Khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”. - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

Danh mục viết tắt
3R
BCL
BVMT
CTR
CTRSH
CTNH
DO
KT – XH
ÔNMT
QCVN
QLCTNH
QLCTR
TCVN
TN & MT
VBQPPL
VSMT
VSV


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

DANH MỤC HÌNH


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.

Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung cua Thế giới,
nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương làm cho
bộ mặt xã hội có những chuyển biến tích cực, đời sống con người ngày
càng được cải thiện. Nước ta là một trong những quốc gia có mật độ dân
số cao nhất thế giới, với số dân đứng thứ 3 ở Đông Nam Á và đứng thứ 14
trên thế giới. Quá trình gia tăng dân số nhanh chóng, cùng với đó là những
nhu cầu về sinh hoạt, giáo dục, chăm sóc y tế, giao thông vận tải... cũng
tăng lên. Chính điều này đã và đang gây ra sức ép rất lớn cho môi trường,
đặc biệt là vấn đề rác thải. Khả năng chịu tải cua môi trường tự nhiên là có
giới hạn, khi dân số tăng nhanh và chất thải không được xử lý xả thải vào
môi trường sẽ làm vượt quá khả năng tự làm sạch cua môi trường, tất yếu
sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường.
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tổng lượng rác thải cua

hoạt trên địa bàn xã Tân Phong;
 Tìm hiểu và đánh giá công tác quản lý rác thải sinh hoạt cua xã
Tân Phong;
 Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý
rác thải sinh hoạt tại xã Tân Phong.
1.3. Yêu cầu nghiên cứu
 Thu thập các số liệu trung thực, khách quan phản ánh được thực
trạng công tác quản lý rác thải trên địa bàn xã Tân Phong;
 Các giải pháp đề xuất phù hợp với điều kiện cua địa phương, có tính
thực tiễn và có khả năng áp dụng thực tế.

Phần 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
5


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

2.1. Các khái niệm chung về chất thải
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, chất thải là vật chất ở thể rắn,
lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các
hoạt động khác.
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huy, thải loại chất thải. [1]
Theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP về Quản lý chất thải rắn, Chất thải rắn
được hiểu là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Rác thải là thuật ngữ dùng để chỉ CTR hình dạng tương đối ổn định, bị
thải bỏ từ hoạt động cua con người.

khác trong gia đình, trong kho cua các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại
xỉ than.
 Các chất rắn từ đường phố có thành phần chu yếu là lá cây, que cui, nilon,
vỏ bao gói…
 Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất
công nghiệp và tiểu thu công nghiệp.
 Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ do
các hoạt động phá vỡ, xây dựng công trình…
 Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và mẩu thừa thải ra từ các hoạt
động nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, chăn nuôi,
chế biến nông sản. [8]
2.2.2. Phân loại theo mức độ nguy hại
 Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại,
chất thải sinh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy nổ hoặc các chất thải
phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan… có nguy cơ đe dọa tới sức
khỏe con người, động vật, cây cối.
 Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp
chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hay tương tác các thành
phần. [8]

2.2.3.Phân loại theo thành phần
 Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật
liệu xây dựng (gạch, vữa, thuy tinh, gốm sứ…)
 Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc từ hữu cơ như thực phẩm
thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi đến các dung môi hữu cơ, nhựa,
dầu mỡ… [8]

7



phi sản xuất

con người

quản lý

đối ngoại

CHẤT THẢI

Dạng lỏng

Bùn ga
cống

Dạng khí

Chất lỏng
dầu mỡ

Dạng rắn

Hơi

Chất thải

Chất thải

sinh hoạt


chất
cháy
được

Các
chất
không
cháy

Lại Thị Mừng – MTB54

Các vật liệu làm từ bột giấy

Các túi giấy, bìa,…

Các sản phẩm có nguồn gốc từ sợi

Vải, len…

Thực
phẩm

Các chất thải ra từ đồ ăn, thực Cọng rau, vỏ hoa
phẩm
quả, thân cây,…

Cỏ, gỗ,
rơm rạ…

Các vật liệu và sản phẩm được chế Đồ dùng bằng gỗ

thuy tinh
bằng thuy tinh…
Đá và
sành sứ

Các chất hỗn hợp

Bất kỳ các vật liệu không cháy Vỏ trai, ốc, xương,
khác ngoài kim loại và thuy tinh
gạch, đá, …
Các vật liệu khác. Loại này có thể Đá cuội, cát, đất,
chia thành hai phần: kích thước lớn tóc…
hơn 5 mm và nhỏ hơn 5 mm.

Nguồn: Quản lý chất thải – Chất thải rắn đô thị (2010) [7]
Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy, thành phần cua rác thải sinh hoạt rất đa dạng
và phức tạp. Trạng thái,tính chất cua các thành phần có những đặc trưng
riêng.
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2011, trong thành phần rác thải
đưa đến các bãi chôn lấp, thành phần rác hữu cơ chiếm từ 54 - 77,1%,
9


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

thành phần nhựa: 8 - 16%, thành phần kim loại đến 2%, CTNH bị thải lẫn
vào chất thải sinh hoạt nhỏ hơn 1%. Ta thấy, tỷ lệ chất hữu cơ trong rác
thải khá cao như hiện nay, nếu các hoạt động quản lý rác thải được tăng

Giá trị
Giá trị cao
nhất
nhất
thấp nhất
nhất
5
15
40
2.000.000
8
120
300
20.000.000
[Nguồn: Báo cáo Môi trường quốc gia 2011]
10


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

Trong rác thải sinh hoạt còn chứa một lượng lớn túi nylon. Đây là loại
chất khó phân huy, phải mất từ hàng chục năm cho tới một vài thế kỷ mới
được phân huy hoàn toàn trong tự nhiên. Sự tồn tại cua nó trong môi
trường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất do ngăn cản ôxy đi qua đất,
gây xói mòn đất, làm cho đất không giữ được nước, chất dinh dưỡng, làm
giảm sức sản xuất cua đất. [20]
CTR đặc biệt là chất thải nguy hại, chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim
loại nặng, chất phóng xạ... nếu không được xử lý đúng cách, khi chôn lấp

Chất thải rắn, đặc biệt là CTRSH, có thành phần hữu cơ chiếm chu yếu.
Dưới tác động cua nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật. CTR hữu cơ bị phân
huy và sản sinh ra các chất khí (CH 4 và CO2 chu yếu phát sinh từ các bãi
rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu
chôn lấp.
Khi vận chuyển và lưu trữ CTR sẽ phát sinh mùi do quá trình phân huy
các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí. Các khí phát sinh từ
quá trình phân huy trong CTR: Amoni có mùi khai, phân có mùi hôi,
Hydrosunfur mùi trứng thối…
Bên cạnh hoạt động chôn lấp, việc xử lý CTR bằng biện pháp tiêu huy
cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí. Việc đốt rác làm
phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu. Trong CTR có thể bao gồm các
hợp chất Clo, Flo, lưu huỳnh và nito, khi đốt lên làm phát thải một lượng
không nhỏ các chất khí độc hại. Mặt khác, nếu nhiệt độ tại lò đốt rác không
đu cao và hệ thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến
cho CTR không được tiêu huy hoàn toàn làm phát sinh các khí CO, NO x,
dioxin và furan bay hơi là các chất rất độc hại đối với sức khỏe con người.
Ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn do vận hành các máy ép cua hệ
thống thu khí, các xe vận chuyển và nhà máy xử lý rác. [2]
2.4.4. Tác động của chất thải rắn đối với sức khỏe con người
Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi
trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với
người dân sống gần khu vực bãi chôn lấp chất thải.
Trong Báo cáo “Đánh giá ảnh hưởng cua bãi rác tập trung đến sức khỏe
dân cư xung quanh, xây dựng hướng dẫn tiêu chuẩn vệ sinh bãi rác” cua
Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường, 2009. Nghiên cứu được thực
hiện tại tỉnh Lạng Sơn. Trong đó:

12


2.5.1.Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp đốt
Đốt là quá trình oxy hóa khử CTR bằng oxy không khí (trong điều kiện
đu hoặc dư) ở nhiệt độ cao.
Chất thải rắn từ khi nạp vào lò tới khi cháy sẽ trải qua các giai đoạn :
sấy, nhiệt phân, cháy và tạo thành tro xỉ. Khi phân tích thành phần chất thải
rắn (C, H,O, S, tro) nếu hàm lượng C và H lớn sẽ thích hợp cho sử dụng

13


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

phương pháp đốt, ngược lại nếu độ ẩm và tro lớn nên dùng các phương
pháp khác. [9]
Phương pháp này so với các phương pháp khác (chôn lấp) có ưu điểm
là chỉ cần một diện tích đất tương đối nhỏ do thể tích và khối lượng CTR
giảm tới mức nhỏ nhất so với ban đầu, chất thải rắn có thể được xử lý tại
chỗ mà không cần phải vận chuyển đi xa, tránh được các rui ro và giảm
thiểu chi phí vận chuyển. CTR được xử lý triệt để (giảm khoảng 80 – 90%
khối lượng phần hữu cơ trong CTR, CTR chuyển thành dạng khí trong thời
gian ngắn. Nhiệt cua quá trình có thể tận dụng cho nhiều mục đích khác
nhau như phát điện, sản xuất hơi nước nóng. Kỹ thuật này phù hợp đối với
chất thải trơ về mặt hóa học, chất thải khó phân huy sinh học. [7]
Tuy nhiên, phương pháp nhiệt không phải đã giải quyết được tất cả các
vấn đề phát sinh từ CTR, phương pháp này vẫn còn một số bất lợi như:
không phải tất cả các CTR đều có thể đốt được, ví dụ như chất thải có hàm
lượng ẩm quá cao hay các thành phần không cháy cao.Việc thiết kế, vận
hành lò đốt phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao, chế độ tập

hậu và phương pháp thực hiện, nên chất lượng sản phẩm còn chưa ổn định,
quá trình u phân thường tạo ra mùi hôi, gây mất mỹ quan. [7]
2.5.3.Phương pháp chôn lấp chất thải rắn
Chôn lấp hợp vệ sinh là một hợp phần trong hệ thống quản lý chất thải
rắn tổng hợp. Một BCL hợp vệ sinh, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn an
toàn – vệ sinh còn phải tuân thu những quy định về BVMT. Theo quy định
cua TCVN 6696 /2000, BCL hợp vệ sinh được định nghĩa là khu vực được
quy định thiết kế, xây dựng để chôn lấp các chất thải phát sinh từ các khu
dân cư, đô thị và các khu công nghiệp. BCL bao gồm các ô chôn lấp chất
thải, vùng đệm, các công trình phụ trợ khác như trạm xử lý nước, trạm xử
lý khí thải, trạm cung xấp điện nước, văn phòng làm việc và các hạng mục
khác để giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực cua BCL tới môi trường
xung quanh. [9]
BCL hợp vệ sinh có những ưu điểm là chi phí đầu tư ban đầu và chi phí
hoạt động cua BCL thấp so với các phương pháp khác (đốt, u phân). BCL
có thể nhận tất cả các loại CTR mà không cần thiết phải thu gom riêng lẻ
hay phân loại. Do bị nén chặt và phu đất lên trên nên các côn trùng, chuột
bọ, ruồi muỗi không sinh sôi nảy nở được. Các BCL hợp vệ sinh sau khi
15


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

đóng cửa có thể xây dựng thành các công trình như công viên, các sân
chơi, sân vận động… [7]
Áp dụng phương pháp này còn tận thu được nguồn năng lượng từ khí
phát sinh trong BCL như khí CH 4 có ích trong đời sống cua con người
cũng như trong sản xuất. [5]

rác

Khối kiện
sau khi ép

loại
Thuy
tinh
Giấy

Băng tải

Máy

thải vật liệu

ép rác

Nhựa

Hình 2.3. Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải bằng phương pháp ép kiện [5]
Các kiện rác đã ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn hoặc san
lấp những vùng đất trũng sau khi được phu lên các lớp đất cát. Trên diện
16


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54



Hình 2.4. Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải băng phương pháp Hydromex [5]
Công nghệ Hydromex có thể xử lý được cả chất thải rắn và lỏng,
trạm xử lý có thể di chuyển hoặc cố định, quá trình vận hành đơn giản, chi
phí đầu tư không lớn, sản phẩm thu được sau quá trình xử lý đem lại lợi ích

17


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

kinh tế. Việc áp dụng công nghệ này tăng cường tái sử dụng chất thải và
tiết kiệm diện tích chôn lấp [7]
Tuy nhiên, đây là một công nghệ xử lý rác chưa được áp dụng rộng rãi
trên Thế giới [5]
2.6. Thực trạng công tác quản lý rác thải trên Thế giới và Việt Nam
2.6.1. Công tác quản lý rác thải trên Thế giới
Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài
nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người. Mức
sống cua người dân ở khu vực nào càng cao thì lượng chất thải phát sinh
càng nhiều. Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều
hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là
2,8 kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển là 0,5 kg/người/ngày. [15]
Với sự gia tăng cua rác thì việc thu gom, phân loại, xử lý rác thải là vấn
đề mang tính toàn cầu. Do đó, chính phu các nước đang cố gắng tìm biện
pháp giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả nhất.
Nhật Bản, Singapore là một trong những nước châu Á đi đầu trong việc
BVMT, đặc biệt là xử lý rác thải rất hiệu quả.

nhà máy phân loại để tái chế
 Loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả không cao, nhưng cháy được sẽ
đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng.
Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc
khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác cua cụm dân
cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát cua đại diện cụm dân cư.
Nhật Bản quản lý rác thải công nghiệp rất chặt chẽ. Các doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất tại Nhật Bản phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải cua
mình theo quy định các luật về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Chính quyền
tại các địa phương Nhật Bản còn tổ chức các chiến dịch “xanh, sạch, đẹp”
tại các phố, phường, nhằm nâng cao nhận thức cua người dân. Chương trình
này đã được đưa vào trường học và đạt hiệu quả.[15]
2.6.1.2. Hiện trạng quản lý rác thải tại Singapore
Singapore gia nhập hàng ngũ những quốc gia xanh và sạch nhất thế giới
là nhờ áp dụng chiến lược quản lý môi trường hợp lý với thái độ cứng rắn
và kiên trì. Những điểm sáng trong chiến lược dài hạn này là kinh nghiệm
19


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

vô giá cho các quốc gia đang quyết tâm vươn lên mục tiêu phát triển bền
vững với môi trường trong lành.

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Sở


và hạt nhân

Hình 2.5. Sơ đồ tổ chức quản lý chất thải ở Singgapore [14]
Singapore tổ chức chính quyền quản lý theo mô hình chính quyền 1
cấp, Quản lý chất thải là một bộ phận trong hệ thống quản lý môi trường
cua quốc gia. Hệ thống quản lý xuyên suốt, chỉ chịu sự quản lý cua Chính
phu, QLMT bằng luật lệ nghiêm ngặt và thường xuyên giáo dục nâng cao ý
thức người dân về BVMT. Đồng thời công tác kiểm tra được tiến hành chặt

20


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

chẽ và liên tục, đảm bảo những quy định môi trường được tuân thu. Nếu
phát hiện sai phạm, biện pháp chế tài sẽ được áp dụng rất nặng. [14]
Rác thải sinh hoạt được thu gom, sau đó đưa về một khu vực bãi chứa
lớn và toàn bộ rác thải được xử lý tại 4 nhà máy đốt rác. Sản phẩm thu được
sau khi đốt được đưa về bãi chứa trên hòn đảo nhỏ Pulau Semakau, cách
trung tâm thành phố 8 km về phía Nam. Để bảo vệ môi trường, Chính phu
xúc tiến việc thực hiện 3R để kéo dài thời gian sử dụng bãi rác Semakau
càng lâu càng tốt, và cũng giảm việc xây dựng nhà máy đốt rác mới. [15]
Bộ TN&MT quy định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác mỗi
tháng tùy theo phương thức phục vụ. Các phí đổ rác được thu hàng tháng do
ngân hàng PUB đại diện cho Bộ môi trường thực hiện. Phí cho dịch
vụ thu gom rác được cập nhật trên mạng Internet công khai để người dân có
thể theo dõi. Singapore thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp cua
người dân thông qua đường dây nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm

túi nylon sử dụng là rất lớn và chưa được quản lý ở hầu hết tất cả các khâu
cua vòng đời túi nylon. [2]
Trong các giai đoạn trước, công tác quản lý CTR được các nhà quản lý
quan tâm tập trung chu yếu vào công tác thu gom và xử lý các loại chất
thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt cua con người. Chính vì vậy, mô
hình thu gom, xử lý khi đó cũng mới chỉ hình thành ở mức độ đơn giản.
Cho đến nay, công tác quản lý CTR đã mở rộng hơn, bao gồm từ hoạt
động thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý CTR hợp vệ sinh, đảm
bảo các QCVN và TCVN đặt ra. Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế
đặt ra, công tác quản lý CTR được điều chỉnh bằng một hệ thống các
chính sách, văn bản quy phạm pháp luật quy định khá chi tiết. Song song
với đó, hệ thống tổ chức quản lý CTR bắt đầu hình thành và phát triển với
các nguyên tắc tương đối cụ thể.
Hiện nay, tại một số nơi đã áp dụng việc phân loại rác thải tại nguồn
như: Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng… bước đầu đã có những kết quả nhất
định. Tuy nhiên, chương trình này vẫn chưa được áp dụng, triển khai rộng
rãi vì nhiều lý do như chưa đu nguồn lực tài chính để mua sắm trang thiết
bị, đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực thực hiện, đặc biệt là
nhận thức cua người dân vẫn còn hạn chế. Tại một số địa phương triển
khai sự án, do cơ sở hạ tầng khi tiến hành không đồng bộ và do hạn chế,
22


Khóa luận tốt nghiệp

Lại Thị Mừng – MTB54

thiếu đầu tư cho công tác thu gom vận chuyển và xử lý CTR theo từng
loại nên sau khi người dân tiến hành phân loại tại nguồn, công nhân thu
gom và đổ lẫn lộn vào xe vận chuyển để mang đến bãi chôn lấp chung. Do


Lại Thị Mừng – MTB54

tái chế chất dẻo, công nghệ thiêu huy và chôn lấp. Công nghệ này có thể
xử lý triệt để đến 90% khối lượng rác, sản phẩm sau khi xử lý rác thải là
phân vi sinh và những sản phẩm nhựa phục vụ cho đời sống con người
như: ống nước, thùng rác, xô nhựa và gạch lát đường... [17]
Công nghệ Seraphin đang được triển khai ứng dụng tại các Nhà máy xử
lý rác tại Đông Vinh (Nghệ An), Sơn Tây (Hà Nội), Thuy Phương(Thừa
Thiên - Huế). Hầu hết các thiết bị công nghệ ở đây hoàn toàn chế tạo
trong nước với quy mô năng suất 200 tấn/ngày và phù hợp với việc xử lý
rác thải chưa được phân loại tại nguồn cua Việt Nam cũng như thuận lợi
cho việc vận hành, bảo trì bảo dưỡng, thay thế các thiết bị. [17]
Dự kiến công nghệ sẽ được theo ứng dụng cho các nhà máy xử lý rác
thải ở Hải Phòng, Hải Dương, Lào Cai, Gia Lai, Tiền Giang và Long An.
Quy trình xử lý rác thải sinh hoạt theo công nghệ Seraphin có thể được
coi là giải pháp tương đối tổng hợp, có một số lợi ích cơ bản về môi
trường – kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ này gặp phải
một số khó khăn như phải có diện tích nhà xưởng, hầm u lớn dẫn đến chi
phí xây dựng cơ bản lớn. Do rác thải ở Việt Nam chưa được phân loại nên
chất lượng phân compost còn chưa cao. Thêm vào đó người dân chưa có
thói quen sử dụng phân compost. Để khắc phục tình trạng trên, các nhóm
nghiên cứu trong nước đang tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn công
nghệ này. [18]
Về lĩnh vực quản lý RTSH, mặc dù các thể chế, chính sách và hệ thống
VBQPPL trong quản lý CTR ở nước ta đã có những bước tiến bộ đáng
ghi nhận, nhưng vẫn còn một số bất cập. Các VBQPPL quy định về một
số vấn đề cua công tác QLCTR như nguồn nhân lực, bộ máy tổ chức, trình
độ, các hướng dẫn kỹ thuật...vẫn còn thiếu, dẫn đến các hoạt động
QLCTR khó triển khai trong thực tế, đặc biệt đối với công tác QLCTNH.

mới vào năm 2020. Năm 2010, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch Mạng
lưới xử lý và chôn lấp rác thải tại các xã, thị trấn tỉnh đến năm 2020 và
định hướng sau năm 2020. Quy hoạch đã tính toán trữ lượng rác thải hàng
năm và dự báo 10 đến 15 năm sau cho các xã và huyện trong tỉnh dựa vào
căn cứ quy mô phát triển dân số, tình hình phát triển KT-XH. Phương án
xử lý rác thải hợp lý nhất từ nay đến năm 2020 là chôn lấp vệ sinh theo
đúng quy trình kỹ thuật. [24]

25


Trích đoạn Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Tân Phong Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt Biện pháp quản lý Biện pháp xử lý TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status