M
ột số loại thuốc gây rối loạn
vận động
Rối loạn vận động (run tay – chân) có thể liên quan v
ới nhiều loại
thuốc, trong đó, thuốc có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc chỉ l
à
yếu tố khởi phát tình trạng run đã tiềm tàng từ trước.
Các thuốc gây run:
Thuốc chống loạn nhịp tim: Amiodarone có th
ể gây run ở khoảng 1/3 số
người dùng thuốc, cơ chế hiện còn chưa được biết r
õ. Run do
amiodarone thường phụ thuộc vào tư thế và tăng lên khi tập trung l
àm
việc, tần số khoảng 6 -10 Hz, có thể xuất hiện ở bất cứ thời điểm n
ào
trong quá trình dùng thuốc, phụ thuộc liều và thư
ờng giảm dần sau khi
ngưng dùng thuốc khoảng 2 tuần. aProcainamide và mexiletine c
ũng
được ghi nhận có liên quan v
ới biểu hiện run, trong đó, mexiletine có thể
gây run, chóng mặt và giảm trí nhớ ở khoảng 10% số người dùng thu
ốc.
Run do procainamide tương đối hiếm gặp.
Các thuốc kháng khuẩn: Kháng sinh co-trimoxazole có th
ể gây ra biểu
hiện run cả lúc nghỉ ngơi và khi vận động, thư
ờng giảm dần sau khi
ngừng thuốc vài ngày, cơ chế hiện chưa được hiểu rõ. M
với tỷ lệ gặp khoảng 4 - 65%, là nguyên nhân gây run do thuốc thư
ờng
gặp nhất trên lâm sàng. Tuy nhiên, hầu hết các trư
ờng hợp run do
lithium đều nhẹ và không ảnh hưởng đến vận động của ngư
ời bệnh,
thường gặp ở người lớn tuổi hoặc điều trị kéo dài, tần số khoảng 8 -
12
Hz, chủ yếu ở tay và thường giảm dần trong quá trình dùng thu
ốc. Hiện
nay, cơ chế gây run của lithium còn chưa được hiểu rõ. Teo cơ nhị đầu cánh tay gây yếu và run tay.
Thuốc chống động kinh:
Mặc dù các thuốc chống động kinh có thể được sử d
ụng trong điều trị
một số thể run tiên phát nhưng đa số các thuốc này l
ại cũng có khả năng
gây run. Valproic acid có thể gây run ở khoảng 80% số người d
ùng
thuốc, trong đó, khoảng 25% có biểu hiện rõ rệt tr
ên lâm sàng. Run do
valproic acid thường liên quan đến vận động và thay đổi tư th
ế, có thể
run ở cả đầu và thân mình, liên quan với liều dùng và thư
ờng giảm dần
trong vòng vài tuần sau khi giảm liều hoặc ngưng thu
ốc. Run do các chế
phẩm phóng thích chậm thường nhẹ hơn các dạng thông thư
adrenalin (hormon của tuỷ thượng thận) v
à medroxyprogesterone
acetate.
Các thuốc an thần: Các thuốc an thần kháng dopamin nh
ư thioridazine,
fluphenazine và chlorpromazine gây run ở 15 – 60% số người d
ùng
thuốc, có thể run khi vận động hoặc cả lúc nghỉ, phụ thuộc vào thuốc
và
liều dùng. Các thuốc an thần không điển hình nh
ư risperidone,
olanzapine, quetiapine và ziprasidone ít gây run hơn các thuốc tr
ên,
thường chỉ ở liều cao.
Các hoá chất chống ung thư và gây độc tế bào:
Thalidomide gây run
mức độ nhẹ đến vừa và có hồi phục ở khoảng 36% số người dùng thu
ốc.
Cytarabine ở liều cao cũng có thể gây run do nhiễm độc tiểu não, nh
ất
là ở những người lớn tuổi. Một số hoá chất khác nh
ư ifosfamide,
vincristine, cisplatin, tamoxifen cũng đư
ợc ghi nhận gây run ở một số ít
trường hợp. Ciclosporin và tacrolimus là 2 thu
ốc ức chế miễn dịch
thường được sử dụng trong chống thải ghép tạng và các b
ệnh tự miễn
dịch cũng được ghi nhận có thể gây run ở khoảng 10 - 40% số ngư
ời
ặt chẽ. Nếu mức độ
run nặng dần và ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của ngư
ời bệnh, thuốc
gây run nên được giảm liều hoặc ngưng sử dụng và thay th
ế bằng một
thuốc khác ít gây run hơn. Nếu thuốc gây run không thể đư
ợc thay thế,
cần phối hợp điều trị triệu chứng run bằng các thuốc nh
ư propranolol,
thuốc kháng cholinergic hoặc amantadine.