LÝ THUYẾT “CÁI VÒNG LUẨN QUẨN VÀ CÚ HUÝCH TỪ BÊN NGOÀI - Pdf 14

MỤC LỤC
I) VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
Paul Anthony Samuelson sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915 tại Gary, Indiana,
Hoa Kỳ là một nhà kinh tế học người Hoa Kỳ, đại biểu của trường phái kinh tế
học vĩ mô tổng hợp và có đóng góp to lớn ở một loạt lĩnh vực của kinh tế học.
Năm 1923, gia đình ông chuyển đến sống ở Chicago và ông đã theo đại học tại
Đại học Chicago, học cao học và tiến sĩ tại Đại học Harvard. Tại Havard, ông
theo đuổi lĩnh vực kinh tế học và từng thụ giáo Joseph Schumpeter, Wassily
Leontief, Gottfried Haberler, và Alvin Hansen.
Ông là người sáng lập khoa kinh tế học lừng danh của Học viện Kỹ thuật
Massachusetts. Samuelson đoạt Giải John Bates Clark vào năm 1947 (khi 32
tuổi) và Giải Nobel Kinh tế vào năm 1970 (khi 55 tuổi). Ông còn được trao Giải
thưởng Nhà nước về Khoa học, Hoa Kỳ vào năm 1996…
II) LÝ THUYẾT “CÁI VÒNG LUẨN QUẨN VÀ CÚ HUÝCH TỪ BÊN NGOÀI”
1. Hoàn cảnh ra đời:
Các lí thuyết kinh tế của trường phái cổ điển mới đều tập trung đề cao vai trò
của cơ chế thị trường tự do cạnh tranh. Trường phái Keynes và Keynes mới lại
đề cao vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của Nhà nước và phê phán những khuyết
tật của thị trường. Thực tế, nền kinh tế sẽ phát triển không hiệu quả nếu như
đề cao quá đáng vai trò của thị trường hoặc vai trò nhà nước. Sự phê phán
các trường phái dẫn đến sự xích lại gần nhau giữa hai chiều hướng (Từ những
60 – 70 của thế kỷ XX).
Từ đó hình thành “Trường phái chính hiện đại”.
Mầm mống về nền kinh tế hỗn hợp có từ những năm cuối thế kỷ thứ XIX, sau
chiến tranh thế giới thứ hai nó được nhà kinh tế học Mỹ tên là Hassen nghiên
cứu và tư tưởng này tiếp tục được phát triển mạnh mẽ từ những năm 70 của
thế kỷ XX. Đại biểu nổi bật của trường phái này là P.A.Samuelson (Mỹ) với tác
phẩm “Kinh tế học” được dịch ra tiếng Việt năm 1989 là cơ sở cho nhiều giáo
trình kinh tế vi mô và vĩ mô.
Lý thuyết “cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài” thuộc phần các lý
thuyết tăng trưởng phát triển dựa trên tính đặc thù của các nước chậm phát

nhận thức ra. Tỉ lệ sinh ở những nước nghèo đã giảm từ 4,2% năm 1965
xuống còn 3% năm 1990. Cuộc đấu tranh chống nghèo đói do tăng dân số quá
mức gây ra vẫn còn tiếp diễn.
Vốn con người: cùng với việc giải quyết tăng dân số quá mức, các nước đang
phát triển cũng cần quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực của mình. Các
nhà lập kế hoạch của các nước đang phát triển nên đặt trọng tâm vào các
chương trình cụ thể sau:
- Ngăn ngừa dịch bệnh, cải thiện sức khoẻ và dinh dưỡng. Nâng cao tiêu
chuẩn sức khoẻ của dân cư không chỉ bằng cách làm cho mọi người
hạnh phúc hơn mà còn làm họ thành những người công nhân có năng
suất hơn. Các bệnh viện chăm sóc sức khoẻ và các dự án thoát nước
vốn xã hội cực kì hữu ích.
- Nâng cấp giáo dục, giảm tỉ lệ mù chữ và đào tạo công nhân. Người có
giáo dục tốt trở thành người công nhân có năng suất cao, có thể sử
dụng vốn hiệu quả hơn, sử dụng kĩ thuật mới và rút ra bài học từ
những sai lầm. Để có kiến thức nâng cao về khoa học, kĩ thuật, y tế và
quản lí, các nước sẽ được lợi nếu gửi những người thong minh nhất ra
nước ngoài để mang về những tiến bộ nhất. Tuy nhiên cần nhận thức
được sự chảy máu chất xám, những người có khả năng nhất chạy ra
nước ngoài nhận lương cao hơn.
- Điều quan trọng nhất là không được đánh giá thấp tầm quan trọng của
nguồn nhân lực. Các nhân tố khác có thể mua được trên thị trường thế
giới nhưng lao động là phải tự nuôi dưỡng. Vai trò tối quan trọng của
lực lượng lượng lao động có tay nghề luôn được minh chứng khi những
máy móc tinh vi bị rơi vào tình trạng không sử dụng được hay không
sửa chữa được do không có kiến thức bảo dưỡng cần thiết.
B. NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Ở các nước nghèo thường cũng nghèo về tài nguyên thiên nhiên. Đất đai chật
hẹp và khoáng sản ít ỏi phải phân chia cho dân số đông đúc. Do đó, tài nguyên
quý giá nhất là đất canh tác. Phần lớn lực lượng lao động được thu hút vào

tiến bộ nhanh chóng.
Vay nước ngoài và khủng hoảng nợ. Muốn có tư bản phải vay nước ngoài.
Trước đây các nước giàu thường đầu tư vào nước nghèo, công việc này mang
lại lợi ích cho cả hai bên. Tuy nhiên, do phong trào giải phóng dân tộc đe doạ
sự an toàn của tư bản đầu tư, nhiều nhà đầu tư ngần ngại không muốn gửi
tiền ra nước ngoài. Thêm vào đó, hầu hết các nước nghèo là những con nợ
lớn và không có khả năng trả nợ gốc và lãi, họ phải xin hoãn nợ. Vì vậy, tư bản
là vấn đề nan giải.
D. THAY ĐỔI VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Yếu tố cuối cùng của tăng trưởng là tiến bộ công nghệ. Ở đây, các nước đang
phát triển có một lợi thế lớn: họ có thể hi vọng được lợi bằng cách dựa vào
những tiến bộ công nghệ của các nước phát triển hơn.
Sao chép công nghệ. Các nước nghèo không cần phải khám phá ra những
định luật, họ có thể học được định luật đó ở bất kì cuốn sách nào. Họ cũng
không cần phải lặp đi lặp lại những bước đi chật vật và chậm chạp của Cách
mạng Công nghiệp, họ có thể mua máy kéo, máy tính và máy dệt chạy điện
mà những nhà buôn lớn ngày xưa không dám mơ đến.
Nhật Bản và Mỹ là đã chứng minh điều này trong lịch sử phát triển của mình.
Nhật Bản tham gia cuộc chạy đua công nghiệp muộn và chỉ từ thế kỉ XIX mới
gửi sinh viên ra nước ngoài học công nghệ của phương Tây. Dựa vào ứng dụng
công nghệ của nước ngoài, Nhật Bản đã trở thành nền kinh tế công nghiệp lớn
thứ hai thế giới.
Còn Mỹ, những phát minh quan trọng trong lĩnh vực ôtô hầu hết có nguồn gốc
từ nước ngoài. Tuy nhiên, các hãng Ford và General Motors đã áp dụng những
phát minh của nước ngoài và nhanh chóng trở thành nhà đứng đầu của thế
giới trong ngành công nghiệp ôtô. Những ví dụ về Nhật và Mỹ cho thấy các
nước có thể giàu lên nhờ áp dụng khoa học và công nghệ của nước ngoài như
thế nào trong điều kiện thị trường trong nước.
Ý thức kinh doanh và đổi mới. Trên thực tế, thay đổi công nghệ không đơn
giản như vậy. Nên nhớ rằng, công nghệ tiên tiến bản than nó cũng phát triển

dục, phát triển kĩ năng và kiềm chế dân số thì có thể phá vỡ cái vòng luẩn
quẩn của nghèo đói và kích thích được cái vòng xán lạn của phát triển kinh tế
nhanh chóng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu
tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân
biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà
đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ"
và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Lợi ích của thu hút FDI:
Bổ sung nguồn vốn trong nước
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi
một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa.
Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước
ngoài, trong đó có vốn FDI.
Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động
được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công
nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút
FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ
và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển
qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các
công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất
nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư
của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ
làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu
vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản

@ Lịch sử các học thuyết kinh tế TS. Hoàng An Quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status