TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
===£oBQoa===
DƯƠNG THỊ THANH THẢO
ĐA DẠNG SINH HỌC CỒN TRÙNG NƯỚC ở ĐAI CAO
600 - 1000M THUÔC ĐIA PHÀN
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO - HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI
HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI, 2015
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ThS. Nguyễn Văn Hiếu,
cán bộ giảng dạy tổ Động vật, khoa Sinh - KTNN, trường Đại Học Sư Phạm Hà
LỜI CẢM ƠN
Nôi 2, đã tận tình hướng dẫn và đưa ra những ý kiến quý báu trong suốt thòi gian tôi
thực hiện đề tài này.
Tôi cũng xin gửi lòi cảm ơn chân thành tói tất cả các thầy cô giáo, cán bộ nghiên
cứu đang công tác tại tổ Động vật, đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình
nghiên cứu khoa học và làm thực nghiệm tại bộ môn.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thảnh nhất đến gia đình, bạn bè, thầy cô những
người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa
học.
Hình 3.5. Sự biến đổi thành phần loài theo độ cao của các bộ côn trùng nước..
47 Hình 3.6. Sơ đồ Sorensen thể hiện mối liên quan giữa các điểm nghiên
cứu .... 49
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Côn trùng nước là một trong những nhóm sinh vật quan trọng toong hệ sinh thái các
thủy vực nước đứng cũng như nước chảy, có mặt hầu hết toong các thủy vực nội địa, đặc
biệt rất phổ biến ở các hệ thống sông, suối thuộc vùng trung du, núi cao. Là nhóm sinh vật
có khả năng thích nghi cao: phù hợp với nhiều môi trường thủy vực khác nhau. Nổi trội bởi
số lượng loài cũng như số lượng cá thể lớn...đặc biệt chúng là những mắt xích quan trọng
trong chuỗi và lưới thức ăn. Các loài côn trùng nước không chỉ là những sinh vật tiêu thụ
bậc 1, bậc 2 mà còn là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xương sống. Bên cạnh việc
đóng vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh thái thủy vực và là cầu nối mật
thiết với con người, một số loài côn trùng nước lại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây
bệnh. Chính vì vậy côn trùng nước là đối tượng được nhiều nhà khoa học trên thế giới và
Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Vườn Quốc Gia Tam Đảo là một Vườn quốc gia của Việt Nam, nằm trọn trên dãy núi
Tam Đảo, một dãy núi lớn dài trên 80km, rộng 10 - 15km chạy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam. Vườn trải rộng trên ba tỉnh Vĩnh Phúc (huyện Tam Đảo), Thái Nguyên (huyện Đại
Từ) và Tuyên Quang (huyện Sơn Dương), cách Hà Nội 75km về phía Bắc. Nhưng chủ yếu
thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Phúc. Vườn quốc gia Tam Đảo - Huyện Tam Đảo - Tỉnh Vĩnh
Phúc là nơi có hệ thống sông, suối phong phú tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước, tuy
nhiên việc nghiên cứu nhóm sinh vật ở đai cao 600 - lOOOm vẫn chưa được nghiên cứu rõ.
Yì vậy tôi lựa chọn hướng nghiên cứu “ Đa dạng sinh học côn trùng nước ở đai cao 600 lOOOm thuộc đia phận Vườn Quốc gia Tam Đảo - Huyện Tam Đảo - Tỉnh Vĩnh Phúc
2. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu đa dạng sinh học côn trung nước và sự
phân bố của côn trùng nước theo mùa ở đai cao 600 - lOOOm thuộc địa phận Vườn quốc
nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Barnes và Minshall, 1983). Đã từ
lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn trùng nước trong các hệ sinh
thái, do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên
cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như:
6
biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái
học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) [29].
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng loạt
các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P. (1983), John C.M.,
Yang Lianfang and Tian Lixin (1994), Merritt R. w. and Cummins K. w. (1996),... Các
nghiên cứu này đã đưa ra khóa định loại tới giống, thậm chí tới loài côn trùng nước dựa vào
hình thái con trưởng thành và ấu trùng. Bên cạnh đó các tác giả còn đề cập đến một số ứng
dụng của chúng trong sinh thái học.
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du (Ephemeroptera) được xếp vào nhóm côn trùng có cánh cổ sinh, những
bằng chứng về hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Cacbon và kỷ Pecmơ
trong đại cổ sinh (cách đây khoảng 250 triệu năm). Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ
rất sớm. Nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758), đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu
Âu và xếp chúng vào một nhóm, ông đặt tên là Ephemera. Có thể xem đây là công trình đầu
tiên đặt nền móng cho các nghiên cứu về Phù du sau này [34].
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình là các
công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930),
Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935). Edmunds (1962), đã xây
dựng hệ thống phân loại đến họ thuộc bộ Phù du trên toàn thế giới. Ông đã đưa ra một bức
tranh tổng thể về khóa phân loại bậc cao cũng như nguồn gốc phát sinh của Phù du. Sau
này, do sự phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực nghiên cứu về Phù du cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu nên hệ thống phân loại của ông càng ngày càng bị hạn chế. Me Cafferty và
giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật
Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983). Hai phân
bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng
phong phú [30].
Trước kia, các công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn chủ yếu tập trung mô tả hình
dạng và đặc điểm ngoài các loài Chuồn chuồn thu thập được ở châu Á và châu Âu nhằm xây
8
dựng khóa định loại. Điển hình cho các công trình nghiên cứu này là: Needham (1930),
Fraser (1933, 1934, 1936), Askew (1988), Zhao (1990), Hisore & Itoh (1993), Wilson
(1955). Watson (1991), nghiên cứu khu hệ chuồn chuồn ở úc. Ngoài các công trình nghiên
cứu về phân loại học còn có những công trình nghiên cứu về Địa động vật học như:
Prinratana (1988), Tsuda (1991). Các công trình nghiên cứu về Sinh học và Sinh thái học
của Corbet (1980), Hutchinson (1993). Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai
đoạn trưởng thành. Đối với giai đoạn ấu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa
định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á. Merritt và Cummins (1996),
xây dựng khóa định loại tới giống ở cả giai đoạn thiếu trùng và trưởng thành bộ Chuồn
chuồn thuộc khu vực Bắc Mỹ [2].
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp (Plecoptera) biết khoảng 2.000 loài và là một
ữong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiện nay. Hóa
thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặc điểm khác biệt
với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes, 1976) [18].
Đe nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có 3 đốt bàn
nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loài thuộc bộ Cánh
thẳng (như dế và châu chấu). Chúng có angten dài dạng chỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các
ấu trùng ở nước. Hầu hết, cánh của các loài thuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi
lại ngắn. Các đặc điểm đó dùng để phân biệt chúng với bộ Cánh màng. Ấu trùng bộ Cánh
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911, 1915,
1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932), đặc biệt là Ulmer khi
nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951, 1955, 1957). Ông đã cung cấp những thông
tin cơ bản về Cánh lông ở khu vực nghiên cứu này. Cánh lông ở Borneo đã được nghiên
cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955). Ở Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên
nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này. Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu
dựa vào giai đoạn ấu trùng. Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn
trưởng thành. Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng
1
0
thành lại càng được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (19871989), Chantaramongkol (1986, 1989, 1995), Malicky (1970, 1978,1979, 1981, 1987, 1989,
1992, 1993, 1994, 1995, 1997, 1998, 2000, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol
(1989, 1991 - 1994, 1996, 1997, 2000), Mey (1989, 1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003),
Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage
và Arefina (2003), Klaithong (2003). Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu
trên ấu trùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [22]. [30].
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông cũng
được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ân Độ, Srilanka được nghiên cứu bởi
Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata,
1927; Tanida, 1987). Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước
dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm
tìm hiểu. Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ
như nghiên cứu của Wiggins (1996). Ở khu vực Bắc Mỹ, Merritt R. w. & Cummins K. w.
(1996), đã xây dựng khóa định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và
trưởng thành [22].
* Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn trùng biến
họ rất phổ biến và được nghiên cứu rất kỹ, do chúng có quan hệ chặt chẽ với đời sống con
người như họ Muỗi (Culicidae), họ Ruồi đen (Simuliidae). Các nghiên cứu về bộ Hai cánh
đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của
Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989). Đối với khu vực châu Á,
Delfïnado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần
loài của bộ Hai cánh ở miền Ân Độ - Mã Lai. Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ
yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990) [29].[30].
*
Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, ữên thế giới đã xác định được
trên4.000
1
2
loài thuộc bộ Cánh nửa
sống ở nước (Dudgeon, 1999). Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu thế,
đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở khu vực này
(Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994). Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở
châu Á được bắt đầu khá sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970),
Lansbury (1972, 1973). Các họ toong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae
được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới châu Á
đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991, 1992), Sites và cộng
sự (1997). Merritt & Cummins (1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại
tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc.[30].[31].
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và Leptopodomorpha.
Ephemera.[34].
Đặng Ngọc Thanh (1967), mô tả một loài mới thuộc họ Heptageniidae khi nghiên
cứu về khu hệ Động vật Không xương sống ở miền Bắc Việt Nam. Đặng Ngọc Thanh
(1980) xác định khu hệ Phù du ở Việt Nam có 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau. Đặc
biệt trong nghiên cứu này ông đã mô tả hai loài mới cho khoa học đó là Thaỉerosphyrus
vietnamensỉs Dang và Neoephemeropsis cuaraoensis Dang [7], [34].
Braacsh & Soldan (1979, 1984, 1986, 1988) đã mô tả 10 loài mới thuộc họ
Heptagenidae thu được từ một số suối ở Việt Nam.
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhóm động
vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng khoá định loại tới họ
ấu trùng Phù du. Ket quả của công trình này là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu phân loại
về Phù du cũng như việc sử dụng đối tượng này là sinh vật chỉ thị cho các thuỷ vực nước
ngọt ở Việt Nam.
Nguyễn Văn Vịnh & Yeon Jae Bae (2003, 2004, 2005, 2006, 2008) đã tiến hành
nghiên cứu khu hệ phù du ở một số Vườn quốc gia của Việt Nam đồng thời công bố một số
loài mới cho khu hệ Phù du ở Việt Nam và cho khoa học. Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xây
dựng khóa định loại và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt
Nam. Nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du
ở nước ta.
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn và chưa
thành hệ thống. Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành. Bộ Chuồn
chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ
XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo
1
4
được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương. Trong báo cáo này, ông
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), khi định loại các nhóm động
vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam cũng đã xây dựng khóa định loại
tới họ của bộ Cánh úp. Đồng thời, ông cũng đánh giá chất lượng nước dựa vào họ Perlidae
thuộc bộ này.
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm. Những tài liệu về Cánh lông
đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âu như: Đức (Ulmer,
1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913). Sau những nghiên cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài
Hydromanicus buenningi và Paraphlegopterỵx tonkinensis, ông đã đặt nền móng cho việc
nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam. Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930,
1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae
(Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae. Banks (1931) và
Mosely (1934) nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae.
Oláh (1987 - 1989) mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và
Rhyacophiloidae [22].
Malicky và Mey (2001), mô tả 2 loài mới thuộc giống Ceratopsyche ở miền Bắc
Việt Nam. Schefter và Johanson (2001), mô tả 3 loài thuộc giống Helỉcopsyche. Nguyễn
Văn Vịnh và cộng sự (2001) định loại được 23 loài thuộc 16 họ của bộ Cánh lông ở Vườn
quốc gia Tam Đảo khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước tại khu vực này.
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóa định
loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta. Hoàng Đức Huy (2005) mô tả đặc điểm
hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở Việt Nam dựa vào giai đoạn ấu trùng.
*
Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh vảy và bộ
Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh
(Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn. Các
nghiên cứu thường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình
trường nước ở khu vực nghiên cứu [3].
1
7
Nguyễn Văn Vịnh (2003), khi nghiên cứu khu hệ Phù du ở Việt Nam, tác giả đã xây
dựng khóa định loại tới loài của các đại diện thuộc bộ Phù du. Vườn quốc gia Tam Đảo là
một trong các khu vực điều tea khi tác giả thực hiện nghiên cứu này. Tác giả cũng đã mô tả
đặc điểm hình dạng và cấu tạo ngoài của các loài tìm thấy ở khu vực nghiên cứu này [34].
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2004), đã sử dụng
các nhóm động vật không xương sống cỡ lớn để giám sát sinh học môi trường nước ngọt tại
một số khu vực thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo. Trong đối tượng nghiên cứu có các loài
thuộc nhóm côn trùng nước. Ket quả nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các họ của bộ Phù du
(Ephemeroptera), bộ Cánh lông (Trichoptera) và chỉ một họ của bộ Cánh úp (Plecoptera)
được tìm thấy ở những nơi nước sạch, chủ yếu là những điểm ở đầu con suối [6].
Nguyễn Văn Vịnh (2004), đã công bố nghiên cứu về khu hệ Phù du (Ephemeroptera)
ở suối Thác Bạc. Tác giả đã xác định được 32 loài thuộc 24 giống và 8 họ. Trong đó có 10
loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam. Ngoài việc phân loại các loài
thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về sự phân bố của chúng theo độ cao của suối
Thác Bạc [36].
Hoàng Đức Huy (2005), khi nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở nước ta, tác giả đã mô tả
khá tỉ mỉ đặc điểm các loài thuộc bộ này. Vườn quốc gia Tam Đảo là một trong các khu vực
nghiên cứu khi tác giả thực hiện đề tài. Trong nghiên cứu, tác giả đã mô tả khá chi tiết hình
dạng ngoài của các loài thuộc bộ Cánh lông ở Việt Nam [22].
Trần Anh Đức (2008), trong nghiên cứu về khu hệ Gerridae (bộ Cánh nửa) ở Việt
Nam cũng đã mô tả đặc điểm một số loài thuộc họ này ở VQG Tam Đảo [42].
Như vậy, các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước ở Vườn quốc gia Tam
Đảo tập trung vào một số bộ phổ biến như bộ Phù du, bộ Cánh úp, bộ Cánh lông, bộ Cánh
nửa. Các công ưình nghiên cứu chủ yếu theo hướng xác định thành phần loài trên cơ sở các
-
Phía Bắc là đường Quốc lộ 13A từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang qua Đèo
Khế.
-
Phía Đông Bắc là đường ô tô giáp chân núi từ xã Quân Chu đến gặp Quốc lộ 13A tại
xã Phú Xuyên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).
-Phía Nam là ranh giới các huyện Tam Đảo, Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc; Phổ
Yên, Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên.
1
9
-Phía Tây Nam hợp bởi đường ô tô phía trái sông Phó Đáy nối từ đường 13A tại xã
Kháng Nhật, qua mỏ thiếc Sơn Dương, dọc theo chân núi Tam Đảo gặp sông Bà Hanh tại xã
Mỹ Khê bên hồ Đại Lải.
1.4.2.
Địa hình
Vườn quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình khối đồ
sộ, nằm ở phía Bắc đồng bằng Bắc bộ, chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Cả dãy
núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và dầy. Chiều dài khối núi
gần 80km, có gần 20 đỉnh cao trên 1.000m được nối với nhau bằng đường dông sắc nhọn.
Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1.592m) là ranh giới địa chính của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên, Tuyên Quang. Chiều ngang biến động trong khoảng 10 - 15km. Núi cao, bề ngang
lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình quân 25 - 35°, nhiều nơi trên 35° nên rất hiểm trở và khó
Trong quá trình điều tra lập địa có 4 loại đất chính ở VQG Tam Đảo đã được phát
hiện là [4]:
Đất Feralit mùn, vàng nhạt: loại đất này phát triển trên núi trung bình, diện tích vào
khoảng 8.968 ha (chiếm 17,1%).
Đất Feralit mùn, vàng đỏ: loại đất này phân bố trên núi thấp có diện tích 9.292 ha
(chiếm 17,8%).
Đất Feralit đỏ vàng: loại đất này phát triển trên nhiều loại đất đá khác nhau, diện tích
vào khoảng 24.641 ha (chiếm 47%).
Đất phù sa và dốc tụ: loại đất này có diện tích 9.497 ha (chiếm 18,1%).
1.4.4.
Khí hậu
Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng lớn và có sự phân hóa
theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa khí hậu đặc trưng của từng vùng không phải là
vấn đề đơn giản. Dựa trên số liệu khí tượng của trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh
(Tuyên Quang, Vĩnh Yên và Đại Từ) để đưa ra các nhận định khái quát cho toàn vùng như
sau: Tam Đảo thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao. Dựa vào các số liệu quan
trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên và thị trấn
Tam Đảo (Bảng 1).
2
1
Bảng 1. Số liệu khí tượng các trạm trong vùng
Tên yếu tố
Trạm
Trạm
1603,5
1906,2
2630,9
Sô ngày có mưa trong năm
143,5
142,5
193,4
193,7
Lượng mưa tôi đa/ngày
350
284,0
352,9
295,5
Độ âm trung bình (%)
84
tháng nóng nhất là 23°c (tháng 7) và tháng lạnh nhất là 10,8°c (tháng 1). Chênh lệch nhiệt
độ ngày đêm khá lớn.
Lượng mưa trung bình nhiều năm là 2.355mm, cao hơn nhiều so với lượng mưa
trung bình của cả nước (1.960mm/năm) và của tỉnh Vĩnh Phúc (1.500 - 1.800mm/năm).
Lượng mưa ngày lớn nhất đạt 318,6mm. Bình quân hằng năm có khoảng 203 ngày mưa, tập
trung chủ yếu vào tháng 6. Mùa mưa ở Tam Đảo kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 (cao hơn
so với các nơi khác của tỉnh Vĩnh Phúc (5 tháng)). Mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9.
Cao nhất là vào tháng 8. Một vài năm còn xuất hiện hiện tượng mưa đá.
Độ ẩm trung bình nhiều năm là 80 - 87%. Trong mùa mưa, nhất là khi có mưa phùn
độ ẩm tăng lên tới 90%, nhưng đến mùa khô hanh độ ẩm chỉ còn 70 - 75%, đặc biệt có ngày
chỉ còn 60% (vùng núi cao).
Sương mù: bình quân hằng năm có 118 ngày có hiện tượng sương mù.
2
2
Số giờ nắng: một năm bình quân có 1.212 giờ.
Tổng lượng bốc hơi: bình quân hằng năm là 512mm.
Tốc độ gió: bình quân là 3,0 m/s, tốc độ gió cực đại đến 30 m/s.
1.4.5.
Mạng lưới thủy văn
Vườn quốc gia Tam Đảo có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây
(Tuyên Quang, Vĩnh Phúc) và sông Công ở phía Đông (Thái Nguyên). Đường phân thủy rõ
rệt nhất của hai hệ thống sông này là các đường dông nối các đỉnh núi suốt từ Mỹ Khê ở cực
Nam đến Đèo Khế ở điểm cực Bắc. Mạng lưới sông suối hai sườn của VQG Tam Đảo dồn
xuống hai hệ thống sông này có dạng chân rết khá dày đặc và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp
lòng từ đỉnh xuống chân núi. Từ chân núi trở đi sông lại có dạng uốn khúc phức tạp trên mặt
chảy xuống khu vực suối có độ cao thấp với tốc độ chảy rất chậm, lòng suối rộng và nông.
Chương 2
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1.Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 05/2014 đến tháng 05/2015.
Mẩu vật sử dụng trong nghiên cứu được thực hiện ở hai đợt điều tra ngoài thực địa. Các
điểm điều ưa thuộc khu vực suối Thác Bạc ở đai cao 600 - lOOOm của Vườn Quốc gia Tam
Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
•
Đợt 1 được tiến hành từ ngày 23/06/2014 đến ngày 26/06/2014 ( thuộc mùa mưa)
•
Đợt 2 được tiến hành tù ngày 12/11/2014 đến ngày 15/11/2014 (thuộc mùa khô).
Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại phòng thí nghiệm
Động vật học, Khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2.
2.2.Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 3 điểm nghiên cứu thuộc suối Thác Bạc ở đai cao
600 - lOOOm của Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc và được đánh số thứ tự từ ĐI
đến Đ3. Đồng thời, chúng tôi cũng điều tra một số đặc điểm về nền đáy, sinh cảnh tại điểm
thu mẫu.
2
4
Điểm Đl: với độ cao 880m (so với mực nước biển), nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, ít