NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HỘI TỤ MẠNG DI ĐỘNG CỐ ĐỊNH VÀ ỨNG DỤNG CHO MẠNG VIỄN THÔNG CỦA VNPT - Pdf 14

1
LỜI NÓI ĐẦU
Mạng viễn thông Việt nam đã và đang trên đà phát triển. Một thách thức hiện
nay đối với các doanh nghiệp viễn thông nói chung cũng như VNPT nói riêng là xu
hướng sụt giảm doanh thu dịch vụ thoại truyền thống, và sự bùng phát nhanh chóng
nhu cầu dịch vụ di động cũng như các dịch vụ đa phương tiện. Dịch vụ thoại truyền
thống sẽ được thay thế bởi dịch vụ thoại VoIP, kết hợp với hình ảnh, hội thảo truyền
hình chất lượng cao đảm bảo đáp ứng nhu cầu khách hàng. Để có thể cung cấp đa
dạng dịch vụ, VNPT xác định mục tiêu xây dựng kiến trúc mạng NGN mới cho phép
khách hàng truy nhập dịch vụ linh hoạt, mọi nơi, mọi thời điểm không hạn chế bởi hệ
thống mạng truy nhập với chất lượng dịch vụ bảo đảm. Nhiều dịch vụ giá trị gia tăng
được phát triển trên nền mạng di động. Tuy nhiên nói chung, dịch vụ của mạng cố
định và di động vẫn phát triển riêng rẽ, thuê bao của mạng cố định không sử dụng
được dịch vụ cho thuê bao di động. Trong khi đó, mạng cố định đã tương đối bão
hoà, việc sử dụng dịch vụ VoIP vẫn còn hạn chế. Để tăng nguồn thu cho nhà cung
cấp mạng cố định cũng như bổ sung dịch vụ có sẵn trên mạng cố định cho các thuê
bao di động, hội tụ cố định – di động là một định hướng quan trọng. Hội tụ cố định –
di động giúp các nhà cung cấp dịch vụ giảm việc nhảy mạng, giảm thiểu chi phí vận
hành và đầu tư nhờ vào việc cung cấp các dịch vụ kết nối giá trị gia tăng, cho phép
người sử dụng “chuyển vùng” giữa mạng cố định và mạng di động một cách thuận
tiện. Vì vậy các nhà vận hành mạng cũng như các nhà cung cấp dịch vụ đều quan tâm
đến việc nghiên cứu giải pháp này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là: dựa vào các xu hướng viễn thông cũng
như các chuẩn hoá liên quan trên thế giới, dựa vào việc phân tích hiện trạng mạng
viễn thông cũng như dịch vụ của VNPT, nghiên cứu các mô hình hội tụ cố định – di
động, các giải pháp hội tụ đã được các tổ chức viễn thông có uy tín và kinh nghiệm
trên thế giới đưa ra để từ đó đề xuất hướng ứng dụng cho mạng viễn thông của
VNPT.
2
Do đặc thù tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của VNPT (mạng cố định và
di động là do các đơn vị khác nhau vận hành và khai thác) nên việc xây dựng phương

phát triển một mạng riêng cho mỗi dịch vụ (mô hình phát triển dịch vụ theo phương
thẳng đứng) sang xây dựng mạng có khả năng cung cấp rất nhiều loại dịch vụ (mô
hình phát triển dịch vụ theo phương nằm ngang), khả năng cung cấp dịch vụ đồng
thời cho cả thuê bao cố định và thuê bao di động (hội tụ dịch vụ), khả năng điều
khiển mạng cố định và mạng cố định dựa trên một kiến trúc điều khiển duy nhất (hội
tụ mạng), khả năng truy nhập mạng cố định và di động từ một thiết bị cầm tay (hội tụ
thiết bị).
Cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ thoại ngày một khốc liệt đối với cả mạng di
động và cố định. Để tiếp tục đứng vững và phát triển, các nhà khai thác mạng truyền
thống và các đối thủ mới sẽ phải nhắm sang nhóm thị trường mới, cung cấp các gói
dịch vụ mới từ các dịch vụ mà trước đây được cung cấp riêng rẽ bởi nhiều nhà cung
cấp dịch vụ khác nhau. Các nhà khai thác mạng di động đang nỗ lực cung cấp thêm
các dịch vụ giá trị gia tăng nhằm tăng tính cạnh tranh với dịch vụ của mạng cố định.
Các nhà khai thác khác thì tập trung vào các dịch vụ tích hợp cho thị trường doanh
nghiệp. Các nhà khai thác mạng cố định lại tìm kiếm phương thức bổ sung tính năng
di động vào mạng băng rộng. Họ có thể tích hợp điểm truy nhập băng rộng trong các
khu nhà cao tầng bằng WLAN sử dụng các băng tần không cần giấy phép. Các nhà
khai thác mạng cố định băng rộng cũng cung cấp các dịch vụ triple-play nhằm tận
dụng tối đa lợi thế về băng thông của mình. Ngoài ra, họ còn bán lại băng thông cho
các nhà khai thác mạng khác. Các nhà khai thác mạng di động và cố định tận dụng
tiềm lực của mình thông qua các gói dịch vụ giá trị gia tăng. Họ có thể hợp nhất
mạng để giảm chi phí và nhắm vào các thị trường như đã đề cập ở trên. Các nhà khai
thác truyền hình cáp cũng đang cố gắng xâm nhập thị trường băng rộng và thoại.
Nhiều khả năng là họ cũng sẽ áp dụng chiến lược di động như các nhà khai thác mạng
cố định và tập trung vào lĩnh vực dịch vụ giải trí. Các nhà cung cấp dịch vụ VoIP cố
4
gắng chiếm thị phần nhằm thu hồi và tạo lãi từ các khoản đầu từ vào chi phí thuê
đường kết nối. Nói chung, rất khó có thể xác định một lộ trình phát triển duy nhất cho
từng loại nhà khai thác do họ phải cân nhắc nhiều thứ khác bên cạnh các hoạt động
kinh doanh hiện thời trong khi xây dựng chiến lược phát triển của mình. Tuy nhiên,

- Hội tụ về cung cấp,
- Hội tụ về hạ tầng cơ sở mạng.
I.2.1. Hội tụ về dịch vụ
Khía cạnh hội tụ đầu tiên được thấy trong sự xuất hiện các dịch vụ trung gian
liên kết giữa viễn thông và quảng bá. Truyền thông 1-1 là một thuộc tính cơ bản của
công nghệ viễn thông, nhưng hiện nay giao thức Internet cho phép sử dụng mạng
viễn thông để phân phát thông tin tới nhiều người, chẳng hạn như trình bày lại các nội
dung trên Internet qua các phương tiện của công nghệ streaming. Việc kết hợp
Internet và công nghệ viễn thông sẽ nhận thấy thông tin có bản chất công cộng mà
nhờ đó âm thanh thoại và các hình ảnh động được phát đi tới nhiều người nhận. Các
kiểu phân phát thông tin dạng 1-n đã sẵn có trên mạng thông tin bao gồm các bảng
thông báo điện tử, email, truyền fax, các hệ thống hội nghị truyền hình từ xa và các
trang chủ (homepage). Mặt khác, trong công nghiệp quảng bá dựa trên truyền thông
đại chúng thì BS (broadcasting satellite - vệ tinh quảng bá) và CS (communications
satellite - vệ tinh viễn thông) cũng cho phép đưa vào các dịch vụ mới với bản chất
riêng. Các dịch vụ trung gian này có các đặc điểm của cả viễn thông và quảng bá hy
vọng sẽ được mở rộng trong tương lai.
I.2.2. Hội tụ về thiết bị đầu cuối
Khía cạnh thứ hai là sự hội tụ thiết bị đầu cuối, tức là các thiết bị đầu cuối hay
ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai để sử dụng cho cả viễn thông và quảng
bá. Gần đây, các PC có gắn kèm chức năng thu tín hiệu TV đã xuất hiện trên thị
trường. Cùng với các thiết bị đầu cuối này, con người không chỉ xem được các sóng
tín hiệu quảng bá mặt đất mà còn ghi lại và biên dịch các chương trình. Một website
Inetrnet của Hàn quốc đã cho phép truy nhập theo yêu cầu tới các chương trình phát
sóng quảng bá mặt đất và được rất nhiều người ưa chuộng. Các nhà sản xuất sản
phẩm điện dân dụng cũng đang tham gia vào thị trường với hộp set-top box cho phép
6
truy nhập Internet thông qua TV. Các xu hướng này đã chứng minh sự phát triển tích
cực cho việc hội tụ thiết bị đầu cuối, cung cấp cả dịch vụ viễn thông lẫn dịch vụ
quảng bá trên một thiết bị đầu cuối.

động là một xu thế tất yếu, có ý nghĩa sống còn với các nhà khai thác mạng viễn
thông.
Hiện có 3 tổ chức đang hoạt động rất tích cực trong việc xây dựng một kiến trúc
mạng IP thích hợp cho việc hội tụ cố định – di động là 3GPP, 3GPP2 và ETSI-
TISPAN. Tổ chức 3GPP là liên minh được thành lập năm 1998 nhằm xây dựng một
tiêu chuẩn quốc tế cho mạng không dây 3G. Tiêu chuẩn của 3GPP bao gồm chuẩn
GSM (GPRS và EDGE) và 3G. Tổ chức 3GPP2 cũng là một hiệp hội quốc tế xây
dựng chuẩn mạng không dây 3G, tập trung vào công nghệ CDMA. TISPAN (The
Telecoms & Internet converged Services & Protocols for Advanced Networks) là
nhóm tiêu chuẩn của ETSI, tập trung vào phần hội tụ mạng cố định và Internet.
Kiến trúc mạng IP cần thiết cho hội tụ cố định – di động đều dựa trên kiến trúc
IMS của3GPP. Vị trí của IMS trong kiến trúc NGN của ETSI (tổng quan hơn kiến
trúc mạng của 3GPP) được thể hiện trong Hình I-2. Về cơ bản, kiến trúc mạng NGN
cũng gồm các lớp tương tự như kiến trúc mạng NGN của ITU-T hay MSF. Trong
kiến trúc này, phân hệ đa dịch vụ IP (IMS – IP Multimedia Subsystem) nằm giữa và
Dịch vụ
Báo hiệu IP
Truyền tải IP
Cố định
Không dây
Di động
8
liên kết các lớp truyền tải và lớp dịch vụ, tương ứng với lớp Báo hiệu IP trong Hình
I-1.

Hình I-2: Kiến trúc mạng NGN (nguồn ETSI 2005).
Được đề xuất bởi tổ chức 3GPP như một lớp điều khiển và tích hợp dịch vụ đa
phương tiện cho mạng di động dựa trên công nghệ GSM, IMS đã được các tổ chức
khác như 3GPP2, ETSI, và cả ITU-T ứng dụng vào kiến trúc mạng thế hệ sau của
mình. Nói một cách ngắn ngọn thì IMS là một kiến trúc báo hiệu mở, cho phép hỗ trợ

hoàn thành vào tháng 3 năm 2005. Bản R6 xem xét bổ sung các tính năng khác như:
- Gửi tin trong IMS
- Quản lý nhóm IMS
- Tính năng bổ sung cho SIP
- Hoạt động liên mạng với mạng dùng SIP như không theo kiến trúc IMS
- Hoạt động liên mạng giữa IMS và mạng chuyển mạch kênh bên ngoài
- Hoạt động liên mạng và tình huống chuyển đổi cho mạng IMS dùng Ipv4
- Tăng cường khả năng hỗ trợ QoS
- Công nghệ hỗ trợ cho dịch vụ PoC
- Tính cước từng cuộc từ đầu cuối đến đầu cuối
- Dịch vụ hiện diện.
Các vấn đề kỹ thuật được giải quyết trong bản R7 bao gồm:
- Truy nhập băng rộng cố định tới IMS
- Chất lượng dịch vụ toàn tuyến: giới thiệu cơ chế quản lý và đảm bảo chất
lượng toàn tuyến.
- Thực hiện các cuộc gọi khẩn cấp (cứu hoả, cứu thương, ) trong mạng
chuyển mạch gói và IMS
- Kết hợp cuộc gọi của mạng chuyển mạch kênh với phiên kết nối của IMS
- Kiểm soát chính sách và tính cước.
R7: Được chuẩn hóa theo 3 pha:
- Pha 1: hoàn thành vào tháng 9 năm 2005.
- Pha 2: hoàn thành vào tháng 9 năm 2006.
- Pha 3: hầu hết các tiêu chuẩn đã được hoàn thành trong khoảng thời gian từ
tháng 03-09 năm 2007.
R8: Hiện vẫn đang được chuẩn hóa. Cấu trúc tiêu chuẩn phiên bản IMS Release
8 tương thích với TISPAN Release 2. Kể từ phiên bản này, các hoạt động chuẩn hóa
giữa 3GPP và TISPAN ETSI được liên hệ mật thiết với nhau. Phiên bản Release 8
thực hiện một số cải tiến đối với vấn đề tính cước, quản lý, bảo mật và chuẩn hóa đối
12
với các dịch vụ hội tụ. Có thể nói, Release 8 đảm bảo cho việc triển khai cấu trúc

Các tổ chức tiêu chuẩn vẫn tiếp tục thực hiện các công việc cần thiết liên quan
đến NGN nói chung và IMS nói riêng. Cụ thể là, các thành viên của 3GPP tiếp tục
phối hợp với IETF để đảm bảo rằng các giao thức nền tảng đáp ứng được các yêu cầu
dịch vụ di động của 3GPP. Nhóm 3GPP đã đưa ra kiến trúc IMS hoàn thiện và tiếp
tục mở rộng nó. Tổ chức OMA (Open Mobile Alliance) tiếp tục định nghĩa các dịch
vụ trên nền dịch vụ của IMS. ETSI TISPAN đang xây dựng mạng NGN dựa trên kiến
trúc IMS của 3GPP. 3GPP và ETSI TISPAN tổ chức các cuộc họp chung để chuyển
kiến trúc IMS sang mạng cố định. Ngoài ra, ETSI TISPAN và các tổ chức xây dựng
tiêu chuẩn đang xem xét khả năng tính tương thích giữa kiến trúc NGN của châu Âu
và Mỹ. ETSI TISPAN cũng cung cấp đầu vào quan trọng cho nhóm NGN của ITU-T.
Các tổ chức tiêu chuẩn như ITU-T và ETSI đều đồng ý sử dụng kiến trúc IMS
của tổ chức 3GPP cho phần lõi IMS cho kiến trúc NGN. Bên cạnh đó, kiến trúc NGN
này còn được bổ sung một số hệ thống con khác cần thiết cho mạng cố định như hệ
thống mô phỏng hay simulation PSTN.
Dự báo về nhu cầu thị trường đối với các dịch vụ hội tụ cố định – di động
(Fixed Mobile Convergence – FMC) là rất lớn. Dự báo tháng 10 năm 2007 của công
ty nghiên cứu thị trường về thiết bị FMC cho thấy: thị trường thế giới đối với các
thiết bị FMC (gồm cả các bộ điều khiển mạng UMA, cổng đa truy nhập hội tụ và các
điện thoại hai chế độ di động/wifi) sẽ đạt doanh số bán hàng 46.3 tỷ Đô la Mỹ vào
năm 2010 và số lượng thuê bao sẽ tăng từ 188.000 năm 2006 lên tới con số 38,2 triệu
vào năm 2010. Dự báo này giới hạn đối với dịch vụ thoại hội tụ, còn tiềm năng thị
trường đối với các dịch vụ hội tụ đa phương tiện còn lớn hơn nhiều. Theo dự báo của
Infonetics Research, lợi nhuận thu được sẽ đạt 46,1 tỷ đô la vào năm 2010 với mức
14
tăng trưởng bình quân 1 năm là 31%. Tuy nhiên, hầu hết các hướng triển khai FMC
cho dịch vụ thoại thời gian đầu vẫn còn phụ thuộc vào các mô hình dịch vụ truyền
thống phát triển dựa trên các hệ thống đặc trưng riêng của công ty. Nhiều nhà đầu tư
tin vào khả khả năng FMC cuối cùng sẽ phát triển theo hướng IMS. Công ty Huawei
đã triển khai giải pháp FMC 3.0 dựa trên IMS vào cuối năm 2006.
Hiện nay, trên thế giới nhiều nhà khai thác đã triển khai IMS ở các mức độ khác

Cơ sở dữ liệu thuê bao
Chức năng HSS (Home Subscriber Server) là cơ sở dữ liệu gốc có chức năng hỗ
trợ các thành phần khác của IMS có nhiệm vụ xử lý các phiên kết nối. HSS chứa các
thông tin thuê bao (profile của thuê bao), thực hiện việc xác thực thuê bao, và cung
cấp các thông tin về vị trí hiện tại của thuê bao. Nói một cách khác, nó có chức năng
tương tự như của HLR và AUC của hệ thống GSM.
16
Điều khiển cuộc gọi/phiên kết nối
Các Server CSCF (Call/Session Control Function) là các SIP server có nhiệm
vụ xử lý các gói tin báo hiệu SIP trong IMS. P-CSCF (Proxy-CSCF) là một SIP
Proxy Server có nhiệm vụ làm proxy cho đầu cuối IMS. P-CSCF có thể là server nằm
tại mạng khách (nếu mạng khách tuân thủ IMS) hoặc mạng chủ (nếu mạng khách
không tuân thủ IMS). Thiết bị đầu cuối phát hiện P-CSCF cho nó thông qua DHCP
hoặc được gán bởi PDP Context (dùng GPR).
Server I-CSCF (Interrogating-CSCF) thực chất là một SIP Proxy đặt ở rìa mạng.
Địa chỉ của I-CSCF được quảng bá thông qua hệ thống địa chỉ miền DNS nên các
server khác có thể tìm được và kết nối với nó như cửa ngõ chính để gửi gói tin SIP
vào mạng. I-CSCF truy vấn HSS qua giao diện Cx và Dx qua giao thức DIAMETER
để xác định vị trí thuê bao, để có thể định tuyến yêu cầu SIP đến server S-CSCF phục
vụ thuê bao đó.
Server S-CSCF (Serving-CSCF) là nút có vai trò trung tâm trong hệ thống báo
hiệu. Trên thực tế, nó là một SIP server nhưng có thêm chức năng điều khiển phiên.
S-CSCF bao giờ cũng nằm ở mạng gốc của thuê bao. S-CSCF sử dụng giao diện Cx
và Dx của DIAMETER để truy vấn HSS và tải xuống hay cập nhật profile của thuê
bao. S-CSCF hoàn toàn không lưu thông tin thuê bao.
Server ứng dụng
Server ứng dụng (AS) là nơi thực hiện các dịch vụ, giao diện với S-CSCF thông
qua báo hiệu SIP. Đây là cơ sở để bên cung cấp dịch vụ có thể dễ dàng tích hợp và
triển khai các dịch vụ giá trị gia tăng của họ trên cơ sở hạ tầng IMS.
Server đa phương tiện

Hình II-2. Kiến trúc NGN của TISPAN bổ sung thêm hai khối chức năng mới so với
IMS của 3GPP là phần Kết nối mạng (Network Attachment Subsystem – NASS) và
Điều khiển truy nhập và tài nguyên (Resource and Admission Control Subsystem –
RACS).
NASS: Khối chức năng này có nhiệm vụ thực hiện quá trình đăng ký tại mức
truy nhập và khởi tạo thiết bị đầu cuối để truy nhập vào dịch vụ NGN.
18
Other IP Networks
IP Transport (Access and Core)
T-MGF
I-BGF
AS
HSS
IBCF
A-BGF
P-CSCF
S-CSCF
BGCF
I-CSCF
SLF
Charging
Functions
IWF
UE
« Core IMS »
Mw
Mw
Mw/Mk/Mm
Mr
Mg

T-MGF
I-BGF
AS
HSS
IBCF
A-BGF
P-CSCF
S-CSCF
BGCF
I-CSCF
SLF
Charging
Functions
IWF
UE
« Core IMS »
Mw
Mw
Mw/Mk/Mm
Mr
Mg
Mj
Mi
Mp Mn
Gm
Gq
ISC Cx
Dx
Dh
Sh

kiến trúc MMD (IP Multimedia Domain) của 3GPP2. Về cơ bản, IMS của 3GPP2
giống với IMS của 3GPP. Do vậy, phần này chỉ trình bày một cách tổng quan.
Kiến trúc an ninh mạng của 3GPP cũng dựa trên mô hình Internet. Kiến trúc an
ninh cho mạng chuyển mạch kênh dựa trên IS-41 và cho mạng chuyển mạch gói dựa
trên mô hình AAA của mạng IP.
19
Hình II-3: Kiến trúc an ninh IMS của 3GPP2
Hình II-3 minh hoạ kiến trúc an ninh IMS cả 3GPP2 và 7 quan hệ bảo mật giữa
các phần tử trong mạng được đánh số từ 1 đến 7:
1. Xác thực lẫn nhau giữa UE và S-CSCF
2. Cung cấp kết nối an toàn và liên kết bảo mật giữa UE và P-CSCF, xác thực
nguồn gốc của số liệu cũng được cung cấp
3. Cung cấp chức năng an ninh trong vùng mạng
4. Cung cấp chức năng an ninh cho các nút SIP của các vùng mạng khác nhau
5. Cung cấp chức năng an ninh giữa các nút SIP trong mạng bên trong phân hệ
IMS
6. Cung cấp chức năng an ninh giữa một nút SIP của mạng IP bên ngoài và HSS
7. Cung cấp chức năng an ninh giữa các nút SIP (SIP AS) nằm trên các mạng
khác nhau.
Tính năng bảo mật cho IMS của 3GPP2 bao gồm truy nhập IMS an toàn (thông
qua khả năng xác thực người dùng và mạng, xác thực lại người dùng, bảo vệ thông
tin cá nhân, bảo vệ toàn vẹn số liệu) và dấu cấu trúc mạng.
20
II.2. Các giao thức
II.2.1.SIP
Theo định nghĩa của IETF, SIP là “giao thức báo hiệu lớp ứng dụng mô tả việc
khởi tạo, thay đổi và huỷ các phiên kết nối tương tác đa phương tiện giữa những
người sử dụng”. SIP có thể sử dụng cho rất nhiều các dịch vụ khác nhau trong mạng
IP như dịch vụ thông điệp, thoại, hội nghị, email, dạy học từ xa, quảng bá, v.v… SIP
sử dụng khuôn dạng text, một khuôn dạng thường gặp trong mạng IP. Nó kế thừa các

thuê bao bị gọi.
- Session management – Tạo, kết thúc, và sửa đổi phiên.
Các thực thể của SIP: SIP được chia ra làm hai thành phần. SIP user agent và
SIP network server. SIP user agent thuộc về các hệ thống cuối của cuộc gọi còn SIP
server là các thiết bị mạng điều khiển các liên kết báo hiệu cho nhiều cuộc gọi.
Mở rộng của SIP : Cả IETF và ITU-T đều tham gia nghiên cứu công tác liên vận
PSTN/SIP, theo những công việc riêng. Nhóm làm việc SIPPING của IETF giới thiệu
SIP-T (SIP cho mạng điện thoại). ITU-T cũng đã có sự công nhận đối với SIP và ban
hành Tiêu chuẩn Q.1912.5, trong đó miêu tả phương thức phối hợp hoạt động giữa
SIP với ISUP/BICC. Q.1912.5 cũng thường được nhắc đến bằng tên gọi “SIP-I” hoặc
“SIP with encapsulated ISUP” hoặc “SIP with MIME endoded ISUP”, hoặc ITU-T
SIP Profile C.
SIP-T
SIP-T là một mở rộng của SIP nhằm tạo ra một phương thức liên vận giữa mạng
PSTN truyền thống với mạng gói. SIP-T hỗ trợ MGC trong việc thiết lập, xoá bỏ và
quản lý các cuộc gọi thoại. SIP-T rất linh hoạt, nó bao gồm nhưng không bị hạn chế
các giao thức báo hiệu SS7, ISDN, CAS. Như vậy SIP-T là mở rộng của SIP để thực
hiện quản lý các bản tin PSTN giữa O_MGC và T_MGC. SIP-T đóng gói các bản tin
báo hiệu PSTN sử dụng mã hoá MIME. Kỹ thuật này cho phép các bản tin báo hiệu
PSTN được đi ngầm qua mạng báo hiệu SIP giữa các MGC. Như vậy phần thân của
bản tin SIP-T sẽ mang cả thông tin ISUP đã được mã hoá và SDP. Ngoài ra SIP-T
cũng định nghĩa ánh xạ cơ bản giữa các bản tin ISUP và SIP-T .
22
SIP-I
Khuyến nghị Q1912.5 này quy định tương tác báo hiệu giữa giao thức
BICC/ISUP với SIP kết hợp với SDP tại khối tương tác (IWU). SIP-I có tính năng
hơn so với SIP-T là:
- khả năng ánh xạ nhiều thông tin hơn từ bản tin ISUP sang các mào đầu của
SIP
- thêm thủ tục gửi bản tin SIP overlap

mang theo hướng đi và thiết lập kênh mang theo hướng về.
- Thương lượng và điều chỉnh mã hoá. Tính năng mới này cho phép cuộc gọi sử
dụng BICC thích ứng với loại các mã đường truyền trên các mạng sử dụng các
bộ mã hoá thoại khác nhau (ví dụ giữa mạng TDM và mạng di động).
- Tách biệt việc giải phóng cuộc gọi và giải phóng kết nối ở mạng lõi.
- Tái sử dụng các kết nối rỗi ở mạng lõi.
- Sử dụng MTP SS7 hoặc ATM để truyền tải báo hiệu
- Hỗ trợ các kiểu chuyển tải kênh mang: ALL1 và ALL2
BICC CS2 phát triển từ BICC CS1 và đã được phát triển thành một bộ tiêu
chuẩn độc lập. Kiến trúc của BICC CS2 cung cấp hầu hết các tính năng của tổng đài
nội hạt (chuyển mạch lớp 5). Các tính năng mới của BICC CS2 bao gồm:
- Hỗ trợ kênh mang IP
- Truyền tải báo hiệu trên IP
- Định nghĩa giao diện phần điều khiển kênh mang và cuộc gọi (CBC)
- Định nghĩa nút dàn xếp cuộc gọi (CMN) để hỗ trợ IN
- BICC CS2 được miêu tả trong bộ tiêu chuẩn Q.1902.x.
II.3. Công nghệ đảm bảo chất lượng dịch vụ
Để hỗ trợ QoS trong mạng IP, hiện có các công cụ sau:
 IntServ
 DiffServ
 Kỹ thuật lưu lượng
24
 MPLS
 Quản lý QoS theo chính sách (Policy Based QoS Management – PBQM)
II.3.1. IntServ (Integrated Services)
IntServ sử dụng một giao thức báo hiệu để đặt trước tài nguyên cho từng luồng
tin (tín hiệu thoại, video, v.v ). Giao thức báo hiệu được sử dụng bởi IntServ là
RSVP. Với IntServ, người sử dụng đưa ra một yêu cầu QoS cụ thể cho một phiên kết
nối và RSVP sẽ báo hiệu cho các thiết bị hỗ trợ IntServ trong mạng để dành riêng
một lượng tài nguyên (băng thông, bộ đệm) tại các thiết bị này để đảm bảo các gói tin

 Khác với IntServ, DiffServ không hỗ trợ QoS cho từng luồng thông tin từ
khách hàng. DiffServ phân loại lưu lượng ra thành các lớp lưu lượng và có
cách thức xử lý các gói tin của các lớp lưu lượng khác nhau.
 Phần lõi của vùng DiffServ gồm các router lõi. Nhiệm vụ chính của chúng là
chuyển tiếp lưu lượng, xử lý gói tin dựa trên dấu được đánh sẵn bởi router
biên.
II.3.3. Kỹ thuật lưu lượng
Bên cạnh các cơ chế báo hiệu hay kiểm soát lưu lượng để giúp đảm bảo chất
lượng dịch vụ, một yếu tố khác cũng hết sức quan trọng và có ảnh hưởng gián tiếp
đến QoS là việc tổ chức tài nguyên mạng một cách hiệu quả nhằm tăng khả năng đáp
ứng yêu cầu của người sử dụng, đồng thời giảm chi phí liên quan. Vai trò đối với
QoS là:
 Hạ chi phí vận hành các dịch vụ được xây dựng trên mô hình QoS: tối ưu hoá
hiệu suất sử dụng tài nguyên mạng, giảm giá thành tổng.
 Có ảnh hưởng đến QoS dịch vụ: trên cùng một cơ sở hạ tầng mạng, tăng lưu
lượng tổng mà mạng có thể đáp ứng mà không làm ảnh hưởng đến trễ đầu cuối
đến đầu cuối, v.v…
Với dịch vụ QoS, giao thức mạng truyền thống – dựa trên thuật toán đường
ngắn nhất có một số hạn chế sau:

Trích đoạn IV.3 Xây dựng phương án tích hợp cố định di động IV.4 Lộ trình triển kha KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status