự tăng nhanh về số lượng cơ sở lưu trú
và số lượng phòng trong giai đoạn này là do du lịch thành phố đang có nhiều
khởi sắc, đồng thời thành phố tham gia vào việc thực hiện Nghị định 45/CP của
Chính Phủ và Nghị quyết 317/TTG của Thủ tướng Chính Phủ về việc chuyển
nhà khách, nhà nghỉ sang kinh doanh khách sạn du lịch. Mặt khác, đây là thời kỳ
các thành phần kinh tế, nhất là tư nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh du
lịch, dịch vụ kéo theo sự ra đời của hàng loạt các khách sạn có quy mô vừa và
nhỏ. Giai đoạn 2000-2003, số lượng cơ sở lưu trú tiếp tục tăng nhưng không
đáng kể, quy mô bình quân của khách sạn năm 2003 đạt xấp xỉ 33 phòng.
Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất lượng phòng ngủ ngày càng được
nâng lên theo từng thời kỳ. Tỷ trọng buồng ngủ có chất lượng cao ngày càng
nhiều, cụ thể như sau:
Tỷ trọng phòng ngủ đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao năm 1996 là 8,78%, năm
2000 là 27,17% và năm 2003 là 26,32%.
Tỷ trọng phòng ngủ đạt tiêu chuẩn từ 1-2 sao năm 1996 là 41,22%, năm
2000 là 36,67% và năm 2003 là 37,18%.
Tuy nhiên vẫn chưa có một tổ chức nào để liên kết, xâu chuỗi các khách
sạn này lại. Vấn đề cạnh tranh về giá diễn ra khá gây gắt.
2.1.2.2.b. Tỉnh Quảng Nam:
Bảng 2.1.2.2: Tình hình phát triển khách sạn tại Quảng Nam 1996 - 2003
một bước đột phá khá mạnh mẽ, với tốc độ tăng bình quân là 79,33%. Giai đoạn
1996-2000, tình hình kinh doanh khách sạn của tỉnh còn thấp, số lượng cơ sở
lưu trú tăng lên không đáng kể (chỉ tăng 2 khách sạn trong 5 năm). Nguyên nhân
là do: Trong thời gian này, Quảng Nam chỉ mới ở giai đoạn đầu của việc đưa du
lịch thành ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, các hoạt động xúc tiến, tổ chức
khai thác khách còn hạn chế.
Trang 15
Sang giai đoạn 2000-2003, số lượng cơ sở lưu trú của toàn tỉnh tăng
nhanh, tăng gấp 3,9 lần. Kết quả khả quan như vậy bởi đây là giai đoạn Quảng
Nam liên tiếp đón nhận 2 di sản văn hoá thế giới do UNESCO công nhận là: phố
cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn, và sự ra đời của tuyến du lịch chủ đề “Con
đường di sản thế giới” với Quảng Nam là một trong những tâm điểm chính làm
cho số lượng khách đến với Quảng Nam tăng đột biến.
Chất lượng của các phòng ngủ cũng được nâng lên đáng kể cùng với sự
phát triển của số lượng cơ sở lưu trú. Từ chỗ không có loại phòng nào đạt tiêu
chuẩn từ 3 - 5 sao trong giai đoạn 1996 - 2000, đến năm 2003 phòng đạt tiêu
chuẩn từ 3 - 5 sao chiếm tỷ trọng 10,19% với mức phát triển là 400% so với năm
1996. Và cũng như Đà Nẵng, các đơn vị kinh doanh khách sạn trên địa bàn tỉnh
vẫn còn cạnh tranh khốc liệt về giá và tranh giành khách, chưa có sự liên kết với
nhau.
2.1.2.3. Tình hình phát triển ngành kinh doanh ăn uống:
2.1.2.3.a. Thành phố Đà Nẵng:
Hệ thống nhà hàng tại Đà Nẵng tương đối phong phú và đa dạng, đáp ứng
khá tốt cho việc phục vụ khách du lịch và khách địa phương. Các nhà hàng phân
bố chủ yếu ở trung tâm thành phố và khu vực ven biển. Trong đó, số nhà hàng
có trong khách sạn là 37, số nhà hàng thuộc các đơn vị, cá nhân nằm ngoài
khách sạn là 100. Trong quá trình kinh doanh, các nhà hàng vẫn ở tình trạng
hoạt động riêng lẻ, độc lập, chưa có mối quan hệ cụ thể nào.
2.1.2.3.b. Tỉnh Quảng Nam:
Mạng lưới các nhà hàng rãi khắp tỉnh, nhưng có sự tập trung cao ở Hội
2.1.2.5.a. Thành phố Đà Nẵng:
Các cửa hàng lưu niệm tại Đà Nẵng có xu hướng hình thành theo khu vực
hoặc đặt ngay trong các khách sạn để tiện cho việc mời chào du khách cũng như
đáp ứng thị hiếu của du khách. Một số khu vực được biết đến như những tụ
điểm mua sắm như siêu thị Bài Thơ, chợ Hàn, trung tâm công thương nghiệp,
các cửa hàng trên đường Hùng Vương…, một số đã được đưa vào các chương
trình du lịch. Tuy nhiên, quy mô các điểm bán hàng chưa lớn, chưa hình thành
những “phố mua sắm” để tạo thuận tiện cho sự tập trung của khách, mặt hàng
còn nghèo nàn về mẫu mã, hình thức chào mời và quảng bá còn hạn chế.
2.1.2.5. Tỉnh Quảng Nam:
Số lượng các quầy bán hàng lưu niệm tại Quảng Nam tăng nhanh chóng
và tập trung chủ yếu chỉ ở Hội An. Từ chỗ chỉ có 33 điểm (1997) đến nay đã có
hơn 50. Đây được coi là “ thiên đường mua sắm”. Quảng Nam vẫn chưa có sự
sắp xếp về mặt không gian và hình thành một tổ chức chung để tránh cạnh tranh
không lành mạnh về giá gây thiệt hại lẫn nhau.
2.2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC TUYẾN DU LỊCH CHỦ DỀ "CON
ĐƯỜNG DI SẢN THẾ GIỚI" TẠI QUẢNG NAM & ĐÀ NẴNG:
2.2.1. Tình hình khai thác khách tại các di sản thế giới:
Trang 17
2.2.1.1. Tình hình khai thác khách tại phố cổ Hội An: (Số liệu ở bảng
2.2.1.1 phần phụ lục)
Với việc được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và là một
trong những tâm điểm chính của tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế
giới”, Hội An đã có những bước tiến vượt bậc trong việc thu hút và khai thác
khách.
Theo số liệu thống kê, số lượt khách đến với Hội An ngày càng tăng trong
các năm 2000, 2001, 2002 và đã có giảm nhẹ vào năm 2003 (- 4,21%) do ảnh
hưởng của đại dịch SARS. Trong đó, lượt khách quốc tế giảm mạnh 20,72%
nhưng đây lại là cơ hội cho khách nội địa được tăng lên 13,58% bởi trong thời
gian này hầu hết các đơn vị kinh doanh du lịch đều có xu hướng giảm giá thành
Sơn và có tốc độ tăng trưởng khá đều. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn
Trang 18
1999 - 2003 đạt 29.075% / năm. Năm cao điểm nhất là năm 2002, Mỹ Sơn đón
được gần 63.095 lượt khách quốc tế. Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng chậm hơn
khách du lịch nội địa nên thị phần khách quốc tế đã giảm từ 84,42% năm 1999
xuống còn 69,83% năm 2003.
Khách nội địa có tốc độ tăng trưởng cao, với mức bình quân là 72,80%
cho cả giai đoạn 1999 - 2003. Đặc biệt, năm 2002, Mỹ Sơn đã đón 24.917 lượt
khách nội địa, tăng hơn 6 lần so với năm 1999. Nếu như năm 1999, khách nội
địa chiếm 15,58% thị phần thì trong năm 2003 thị phần khách nội địa đã chiếm
30,17% thị phần.
Quy mô nguồn khách du lịch kể cả quốc tế và nội địa đều tăng nhanh so
với nguồn khách đến với Quảng Nam và đến với vùng du lịch trọng điểm Bắc
Trung Bộ (Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam). So với Quảng Nam, tổng
lượt khách đến với Mỹ Sơn chiếm tỷ trọng 19,39% năm 1999 và đã tăng lên
21,58% năm 2002. Do tăng chậm hơn so với nhịp độ tăng trưởng của khách nội
địa, thị phần khách quốc tế có xu hướng giảm. Song xét về số lượng tuyệt đối thì
cả khách quốc tế và khách nội địa có xu hướng tăng mạnh.
2.2.2. Thực trạng khai thác tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế
giới” tại Quảng Nam và Đà Nẵng:
Tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế giới” ra đời đã tạo cơ hội lớn
cho du lịch Quảng Nam và Đà Nẵng phát triển ngày càng lớn mạnh. Song, trong
thời gian qua , việc khai thác và phát triển tuyến tại hai địa phương này vẫn chưa
mang lại hiệu quả cao bởi do:
Khai thác tài nguyên du lịch:
Đà Nẵng, bên cạnh tài nguyên biển độc đáo, còn có nguồn tài nguyên văn
hóa đặc sắc. Thế nhưng rất nhiều di tích có giá trị, nhiều tài nguyên biển như
bảo tàng Đà Nẵng, nghĩa địa Y Pha Nho, Bán đảo Sơn Trà, bãi biển Tiên Sa,
suối nước nóng Phước Nhơn, công viên nước Đà Nẵng… vẫn chưa được khai
thác khai thác tương xứng với tiềm năng hoặc chưa được kết hợp với quần thể
nghèo nàn về phương tiện kỹ thuật chưa đảm bảo cho việc chăm sóc sức khoẻ
cho du khách khi cần thiết. Các trung tâm thương mại chất lượng chưa cao, chưa
có sự đầu tư lớn để sẵn sàng đón tiếp khách , đặc biệt là khách quốc tế.
Điều kiện sẵn sàng đón tiếp:
Từ khi tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế giới” ra đời và đưa vào
hoạt động đã làm cho hệ thống các nhà hàng, cơ sở lưu trú, các trung tâm lữ
hành “mọc lên như nấm” tại Quảng Nam và Đà Nẵng.
Đà Nẵng
Cơ sở lưu trú: Từ 33 khách sạn năm 1996 tăng lên 71 khách
sạn năm 2003.
Cơ sở ăn uống: 37 nhà hàng trong khách sạn và hơn 100 nhà
hàng nằm ngoài khách sạn.
Trung tâm lữ hành: có 43 đơn vị kinh doanh lữ hành .
Quảng Nam:
Cơ sở lưu trú: Từ 18 khách sạn năm 1996 tăng lên 78 khách
sạn năm 2003.
Cơ sở ăn uống: Tại Hội An hiện nay có 124 đơn vị kinh
doanh ăn uống, một số khác nằm tại Tam kỳ
Trung tâm lữ hành: 3 trung tâm lữ hành quốc tế, 9 trung tâm
lữ hành nội địa, 2 chi nhánh lữ hành quốc tế.
Tuy nhiên, chất lượng của các đơn vị kinh doanh du lịch này chưa cao. Hệ
thống các khách sạn có cấp hạng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, chất lượng hệ
thống dịch vụ chưa hoàn hảo và đồng bộ. Cơ cấu loại hình lưu trú chưa đa dạng,
chưa thực sự phù hợp với từng đối tượng khách, quy mô đầu tư còn nhỏ lẻ, phân
tán nên hiệu quả đầu tư thấp.
Việc khai thác và quảng bá các chương trình du lịch trên tuyến du lịch này
tại các trung tâm lữ hành còn quá hạn chế. Các hãng lữ hành chưa tự vượt xa
hơn trong việc kí kết hợp đồng với các công ty lữ hành nước ngoài, chưa phát
Trang 20
huy được tính hiệu quả của việc quảng cáo, chưa đưa đến cho khách hàng một
Đà Nẵng - Hội An - Cù Lao Chàm - Đà Nẵng (4 ngày / 3đ êm)
Đà Nẵng - Hội An - Mỹ Sơn - Bà Nà. (3 ngày / 2 đêm)
2.2.3.3. Chương trình du lịch được khai thác liên vùng:
Đà Nẵng - Hội An - Huế (3 ngày / 2 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Bà Nà - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Cù Lao Chàm - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Bạch Mã - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Đà Nẵng - Mỹ Sơn - Hội An - Huế (4 ngày / 3 đêm )
Trang 21
Đà Nẵng - Mỹ Sơn - Hội An -Bà Nà - Huế (5 ngày / 4 đêm )
Đà Nẵng - Hội An - Huế - Phong Nha (5 ngày / 4 đêm )
Đà Nẵng - Mỹ Sơn - Hội An - Huế - Phong Nha (6 ngày / 5 đêm)
Thống kê các chương trình du lịch trên tuyến du lịch chủ đề "Con đường
di sản thế giới" mà các công ty lữ hành ở Quảng nam và Đà Nẵng đang chào
bán, ta thấy: Bảo tàng Chàm có mặt nhiều nhất, tỷ lệ xuất hiện trong các chương
trình là 89%, kế đến là Hội An 84%, Huế 71%, Mỹ Sơn 48%, Ngũ Hành Sơn
42%. Và trong các chương trình trên, chương trình 4 ngày 3 đêm Đà Nẵng-Hội
An- Mỹ Sơn- Huế là thu hút nhiều đối tượng khách nhất.
2.2.4. Mức đóng góp của tuyến du lịch “Con đường di sản thế giới” cho du
lịch của Đà Nẵng và Quảng Nam: (Số liệu ở bảng 3 phần phụ lục )
Việc hình thành tuyến du lịch “Con đường di sản thế giới” sau sự kiện Mỹ
Sơn và Hội An được công nhận là di sản văn hóa thế giới đã đưa du lịch cả Đà
Nẵng và Quảng Nam phát triển lên một tầm cao mới.
Mức đóng góp của “Con đường di sản thế giới” cho du lịch Đà Nẵng và
Quảng Nam là khá lớn. Quy mô nguồn khách du lịch kể cả khách quốc tế lẫn
khách nội địa đều tăng nhanh so với nguồn khách đến với cả 2 địa phương.
Năm 2003, tuy ảnh hưởng của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp nhưng
số lượng khách đến với Đà Nẵng và Quảng Nam theo tuyến du lịch nay vẫn
chiếm số lượng lớn, chiếm tỷ trọng 11,00% trong tổng số lượng khách đến 2 địa
phương, số lượng khách tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2000. Tốc độ tăng bình
Dù mới khởi xướng được không lâu, nhưng việc ra đời chương trình liên
kết du lịch này đã tạo được niềm tin cho các doanh nghiệp, các tổ chức du lịch,
và các địa phương về tiềm năng phát triển, cơ hội kinh doanh. Vì vậy, ngay sau
khi Ban điều hành “Con đường di sản thế giới” đã thành lập và đi vào hoạt động
ổn định, ngoài rất nhiều cuộc họp đã được tiến hành để triển khai hoạt động,
cũng trong thời gian này, 3 đoàn nhà báo quốc tế với hơn 40 phóng viên, nhà
báo đã đến nghe và giới thiệu, đưa bài và hình ảnh “Con đường di sản thế giới”.
Ban điều hành cũng đã hình thành website:www.worldheritageroad.com để
quảng bá và giới thiệu “Con đường di sản thế giới” ra thế giới. Trang web này
được chính thức đưa vào sử dụng từ tháng 6 năm 2002. Tính đến thời điểm hiện
nay, số người biết và truy cập trang web này vào khoảng 115.128 lượt người.
Nhìn chung, trang web được xây dựng tương đối quy cũ, trang trí đẹp,
màu sắc, hình ảnh mang đậm văn hóa Chăm. Các thông tin giới thiệu về các
điểm thu hút được phân theo khu vực lãnh thổ địa lý mà tuyến du lịch chủ đề
"Con đường di sản thế giới" đi qua giúp người truy cập dễ dàng tìm thấy được
những thông tin cần thiết một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, người truy cập có
thể tìm thấy những địa chỉ liên lạc của các đơn vị thành viên của tuyến. Tuy
nhiên, trang web vẫn còn có một số hạn chế nhất định. Trở ngại lớn nhất cho
người truy cập là trang web chỉ được thiết kế với một ngôn ngữ duy nhất là tiếng
Anh. Điều này sẽ khiến trang web không thể được quảng bá rộng rãi cho tất cả
các đối tượng khách, đặc biệt là những khách sử dụng hiếm khi sử dụng tiếng
Anh làm ngôn ngữ giao tiếp. Ngoài ra, trang web chưa đưa ra các chương trình
du lịch trên từng địa phương để tiện cho khách trong việc tìm kiếm, lựa chọn
chương trình du lịch thích hợp đồng thời có thể tạo ra những giao dịch giữa
khách hàng với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch thành viên. Việc đưa phần
tư vấn du lịch cho ngay trong trang web sẽ giúp người truy cập biết và hiểu sâu
hơn về tuyến du lịch chủ đề "Con đường di sản thế giới", từ đó có thể mang lại
sụ thu hút và lôi kéo khách du lịch đến với tuyến du lịch chủ đề "Con đường di
sản thế giới" ngày càng nhiều hơn.
Hiện nay, các thành viên của “Con đường di sản thế giới” được sử dụng
sản thế giới” cũng nhận được sự hỗ trợ của Vietnam Airlines, Ngân hàng
Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và Saigon Times Group,công ty Mai Linh,
bia Foster, Coca-Cola…. Để “Con đường di sản thế giới” có điều kiện hoạt động
tốt khi chưa thu phí của các thành viên, Vietnam Airlines đã tài trợ 5.000 đô-la
Mỹ, khách sạn Furama Resort tài trợ 10.000 đô-la Mỹ, ACB đưa thẻ tín dụng
ACB và Visa Card vào thanh toán trong hệ thống các dịch vụ của “Con đường
di sản thế giới”, Saigon Times Group hỗ trợ việc quảng bá trên các tờ báo bằng
tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp.
Mối liên kết cũng đã được nối giữa “Con đường di sản thế giới” với “Con
đường Romantic” (Đức) và “Con đường lịch sử KanSai” (Nhật Bản). Thông qua
đó, Ban điều hành cũng đã nhận được nhiều thông tin bổ ích, nhiều kinh nghiệm
quý báu cho hoạt động. Riêng Hội cứu hộ Hoàng gia Úc đã tổ chức một khoá
huấn luyện cho nhân viên cứu hộ nằm trong chương trình liên kết này.
Các thành viên của “Con đường di sản thế giới” được hỗ trợ trong việc
đào tạo cán bộ và nhân viên, được tư vấn về nghiệp vụ kinh doanh. Ngoài ra, với
tư cách là thành viên của “Con đường di sản thế giới”, các doanh nghiệp được
ngân hàng tin cậy hơn trong việc vay vốn phát triển kinh doanh, được các tổ
Trang 24
chức quốc tế mà “Con đường di sản thế giới” có quan hệ hỗ trợ trong việc trùng
tu, bảo tồn các di tích văn hoá, lịch sử, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội.
2.3. CÁC ĐIỂM NHẤN TRÊN TUYẾN DU LỊCH CHỦ ĐỀ "CON
ĐƯỜNG DI SẢN THẾ GIỚI" TẠI QUẢNG NAM & ĐÀ NẴNG:
2.3.1. Thánh địa Mỹ Sơn:
Thánh địa Mỹ Sơn là một trong hai di sản văn hoá thế giới thuộc huyện
Duy Xuyên - tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng khoảng 70km về phía Tây Nam.
Thánh địa Mỹ Sơn nằm trong một lung thũng kín đáo được bao bọc bởi núi non
hiểm trở, được lựa chọn để xây thánh đô của vương quốc ChămPa từ thế kỉ thứ
IV. Xưa kia, Mỹ Sơn có hơn 70 đền tháp nhưng ngày nay chỉ còn 20 công trình.
Những tác phẩm điêu khắc và kiến trúc tại đây có phong cách độc đáo tiêu biểu
cho nghệ thuật Chăm từ thế kỉ VII đến thế kỉ VIII, được sắp xếp thành một quần