A/ LỜI MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết của đề tài.
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng của
cả nước. Nằm trên trục xuyên Á, phía tây kết nối với Nam Lào, Đông Bắc
Campuchia; phía đông giáp các tỉnh có cảng biển lớn, Tây Nguyên còn được đánh
giá là vùng đất giàu tiềm năng, lợi thế để thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Với khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, Tây Nguyên sở hữu
nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm… Đây
là xứ sở của nhiều thác nước, núi rừng huyền bí với bạt ngàn cà phê và cao su.
Những giá trị du lịch xanh Tây Nguyên tập trung chủ yếu ở các vườn quốc gia:
YokDon, Chư Yang Sin (Đắk Lắk); Chư Mom Ray (Kon Tum); Kon Ka Kinh (Gia
Lai); Bidoup - Núi Bà (Lâm Đồng); khu bảo tồn tự nhiên Ngọc Linh (Kon Tum).
Nhiều tiểu vùng ở Tây Nguyên có khí hậu ôn hòa mát mẻ, thích hợp với loại hình
du lịch nghỉ dưỡng, điển hình là thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng). Nơi đây được ví
như một “Tiểu Paris” với vẻ đẹp mộng mơ và nên thơ, cái lạnh cao nguyên ban
đêm, sương mù buổi sáng và những dải rừng thông bao quanh thành phố. Đến Đà
Lạt, du khách còn có dịp tìm hiểu bộ Mộc bản triều Nguyễn (hiện được bảo quản
tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV) – Di sản Tư liệu thế giới thuộc Chương trình
Ký ức thế giới được UNESCO công nhận.
Tây Nguyên là nơi tập trung sinh sống của 45 dân tộc với bản sắc văn hóa đa dạng,
các di tích lịch sử nghệ thuật có giá trị, các phong tục tập quán đặc sắc. Vùng đất
này còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng, các loại nhạc cụ dân tộc, các lễ hội
đậm chất dân gian. Đời sống, nét văn hóa độc đáo cùng những cảnh vật ở các buôn
làng Tây Nguyên luôn luôn có sức hấp dẫn đối với khách phương xa. Đặc biệt,
việc Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là
kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại cũng là một điểm nhấn
đặc sắc thu hút du khách đến với vùng đất này.Là người dân Việt Nam, chúng ta
cần gìn giữ và bảo tồn nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc vùng Tây Nguyên và
giới thiệu nền văn hóa đẹp đẽ này đến với bạn bè trên toàn thế giới.Vì thế, nhóm 6
chúng em đã lựa chọn đề tài ‘‘ Phân tích những nét văn hóa đặc trưng cơ bản của
1, Về tự nhiên.
a, Vị trí địa hình.
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp
các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận,
phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu
(Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia). Trong khi Kon Tum có biên giới
phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có
chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Đồng không có đường biên giới
quốc tế. Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì
vùng Tây Nguyên rộng 54.641,0 km².[1]
Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao
nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500 m, cao nguyên
Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800 m, cao nguyên
M'Drăk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ
Nông cao khoảng 800–1000 m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500 m và cao
nguyên Di Linh cao khoảng 900–1000 m. Tất cả các cao nguyên này đều được bao
bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam).
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng
khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước
là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông),
Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng). Trung Tây Nguyên có độ cao
thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam.
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với
mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao,
hồ tiêu, dâu tằm. Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển tại đây. Cà phê
là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên cũng là vùng
trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ. Và đang tiến hành khai thác Bô xít.
Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh
vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng
du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái nhà của miền trung, có chức năng phòng
- Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa:
mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó
tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên
trong khi ở các cao nguyên cao 400–500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều,
riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm,
đặc điểm của khí hậu núi cao.
- Tây Nguyên gồm nhiều tiểu vùng, nhưng phổ biến là khí hậu nhiệt đới gió mùa
cao nguyên và chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng
4 năm sau, khí hậu khô và lạnh, độ ẩm thấp, thường có gió cao nguyên từ cấp 4
đến cấp 6. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, khí hậu ẩm và dịu mát, rất thuận lợi
cho các loại cây trồng phát triển. Nhiệt độ trung bình hàng năm 240C; lượng ánh
sáng dồi dào, cường độ ổn định. Tổng lượng bức xạ mặt trời trung bình hàng năm
240-250 kcal/cm2. Số giờ nắng trung bình 2.200-2.700 giờ/năm. Biên độ dao động
nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn (mùa khô biên độ từ 15-200C, mùa mưa biên độ từ
10-150C). Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.900-2.000mm, tập trung chủ
yếu trong mùa mưa.
e, Tài nguyên.
Rừng: Tây nguyên là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học rất cao của
Việt Nam. Rừng Tây Nguyên giàu về trữ lượng, đa dạng về chủng loại Trữ lượng
rừng gỗ chiếm tới 45% tổng trữ lượng rừng gỗ của cả nước. Diện tích rừng Tây
Nguyên là 3.015,5 nghìn ha chiếm 35,7% diện tích rừng cả nước. Các cây dược
liệu quí được tìm thấy ở đây như sâm bổ chỉnh, sa nhân, địa liền, thiên niên kiện,
hà thủ ô trắng, và các cây thuốc quí có thể trồng được ở đây như atisô, bạch truật,
tô mộc, xuyên khung…Hệ động vật hoang dã cũng rất phong phú có ý nghĩa kinh
tế và khoa học. Có tới 32 loài động vật quí hiếm như voi, bò tót, trâu rừng, hổ, gấu,
công, gà lôi
Nước: Tây Nguyên có 4 hệ thống sông chính: Thượng sông Xê Xan, thượng sông
Srêpok, thượng sông Ba và sông Đồng Nai. Tổng lưu lượng nước mặt là 50 tỷ mét
khối. Chế độ dòng chảy chịu tác động của khí hậu. Nguồn nước ngầm tương đối
lớn nhưng nằm sâu, giếng khoan trên 100 mét.
phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di dân đến Tây
nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân tự do. Người dân tộc đang trở thành
thiểu số trên chính quê hương của họ. Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo
đói, kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên (gần đây, mỗi năm vẫn có tới
gần một nghìn héc-ta rừng tiếp tục bị phá) đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên
và thường xuyên dẫn đến xung đột. Theo kết quả điều tra dân số 01/04/2011 dân số
Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.278.679 người, 6% chiếm dân số cả nước. Hiện
nay, nếu tính cả những di dân tự do không đăng ký cư trú với cơ quan chính quyền
ước lượng dân số Tây Nguyên thực tế vào khoảng 5,5 đến 6 triệu người.
Nhưng hiện nay, các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên không còn cư trú theo lãnh thổ
tộc người riêng biệt mà sinh sống xen kẽ, đan xen nhau, có sự giao lưu về văn hóa
với người Kinh và các DTTS từ miền Trung, miền Bắc đến sinh cơ lập nghiệp.
Trong quá trình chung sống cận kề, các cộng đồng dân cư tuy thuộc nhiều nhóm
ngôn ngữ khác nhau nhưng cơ bản có sự hoà hợp, đoàn kết, không phân biệt giữa
người tại chỗ và nơi khác đến, cùng “chung lưng đấu cật” xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Trước đây, đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của các dân tộc Tây Nguyên là buôn
làng (buôn, bon, plây…) mang dấu ấn của công xã thị tộc. Các buôn, làng của
đồng bào sinh hoạt cộng đồng bền chặt, ý thức tập thể rất cao; đất đai, núi rừng,
nguồn nước là sở hữu chung; mọi hoạt động sản xuất và xã hội đều tuân thủ luật lệ,
phong tục của buôn làng. Thành tố hợp thành buôn làng của đa số các dân tộc là
đại gia đình mẫu hệ, người phụ nữ cao tuổi có uy tín nhất cai quản; phần lớn theo
chế độ hôn nhân lưỡng hợp, một vợ một chồng, con gái cưới chồng và con mang
họ mẹ. Một số dân tộc theo chế độ phụ hệ.
b. Sinh hoạt.
Sản xuất chính của đồng bào là làm nương rẫy và khai thác đất theo chế độ luân
canh; sản xuất thô sơ, chủ yếu dựa vào thiên nhiên; cây lương thực chính là lúa tẻ,
ngoài ra còn có ngô, khoai, sắn làm lương thực phụ và chăn nuôi, nấu rượu Việc
chăn nuôi gia súc, gia cầm như: trâu, bò, heo, gà chủ yếu dùng vào việc cúng tế.
Đồng bào cũng có các nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như dệt vải, rèn, mộc,
Nguyên qua nhà rông. Nhà rông chỉ gắn với làng, không có nhà rông cấp tỉnh cấp
huyện hoặc nhà rông liên làng, là bởi nó gắn với sinh hoạt và tín ngưỡng của một
cộng đồng cư dân nhất định. Xưa kia đã là làng Tây Nguyên là phải có nhà rông,
làng không có nhà rông bị gọi là làng đàn bà. Ngày nay do rất nhiều yếu tố chủ
quan và khách quan, các “làng đàn bà” đang ngày một nhiều, đặc biệt ở các tộc
người phía nam Tây Nguyên. Làng có nhà rông được các làng khác kính trọng,
được “bắt” về làm dâu làm rể làng ấy là ước mơ kiêu hãnh của các chàng trai cô
gái làng khác.
Nhà rông là nơi thiêng liêng nên thường thì phụ nữ không được lên nhà rông, trong
các buổi họp làng hoặc nghi lễ, họ ngồi dưới gầm sàn để dự. Thảng hoặc có làng
làm 2 nhà rông, nhà rông chính là nhà rông đực, còn nhà rông nhỏ gọi là nhà rông
cái cho phụ nữ sinh hoạt, chúng tôi hỏi nhiều người và đều chưa nhận được câu trả
lời thỏa đáng là tại sao ở chế độ mẫu hệ mà nhà rông cái lại nhỏ hơn, lại đóng vai
trò phụ? Trong nhà rông, hai nơi thiêng liêng nhất là nơi thờ vật thiêng và bếp lửa.
Trước sân là cây nêu, nơi hành lễ đâm trâu. Chính tại đây mà các nghi lễ giữa con
người và vũ trụ được tiến hành. Cây nêu cao vút cùng với mái nhà rông kiêu dũng
như một lưỡi rìu lộn ngược tạc vào trời xanh như khát vọng, như một chứng tích
của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. Điều đặc biệt trong việc làm nhà rông là
nghệ nhân không cần thiết kế, không cần bản vẽ, dụng cụ để hành nghề chỉ là rìu
và rựa, và vật liệu chỉ là gỗ, tranh, tre lấy từ trong rừng, không có bóng dáng của
đinh, dây thép, bê tông của đời sống văn minh thế mà vững chãi, mà trường tồn
trong thời gian và lịch sử cả vật chất và tinh thần, như sự bảo chứng cho khí phách,
sự tài hoa và lòng nhân ái của con người trước tự nhiên đầy bất trắc và khôn lường.
b. Món ăn
1. Canh cà đắng
Người dân tộc Tây Nguyên – Đắk Lắk, Đắk Nông thường dùng cà đắng chế biến
món ăn trong các bữa cơm để phòng và chữa bệnh thống phong, thấp khớp hay đau
nhức. Cây cà đắng mọc hoang trên nương rẫy rồi được trồng nhiều trong vườn, hầu
như nhà của người Ê Đê nào cũng có trồng cà đắng. Cây có gai, có trái quanh năm,
có loại ít và loại nhiều gai; càng nhiều gai cà càng đắng, đắng như khổ qua.
Trên bàn tiệc, món rau rừng còn được bỏ vào lẩu cá, đa phần là những loài cá đánh
bắt được từ sông Sê San. Dòng sông hùng vĩ, lắm thác ghềnh này ngoài khả năng
thủy điện còn chứa trong lòng những loài thủy sản quý hiếm như cá sọc dưa, cá
lăng, cá chiên, thậm chí cả loài cá anh vũ.
Nhìn thấy cá anh vũ trong thực đơn, thực khách khấp khởi, vừa mừng lại vừa lo.
Mừng vì có người ngược ra tận vùng Việt Trì, Phú Thọ, sẵn sàng bỏ cả triệu đồng
cho một đĩa cá anh vũ mà đâu có cơ may thưởng thức, còn lo vì giữa đại ngàn mà
có cá anh vũ chễm chệ trong thực đơn thì chắc đó là… đồ nhái!
Theo mô tả của người am hiểu về cá ở xứ này, cá anh vũ có dáng dấp khá giống cá
trôi, nhưng vảy có sắc óng ánh, phần đầu thuôn và đặc biệt là cặp môi hình tam
giác rất dày (có nơi còn gọi là cá lợn). Xin chủ quán cho ngắm mặt mày con cá
này, chủ quán đành lắc đầu phân bua rằng thường trong ngày chỉ có một con, mà
đã chế biến sơ rồi, có muốn xem cũng chịu.
Cả thành phố Pleiku chỉ có đôi ba quán có bán loài cá này. Những ngư dân dọc
sông Sê San thường chặn bắt cá anh vũ ở vùng nước trong, nhiều hang hốc, chủ
yếu ở khu vực thủy điện Ialy.
4. Lẩu lá rừng
Ai từng ghé thăm phố núi Pleiku chắc đã được thưởng thức nhiều món ngon vật lạ.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có cơ hội để nếm thử món lẩu lá rừng hấp dẫn.
Bạn có thể dễ dàng tìm mua và thưởng thức những món ăn dân dã nơi đây, tuy
nhiên, bạn sẽ không dễ dàng để được thưởng thức món lẩu lá rừng vì có rất ít nơi
bán món ăn này. Và nếu có may mắn được thưởng thức món ăn này trong những
nhà hàng, quán ăn thì cũng không thể hấp dẫn bằng việc thưởng thức nó ngay giữa
núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn.
Món lẩu lá rừng này được chế biến đầu tiên bởi những người dân tộc Ê Đê nơi đây,
khi cuộc sống còn nhiều khó khăn, để có thức ăn nuôi sống hằng ngày, người Ê đê
phải vào rừng để hái những loại lá khác nhau về nấu canh. Trải qua thời gian, lẩu
lá rừng đã trở thành món đặc sản của người dân tộc bản địa.
Thưởng thức kèm với thịt heo rừng hấp, hay những món ăn dân dã khác sẽ giúp
bạn cảm nhận hết hương vị của vùng đất cao nguyên hoang sơ. Vị cay nồng của lá
Cơm Lam được coi là món ăn của núi của rừng bởi chắt lọc trong đó vị ngọt của
dòng suối mát trong đầu rừng và hương thơm của rừng tre nứa xanh ngút đầu
non…
Bắt đầu từ những chuyến đi dài ngày của người đàn ông với ống gạo mang theo,
dao quắm và đánh lửa cùng ống nứa sẵn trong rừng nhưng theo bước chân những
người khách du lịch, cơm Lam đã trở thành món ăn đặc sản, làm say lòng du
khách.
Nhiều vùng đất coi cơm Lam như món ăn truyền thống không thể thiếu trong mỗi
dịp lễ hội, nhưng phải kể đến cơm lam Tây Nguyên, Cao Bằng và Thanh Hóa gắn
với người dân tộc Tày, Nùng, Mường, Dao Thái…Đặc biệt, Vùng Tam Kim, Bắc
Hợp thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) được tiếng là cơm Lam ngon hơn
nhiều vùng khác. Vùng này còn có thứ gạo ngon nổi tiếng, người Tày gọi là gạo
Khẩu lùm phua, có nghĩa là thứ gạo ăn ngon đến nỗi người đàn bà có thể quên cả
phần chồng! Một cách ví von để khẳng định sự thơm ngon của loại gạo này.
Để làm được cơm Lam ngon đòi hỏi một sự tỷ mỉ đến từng chi tiết. Đầu tiên phải
chọn cây nứa ngô còn non, chặt lấy gióng lưng chừng nứa rồi phạt đi đầu mặt,
dung lá nút lại, chất củi xung quanh đốt cho sôi. Gạo nếp làm cơm Lam phải chọn
loại nếp trắng, dẻo, thơm, tốt nhất là “khảu tan” (nếp tan), rồi ngâm gạo, vo sạch,
rắc ít muối trộn đều rồi cho vào ống lam, cùng với dòng nước suối trong vắt chảy
trong rừng sẽ tạo nên một cơm Lam hương vị đặc biệt của núi rừng, có thể làm say
lòng bất cứ người thưởng thức nào.
Khi cơm chín, chẻ bỏ lớp cháy đen bên ngoài ống cơm thật khéo léo cho đến khi
bao bọc phần ruột cơm chỉ là một lớp nứa mỏng. Xắt mỗi ống ra thành năm hay
bảy khúc. Khi ăn chỉ cần bóc bỏ lớp nứa bên ngoài.
8. Rượu cần
Những ai đã từng đến với đại ngàn mênh mông của rừng núi Tây Nguyên mới
thấm thía hết chất men say của núi qua chóe rượu cần của đồng bào dân tộc nơi
đây. Một thức uống với chất men cực kỳ độc đáo, không giống với loại men ở nơi
nào trong nước cũng như các quốc gia khác trên thế giới.
Rượu cần Tây Nguyên - văn hóa uống có một không hai, mang đậm đà phong
Các loại vải dệt này được dùng để làm váy, khố, một số dân tộc dùng làm áo,
nhưng có một số dân tộc ở Tây Nguyên không có thói quen mặc áo. Váy của người
phụ nữ Tây Nguyên là những tấm vải dài sát gót, được quấn về một bên hông, có
hoa văn ở cạp váy, gấu váy và phía sau tương ứng với phần mông. Ở cạp váy, phụ
nữ Tây Nguyên còn đeo thêm các vòng cườm, lục lạc bằng đồng để khi di chuyển
tạo ra các âm thanh nghe vui tai; ngoài ra, còn có các đồ trang sức bạc, đồng, ngà
voi, răng thú vật, loại quý hiếm và dữ như: cọp, gấu, lợn rừng và được đeo ở tai
cổ tay, cổ chân. Tấm đồ là những tấm vải lớn có hoa văn ở hai đầu, có thể có tua
hay không có tua, đàn ông dùng khoác ngang người, hoặc đắp khi ngủ, đàn bà
dùng để địu con Khố là những tấm vải hoa văn tinh xảo, có tua sặc sỡ ở hai đầu
gối để mỗi bước đi khố tung lên như những áng mây ngũ sắc. Trước khi có loại vải
dệt, đồng bào Tây Nguyên dùng vỏ cây làm trang phục, nhưng chỉ có một số vỏ
cây làm trang phục, đó là loại vỏ cây có một lớp lụa bền chắc bên trong. Khi lấy
về, các vỏ cây này được mang luộc chín, rồi lột lấy lớp lụa, giặt sạch, vò cho mềm,
sau đó mang phơi khô rồi tước vỏ lua ra như sợi chỉ và đưa vào khung dệt. Nhìn
chung, trang phục cổ truyền của người Tây Nguyên rất độc đáo và có bản sắc đậm
đặc.
e. Văn hóa dân gian
Dân ca
Dân ca Tây nguyên đã có từ lâu đời trên mãnh đất Tây nguyên bao la giàu đẹp. Có
rất nhiều làn điệu dân ca Tây Nguyên như:
Dân ca Ja rai
Giai điệu của dân ca Ja rai thường nồng nàn, mạnh mẽ, sâu đậm, thiết tha, vui buồn
tột cùng, dễ đi sâu vào lòng người. Dân ca Ja rai có các thể loại: hát nói gọi là
Knhă, hát có nhịp điệu gọi là adoh, hát giáo duyên gọi là nhik, hát kể trường ca gọi
là hri.
Dân ca Ba na
Dân ca Ba na có tính chất thiết tha, nồng nàn nhưng không bước đến tột cùng của
tình cảm.
Dân ca ê đê
xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua
nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải
ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh
cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho
hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam
San ”.
Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng
chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa
dạng, phong phú.
Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi
trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh
chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân
dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện
tuyệt vời. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản
vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật
đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng
sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật
chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng nói" của
con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".
Mỗi một dàn cồng chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người Tây Nguyên,
để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động và sinh hoạt hàng
ngày của họ. Các tộc người ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức
riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình. Trải qua bao năm tháng,
cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ. Cồng chiêng
chính là cuộc sống của người Tây Nguyên. Nghe cồng chiêng thì thấy được cả
không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội Tây Nguyên.
Lễ hội đâm trâu
Hàng năm cứ sau mỗi mùa rẫy bà con dân tộc thiểu số ở các buôn làng thuộc khu
vực Trường Sơn - Tây Nguyên và một số vùng khác lại tổ chức lễ hội thần Ndu và
các vị thần khác nhằm tạ ơn các vị thần đã phù hộ, độ trì cho bà con dân làng trong
nuôi được nhiều trâu bò, súc vật… Sau đó cho dẫn ra một con trâu đực và cột chặt
vào cây nêu với một sợi dây thật chắc được làm bằng vỏ cây rừng, gọi là cột Gưng.
(Cột Gưng là một cây gỗ quí to lớn cao thẳng dựng lên sân tổ chức lễ hội đâm trâu,
cột chia làm ba phần. Phần từ đất lên làm thành giàn cho già làng bước lên cúng tế.
Phần thân cột được chạm trổ công phu các hình ảnh hoa văn, các màu sắc rực rỡ
buộc các chùm tua ngũ sắc chuốt sợi từ thân nứa. Phần trên cùng là biểu tượng
chim hoặc cá, dưới treo chùm ống nứa già gọi là toơng nơơng nhờ gió phát ra âm
thanh).
Tiếng cồng chiêng lúc này ngừng lại để nhường lời cho vị già làng, chủ tế buổi lễ,
phát biểu vài lời. Sau đó cồng chiêng lại tiếp tục nổi lên với một nhịp độ nhanh
hơn và thúc giục hơn cho thanh niên thiếu nữ sẽ cùng vào nhảy múa theo điệu
nhạc. Âm thanh sôi động trong những vũ điểu uyển chuyển, đa dạng của các sơn
nữ khiến cho lễ hội thêm phần quyến rũ, hấp dẫn. Vũ nhạc của các sơn nữ lặng
xuống cũng là lúc các chàng trai đầu chít khăn đỏ trong tay mang lưỡi kiếm sáng
loáng nhảy ra múa tiếp. Nhảy múa một lúc, họ đặt vũ khí xuống, dùng những gậy
gỗ dài một thước đấu với nhau. Tốp này vào nghỉ đã có tốp khác ra thay. Trong lúc
họ múa, gái làng thi nhau té nước vào họ. Chàng nào tài hoa thì không bị ướt,
chàng nào bị ướt nhiều tức là bị thần quở và có nguy cơ ế vợ.
Sau các màn múa hát họ bắt đầu đâm trâu. Chàng nào chỉ đâm một nhát mà trâu
chết ngay thì được khen ngợi. Trâu ngã xuống bắt đầu xẻ thịt chia đều cho từng
bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu được dành lại ăn uống chung tại nhà Rông.
Đầu trâu được gác lên cột lề. Sáng ngày sau còn có lễ rước đầu trâu lên nhà Rông.
Đầu trâu được chẻ ra làm món ăn. Riêng cặp sừng được giữ lại và treo lên vách
nhà Rông. Người làng còn lấy máu trâu hòa với rượu để rửa những bảo vật truyền
kiếp nhà Rông.
Trong suốt ngày và đêm này, mọi người sẽ nhảy múa theo tiếng chiêng. Ngoài ra
còn có các hoạt động thi thố tài năng bằng đấu vật, đánh roi… để tranh giành bùa
do già làng (pô khua) tặng. Và đặc biệt là các chiến binh ra nhảy múa, diễn lại cảnh
đánh nhau và chiến thắng để khơi dậy dũng khí trong lòng mọi người tham dự. Tất
cả mọi hoạt động đều được diễn ra xung quanh cây nêu có con trâu – vật tế lễ đã
bắn.
Lễ khấn tỉa lúa: ở Gia Lai, Kontum gọi là lễ Sámãh Zmulba. Người Ba Na làm lễ
khấn tỉa lúa ở nhà hay trên nương như hình thức cáo yết với các thần núi, thần
nước, công việc tỉa lúa sắp bắt đầu, họ cầu xin thần linh phù hộ cho nương rẫy của
mình được xanh tốt, lúa sinh sôi nảy nở, vật nuôi trong nhà thêm đông. Khấn vái
xong người Ba Na lấy một ít thóc trộn với máu gà rồi đem đi gieo tỉa, lấy cây chọc
vào mảnh đất để vài hạt thóc vào lỗ tượng trưng cho vụ cấy sắp đến. Sau nghi thức
đến tiệc rượu, ngày hôm sau mới bắt đầu công việc tỉa hạt.
Lễ mở cửa rừng: thông thường vào ngày 7/1ÂL, họ dâng lễ cúng bái xin mở cửa
rừng, cầu xin bộ hạ của chúa Sơn Lâm đừng đến giết hại người Ba Na khi đang ở
nhà hay đang săn bắt trong rừng. Lễ mở cửa rừng gồm một đôi gà có trống có mái.
Chủ tế cùng một số trai gái tiến vào đàn. Con trai đóng khố mang 3 mũi tên, con
gái mặc váy và yếm. Sau khi cắt tiết gà đổ xuống đất, họ bắt đầu điệu múa săn gà,
phụ nữ đóng vai con mồi, còn thanh niên đóng vai người đi săn, phỏng theo các
động tác đi săn mồi và con thú bị dồn đuổi.
Lễ trồng cột : vào khoảng tháng 9 ÂL, và cứ đủ một giáp 12 năm mới làm lễ/ lần,
với ý nghĩa trồng các cây cột để giữ sự bình yên cho đất đai. 11 chiếc cột có hình
như dùi trống được đem trồng ở bãi đất bằng, cây cột chính trồng ở giữa, 10 cây
cột còn lại trồng chung quanh. Một con trâu mập mạp, cùng bộ sừng và đuôi có cài
bông hoa được đem ra tế thần, khi đó thầy mo lo việc cúng tế còn thanh niên nam
nữ từng tốp nhảy múa, đánh cồng, thổi khèn ở quanh 11 cây cột.
Lễ cơm mới: tổ chức từ tháng chạp đến tháng 3 ÂL, người Thái coi “lễ cơm mới”
giống như tết Nguyên Đán của người Kinh. Từ sáng sớm, các cô gái mặc quần áo
đẹp đi đến bàn thờ tổ tiên xin dự lễ. Mọi người trong gia đình làm động tác khênh
thóc gạo từ trên gác xuống để các cô đem đi giã gạo, nhuộm màu và nấu cơm, nấu
xôi. Lễ cơm mới ngoài xôi cúng còn có con cá được gói trong lá chuối với bột gạo
bao ngoài có dây buộc chặt. Sau khi bày mâm cúng, thầy mo hay gia chủ làm lễ
gọi hồn vía những người đã chết về vui tết với con cháu. Trong lễ cơm mới, buôn
làng thường tổ chức nhiều trò chơi cổ truyền để mua vui trong ngày lễ.
Lễ cúng trời : đây là lễ tạ ơn Giàng đã phù hộ và cầu cho vụ mùa sau sẽ tốt hơn.
riêng và của cả nước nói chung.
Nó mang văn minh đến những vùng được chọn làm công trường, đánh thức nó
dậy, thổi vào đấy khí thế, sức sống hiện đại, giúp người dân sở tại tiếp cận với văn
minh, với cái mới, vượt khỏi tầm nhìn của mình ra khỏi ngôi làng của mình, họ
tiếp xúc với các phương thức sống khác, nền văn minh khác.
b. Hoạt động du lịch
Nói tới du lịch thì Tây Nguyên là một trong những vùng đất lý tưởng để kinh
doanh du lịch. Ít nơi nào lại có điều kiện thuận lợi để tạo sản phẩm đặc trưng, riêng
biệt, hấp dẫn, về du lịch như nơi đây.
Tây Nguyên có nhiều thắng cảnh và khu hệ động, thực vật phong phú, nhiều tiểu
vùng có khí hậu ôn đới mát mẻ, thích hợp với nhiều loại hình du lịch hội nghị và
du lịch nghỉ dưỡng.
Không chỉ vậy, Tây Nguyên có tiềm năng du lịch văn hóa với một hệ thống các
buôn, làng cổ truyền của đồng bào các dân tộc thiểu số. họ còn giữ được những đặc
điểm cấu trúc, sinh hoạt, ngành nghề thủ cong nghiệp truyền thống và hành chục lễ
hội đặc sắc ở hầu hết các dân tộc. Tại buổi gặp gỡ, các đại biểu cũng đã thảo luận,
góp ý về việc tạo ra mối liên kết, sự kết hợp liên hoàn giữa các vùng, các địa
phương để thúc đẩy du lịch. Theo đó các tỉnh sẽ phối hợp với nhau chặt chẽ trong
việc mời gọi đầu tư, quảng bá về thương hiệu du lịch Tây Nguyên.
Thời gian quan, ngành du lịch Tây Nguyên đã có những bước đi vững chắc, tạo ra
nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đâye các ngành kinh tế khác phát triển, nhất là
ngành du lịch – được coi là một ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay và
là phần mềm của ngành du lịch. Các Sở, ngành, địa phương và đơn vị, doanh
nghiệp của các tỉnh đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc tổ chức, xây dựng, triển
khai thực hiện các hoạt động du lịch, do vậy năm 2012 – ngành du lịch của tỉnh đã
có bước phát triển đáng kể so với những năm trước đây. Các cơ sở du lịch của các
tỉnh đã được nâng cấp cả về mặt số lượng và chất lượng, hoạt động du lịch tiếp tục
hay duy trì tăng trưởng khá. Tại tỉnh Đăk Lăk riêng tháng 10 năm 2012 tổng
doanh thu du lịch đạt 23,5 tỷ đồng tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2011. Công suất
sử dụng buồng phòng đạt 60%.
giúp nó phát triển bền vững. Việc khôi phục và bảo vệ những nét văn hóa đẹp độc
đáo của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên giúp xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Các lễ hội của đồng bào thiểu số đã tạo ý thức
cho mọi người hiểu giá trị văn hóa của từng dân tộc, để cùng nhau gìn giữ và phát
huy nền văn hóa của dân tộc trong cộng đồng.
c. An ninh quốc phòng
Tây nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã
hội, và quốc phòng, an ninh của nước ta. Là địa bàn rất nhạy cảm về kinh tế, văn
hóa, dân tộc, tôn giáo cũng như về an ninh, quốc phòng, Tây Nguyên đang là nơi
tập trung nhiều vấn đề bức xúc về kinh tế, chính trị - xã hội và về công tác tư
tưởng. Do vậy từ sau ngày thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm
đầu tư xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, đăc biệt chú trọng
xây dựng hệ thống chính trị các cấp nhằm khai thác tiềm năng kinh tế đảm bảo an
ninh quốc phòng tổ chức cho các dân tộc phát triển kinh tế, văn hóa, xóa bỏ nghèo
nàn lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, từng bước đi lên CNXH. Đến
nay, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số tuy có được cải thiện, song nhìn
chun vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt tỷ lệ đói nghèo còn cao, đặc biệt là vùng
sâu,vùng xa. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của đồng bào và công tác
tư tưởng của Đảng.
Trong những năm qua, độ ngũ những người chuyên trách làm công tác tư tưởng ở
Tây Nguyên đã tăng cường trụ sở để nắm bắt diễn biến tư tưởng và tâm trạng của
cán bộ, đảng viên, và các tầng lớp nhân dân. Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng
đã vận động, giáo dục đồng bào giữ gìn và phát huy các truyền thống cách mạng,
bẳn sắc văn hóa dân tộc, sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc và tôn giáo, tuyên
truyền giải thích cho đồng bào hiểu rõ các âm mưu, thủ đoạn, và các luận điệu lừa
bịp của các thế lực thù địch; cảm hóa những người có tư tưởng lầm đường lạc lối.
Tuy nhiên công tác tư tưởng trên địa bàn Tây Nguyên thời gian quan còn hiều hạn
chế, chưa làm tốt yêu cầu bồi dưỡng nâng cao tình cảm, tinh thần, niềm tin của cán
bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước; nội dng
tuyên truyền chưa sát thực với tâm tư, tình cảm của từng đối tượng, phong tục tập