Một số vấn đề lí luận cơ bản của hoàn thiện chính sách thương mại XNK từ góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài chính trong lộ trình hội nhập AFTA - Pdf 74

Một số vấn đề lí luận cơ bản của hoàn thiện chính
sách thơng mại XNK từ góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài
chính trong lộ trình hội nhập AFTA
1.1 Chính sách thơng mại XNK trong hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới hiện nay.
1.1.1 Khái niệm về chính sách thơng mại, thơng mại XNK và vai trò quản
lý kinh tế của nhà nớc .
* Khái niệm về chính sách thơng mại: Chính sách thơng mại là hệ thống
các nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà nhà nớc áp dụng để điều chỉnh hoạt
động thơng mại trong một thời kỳ nhất định phù hợp với lợi ích chung của xã hội.
Nó là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội của đất nớc. Có
quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nó ảnh h-
ởng mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, cải tiến cơ cấu kinh tế, đến quy mô và
phơng thức của nền kinh tế quốc dân tham gia vào phân công lao động và thị tr-
ờng quốc tế.
* Vai trò quản lý kinh tế của nhà nớc: trong quá trình phát triển kinh tế của
đất nớc thì nhà nớc luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lý kinh tế đó
là ổn định và phát triển kinh tế của đất nớc, điều tiết kinh tế cả về vi mô và vĩ mô
để đa nền kinh tế nớc nhà đi đúng hớng.
* Chính sách thơng mại XNK : Chính sách thơng mại XNK là một hệ thống
các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nớc áp dụng quản lý, điều
chỉnh các hoạt động thơng mại XNK của một quốc gia trong một thời kỳ nhất
định nhằm đạt đợc các mục đích đã định trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội
trong một quốc gia.
Việc tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc
tế, đang đa lại nhiều lợi ích to lớn nhng với nhiều lý do khác nhau, mỗi quốc gia
có chủ quyền đều có chính sách thơng mại quốc tế cũng nh chính sách thơng mại
XNK riêng thể hiện ý chí và mục tiêu của nhà nớc đó trong việc can thiệp và điều
chỉnh các hoạt động thơng mại XNK có liên quan đến nền kinh tế quốc gia.
Chính sách thơng mại XNK của một quốc gia có ảnh hởng đến nhiều quốc
gia khác. Bởi vậy nó chịu ảnh hởng của nhiều nguyên tắc nhằm chống lại sự phân

* Chính sách quản lý xuất nhập khẩu là: Nhà nớc quản lý và điều tiết hoạt
động thơng mại quốc tế thông qua công cụ rất quan trọng là chính sách quản lý.
Chính sách quản lý thơng mại quốc tế của nhà nớc là các nghị định, quyết định,
quy định của chính phủ và các cơ quan của chính phủ về lĩnh vực thơng mại quốc
tế đó là các chính sách quản lý xuất nhập khẩu .
Nội dung của chính sách quản lý xuất nhập khẩu bao gồm: Chính sách
quản lý về mặt hàng xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cơ chế giá cả,chính
sách quản lý về quota và giấy phép xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về tỷ giá
hối đoái, chính sách quản lý về đối tợng kinh doanh xuất nhập khẩu, chính sách
quản lý về thuế xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cán cân thơng mại và cán
cân thanh toán quốc tế, chính sách quản lý về tài trợ và bảo hiểm xuất khẩu.
1.1.2 Một số công cụ chủ yếu điều tiết hoạt động của chính sách thơng
mại XNK.
1.1.2.1 Chính sách thị trờng và chính sách mặt hàng.
a) Chính sách thị trờng đây là chính sách có tầm quan trọng đặc biệt với sự
phát triển kinh tế của một quốc gia và với mục đích đề ra là khai thông những cản
trở của thị trờng. Chính sách này chia thị trờng thành hai loại nh sau :
-Với thị trờng trong nớc chính sách đa ra định hớng cho tập trung nguồn lực
để tổ chức sản xuất hàng hoá sao cho phù hợp với nhu cầu của sản xuất và của thị
trờng, đồng thời nó đa ra những quy hoạch và cơ cấu lại các vùng chuyên canh
một cách hợp lí và nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Đảm bảo cho
hệ thống lu thông hàng hoá thông suốt giữa các vùng, các địa phơng và đảm bảo
cho sản xuất, lu thông và tiêu dùng hàng hoá cân đối tránh những khủng hoảng và
bất ổn trên thị trờng. Bên cạnh đó chính sách thị trờng đa ra để hình thành đồng
bộ các loại thị trờng và thực hiện chính sách nhất quán, ổn định để các chủ thể
chủ động với các tình thế trên thị trờng
-Với thị trờng ngoài nớc: nó bao hàm những chính sách thúc đẩy xuất khẩu
và đa dạng hoá thị trờng xuất khẩu nh để đa dạng hoá thị trờng xuất khẩu thì cụ
thể cần có chính sách cung cấp các thông tin thị trờng cho các nhà xuất khẩu.
+Chính sách thị trờng nớc ngoài yêu cầu tập trung chú trọng phát triển

hàng xuất khẩu, có khối lợng lớn, có giá trị cao trong kim ngạch XK, nếu là
nguyên liệu sản suất thì phải có khả năng đảm bảo cung cấp thờng xuyên cho nhu
cầu xuất khẩu, có phẩm chất và giá cả ổn định trong thời gian dài, nếu là hàng tiêu
dùng thì phải có số lợng lớn và phẩm chất ổn định, gây thói quen cho ngời tiêu
dùng. Hai là phải có điều kiện thuận lợi để sản xuất trong nớc với chi phí thấp
nhất và ngày càng tiến bộ về công nghệ sản xuất. Ba là phải có thị trờng tiêu thụ
vững chắc và lâu dài, tạo thế chủ động trong việc trao đổi quốc tế. Nếu thiếu một
trong 3 điều kiện này thì không thể coi là hàng xuất khẩu chủ lực.
Chính sách mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu và chính sách xuất khẩu là
những măt hàng mà sản xuất trong nớc đã đáp ứng đợc nhu cầu. Đó là những mặt
hàng dựa trên lợi thế tài nguyên quốc gia, lao động, công nghệ ví dụ nh Hà Lan
xuất khẩu hoa, Việt nam XK gạo, Mĩ XK các mặt hàng có hàm lợng công nghệ
cao nh con chip điện tử .v.v. Lúc đầu nhà nớc đa ra chính sách mặt hàng thay thế
nhập khẩu sau đó khi năng lực sản xuất đã có, đáp ứng tốt đợc nhu cầu tiêu dùng
trong nớc thì tiến tới xuất khẩu cùng với những mặt hàng mà trong nớc có lợi thế.
1.1.2.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu
Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất nhập khẩu hoặc
quá cảnh nh vậy là thuế quan bao gồm cả thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu .
Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, theo đó
ngời mua trong nớc phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn hơn
mức mà ngời xuất khẩu ngoại quốc thu đợc. Khác với thuế nhập khẩu thuế xuất
khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu.Thuế nhập khẩu và thuế
xuất khẩu đều tác động đến giá hàng hoá có liên quan nhng thuế xuất khẩu khác
thuế nhập khẩu ở hai điểm: Một là, nó đánh vào hàng hoá xuất khẩu chứ không
phải hàng hoá nhập khẩu; Hai là, nó làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh
thuế vợt quá xa giá cả trong nớc (chứ không phải ngợc lại), hay nói cách khác nó
hạ thấp tơng đối mức giá cả trong nớc của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với
mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ làm cho sản lợng trong nớc của hàng hoá có thể
xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nớc sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này
(trong một số trờng hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lợng xuất

một hàng hoá không hiệu quả).
Thuế xuất khẩu: Khi đánh thuế xuất khẩu, giá cả trong nớc sẽ thấp hơn giá cả
quốc tế. Sản xuất trong nớc sẽ giảm từ S0 xuống S1, tiêu dùng trong nớc sẽ tăng
từ Do lên D1, do vậy xuất khẩu sẽ giảm từ So-Do xuống còn S1-D1 (xem hình b).
Thuế xuất khẩu đã làm giảm khả năng xuất khẩu của hàng hoá trong nớc vì vậy
mà hiện nay ngời ta ít áp dụng thuế xuất khẩu trừ một số trờng hợp đánh vào các
hàng hoá truyền thống nhằm thu đợc giá sao hơn và tăng lợi ích quốc gia.
Sơ đồ: Tác động của thuế xuất nhập khẩu đến hoạt động xuất khẩu.
P
E
PW(1+t)
D1So
S1
S1 So
Dd
PW
Sd
Do
D1
Hình a. Hình b.
P
Dd Sd

0 D0 Q 0 Q

1.1.2.3 Chính sách phi thuế quan
Sau chiến tranh thế giới thứ 2 vai trò của thuế quan đã bị suy giảm đặc biệt ở
các nớc công nghiệp, ngày nay mức thuế quan trung bình không quá 10% trên các
hàng hoá công nghiệp, xu hớng ngày nay của các nớc là chuyển từ hình thức thuế
quan sang các hình thức phi thuế quan để bảo vệ sản xuất trong nớc. Hạn ngạch là

+Hạn ngạch cho biết trớc số lợng hàng hoá xuất khẩu, còn thuế quan thì
không.
+Hạn ngạch không đem lại thu nhập cho chính phủ và không có tác dụng
hỗ trợ các loại thuế khác.
+Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nớc trở thành nhà độc
quyền (trong trờng hợp chỉ có doanh nghiệp đó là ngời duy nhất nhận đợc hạn
ngạch).
Bên cạnh hạn ngạch nhập khẩu, ngày nay các quốc gia trên thế giới áp dụng
một loạt các biện pháp hạn chế thơng mại khác ngoài thuế quan gọi là hàng rào
thơng mại phi thuế quan(Nontariff trade bariers-NBT) .Thuộc NBT có rất nhiều
hình thức hạn chế xuất nhập khẩu nh:
-Hạn chế xuất khẩu tình nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu mà ở đó
một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lợng hàng
xuất khẩu sang nớc mình một cách tình nguyện nếu không họ sẽ áp dụng biện
pháp trả đũa kiên quyết
-Những quy định về kỹ thuật, quản lý và các quy định khác là những quy
định hoặc tập quán của các quốc gia làm cản sự lu thông tự do hàng hoá, dịch vụ
và các yếu tố sản xuất giữa các nớc.
-Những cartels quốc tế là một tổ chức của các nhà cung ứng về một hàng hoá
nào đó, phân bố ở các quốc gia khác nhau (hay một nhóm khác chính phủ) đồng ý
hạn chế sản xuất và xuất khẩu với mục đích cực đại hoá hay tăng lợi tức của tổ
chức đó.
- Bán phá giá (dumping) là xuất khẩu một hàng hoá nào đố thấp hơn giá nội
địa làm chiếm lĩnh thị trờng thế giới. Hai điều kiện để các nhà độc quyền bán phá
giá là thị trờng cạnh tranh không hoàn toàn và bị chia cắt. Thông thờng bán phá
giá chia làm ba loại: bền vững, chớp nhoáng và không thờng xuyên.
- Trợ cấp xuất khẩu là một hình thức khuyến khích xuất khẩu do các chính
phủ tiến hành trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất
khẩu quốc gia hay những nhà xuất khẩu có năng lực. Bên cạch đó, chính phủ còn
thực hiện một khoản cho vay u đãi đối với những bạn hàng nớc ngoài để họ có

tệ sẽ tăng giá.
Tỷ giá thực tế cũng có thể đợc áp dụng cho hàng hoá phi thơng mại mà đợc
đo bằng đơn vị của hàng hoá thơng mại. Trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa tỷ giá
thực tế và lợi nhuận của khu vực xuất khẩu và nhập khẩu đợc giải thích bởi
Montiel. Xem xét một nền kinh tế bao gồm 3 khu vực: xuất khẩu (X) , nhập khẩu
(Z) và hàng hoá phi thơng mại (N). Hoạt động sản xuất cần có lao động và vốn,
nhng trong ngắn hạn , vốn đã đợc xác định. Lợi nhuận cũng nh mức sản lợng đầu
ra tỷ lệ nghịch với chi phí sản phẩm trong từng khu vực. Theo Montiel, tỷ giá thực
tế giảm làm giảm chi phí sản phẩm trong khu vực xuất khẩu, do vậy làm tăng lợi
nhuận ngắn hạn của khu vực xuất khẩu và khuyến khích đầu t phát triển sản xuất
xuất khẩu. Hơn nữa, chi phí cận biên của khu vực này tăng, việc duy trì tỷ giá hối
đoái thực tế giảm sẽ làm tăng đầu t và do vậy mở rộng quy mô sản xuất xuất khẩu
trong dài hạn (độ co giãn xuất khẩu trong ngắn hạn nhỏ hơn trong dài hạn, do vậy
cần thiết phải mở rộng quy mô khu vực xuất khẩu).
Tỷ giá hối đoái đợc coi là một công cụ tác động tới thơng mại quốc tế, mà tr-
ớc hết là tác động tới xuất nhập khẩu, trong hai trờng hợp: nâng giá hoặc giảm
đồng nội tệ.
1.1.2.5 Chính sách cán cân thơng mại và cán cân thanh toán
Cán cân th ơng mại:
Cán cân kim ngạch xuất nhập khẩu vừa phản ánh độ mở của nền kinh tế sự
tiến triển của quốc tế công nghiệp hoá, vừa phản ánh thể trạng sức khoẻ của nền
kinh tế quốc gia. Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn thuần là xuất siêu hay nhập
siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn. Ví dụ nh Hàn Quốc, Đài Loan
những năm 60, Trung Quốc thập kỷ 80 - khi mà các nớc này mới bắt đầu tiến
hành công nghiệp hoá đều ở trong tình trạng nhập siêu nhng chỉ ít năm sau trên cơ
sở nhập siêu trong trạng thái nóng của nền kinh tế nên các nớc này đã cân bằng
đợc xuất nhập và chuyển sang xuất siêu (Hàn quốc, Đài Loan đầu thập kỷ 70
Trung quốc đầu thập kỷ 90). Rõ ràng chấp nhận nhập siêu trong tơng lai là phơng
hớng chiến lợc và là vấn đề phơng pháp luận của việc sử lý cán cân thơng mại của
nớc ta hiện nay. Cố nhiên để thực hiện đợc phơng hớng đó thì phải có điều kiện và

cân vãng lai là tổng hợp các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ đợc thực hiện giữa
nớc ta với nớc ngoài, bao gồm tất cả các hoạt động xuất nhập khẩu chênh lệch
xuất nhập khẩu chỉ là một thành phần của cán cân vãng lai nhng là phần quan
trọng nhất. Hiện nay tất cả các nớc, các tổ chức quốc tế đều chú trọng biến động
của cán cân thanh toán vãng lai.
1.2 Lộ trình hội nhập AFTA và những yêu cầu hoàn thiện chính sách th-
ơng mại XNK của nớc ta.
1.2.1 Khái quát về ASEAN và khu vực mậu dịch tự do AFTA.
1.2.1.1 Khái quát về ASEAN.
* Lịch sử hình thành và phát triển.
- Ngày 8 tháng 8 năm 1967 tại Băng Cốc. Bộ trởng ngoại giao nớc Inđônêsia,
Malaysia, Philipines và Thái Lan đã ký bản tuyên bố thành lập ASEAN (hay còn
gọi là tuyên bố Băng Cốc) chính thức thành lập hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á gọi tắt là ASEAN. Tháng 1 năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Brunei Darusalam,
tháng 7 năm 1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN.
Đến nay Lào, Camphuchia và Myanmar đều đã đợc công nhận là thành viên chính
thức của ASEAN.
* Tôn chỉ mục đích và nguyên tắc hoạt động.
- Tuyên bố thành lập ASEAN năm 1967 đã nêu rõ 7 mục tiêu thành lập hiệp
hội, nhng tựu trung lại có 3 mục tiêu cơ bản sau đây:
+ Thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong
khu vực thông qua các chơng trình hợp tác.
+ Bảo vệ ổn định chính trị và kinh tế trong khu vực, chống lại sự thù địch
của các thế lực bên ngoài.
+ Diễn đàn giải quyết những tranh chấp và xung đột trong khu vực
- Hiệp ớc thân thiện hợp tác và hợp tác Đông Nam á ký tại hội nghị thợng
đỉnh ASEAN lần thứ nhất tại Bali (Inđônêsia) năm 1976 đã nêu rõ sáu nguyên tắc
cơ bản điều chỉnh các quan hệ giữa các thành viên và giữa ASEAN với các tổ
chức bên ngoài nh sau:
+ Cũng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản

thông tin đại chúng, giữ gìn đoàn kết và bản sắc ASEAN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status