Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loi bằng các
loi cây lá rộng bản địa trên đất rừng thoái hoá ở các tỉnh phía
bắc
Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Bá Chất
CTV: Nguyễn Trung Lâm, Vũ Đức Năng
Phòng Kỹ thuật Lâm sinh
I. Đặt vấn đề.
Tính đến hết năm 2004, Việt Nam đã trồng đợc 2.218.570ha rừng tập trung [6] với hơn 40
loài cây, kể cả các loài cây nhập nội và cây bản địa. Trong thời gian qua rừng trồng thuần loài đã bộc
lộ một số nhợc điểm nh đã xuất hiện dịch sâu bệnh hại nh: Sâu róm thông ở rừng Thông, sâu
Xanh ở rừng Bồ đề, sâu ăn lá và sâu đục thân ở rừng Mỡ, trên một số vùng sinh thái và đã ảnh
hởng không nhỏ tới sinh trởng sản lợng rừng trồng. Nạn cháy rừng trồng xảy ra thờng xuyên
hàng năm đã gây nhiều tổn thất đáng kể. Xói mòn và thoái hoá đất ở rừng Bồ đề luân kỳ II, rừng
trồng thuần loài Bạch đàn, Tre, Luồng, sau khai thác đã làm đất bị thoái hoá đáng kể. Điều này cho
chúng ta thấy không thể kinh doanh rừng trồng thuần loài độc canh trong nhiều luân kỳ.
Với những lý do trên việc trồng rừng hỗn loài là rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt là trồng
rừng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa trên đất rừng bị thoái hoá. Việc chọn loài cây, phơng
thức hỗn loài theo các mục đích cần phải dựa trên điều kiện lập địa, sinh thái loài cây, kiểu cấu trúc
lâm phần rừng hỗn loài. Trong khi đó những thông tin về các khía cạnh này còn ít. Do đó trong thực
tiễn sản xuất gặp nhiều những khó khăn khi tạo lập những lâm phần hỗn loài.
Đề tài Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa
trên đất rừng thoái hoá ở các tỉnh phía Bắc đợc triển khai từ năm 2000-2004 tại Thanh Hoá và Phú
Thọ nhằm thiết lập hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho việc tạo lập các mô hình rừng trồng hỗn
loài bằng các loài cây lá rộng bản địa trên đất rừng thoái hoá.
II. Phơng pháp nghiên cứu:
2.1. Phơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phân chia đối tợng đất thoái hoá theo các yếu tố: Thảm thực bì và tính chất lý hoá
Sinh trởng (D
o
, D
1.3
, H
vn
, D
t,
), phân cấp
chất lợng cây trồng, đánh giá tình hình sâu bệnh hại, tỷ lệ
sống, chết,
- Theo dõi quá trình sinh trởng của các mô hình để điều chỉnh cây phù trợ kịp thời, tạo điều kiện
cho các loài cây bản địa sinh trởng, phát triển tốt.
2.1.3. Phơng pháp xử lý số liệu:
Số liệu đợc xử lý theo phơng pháp phân tích phơng sai 2 nhân tố. Phân tích kết quả và tìm
ra mô hình tối u (có triển vọng nhất) về trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa trên
đất rừng thoái hoá trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trởng.
III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận:
3.1. Đánh giá các mô hình trồng rừng hỗn loài:
Đề tài đã tiến hành điều tra đánh giá các mô hình rừng trồng hỗn loài trong sản xuất, các công trình
nghiên cứu, chơng trình 327 và các mô hình hỗn loài khác tại 8 tỉnh phía Bắc. Kết quả điều tra,
đánh giá cho thấy:
- Các mô hình trồng rừng hỗn loài trong sản xuất do cự ly bố trí giữa cây phù trợ và cây trồng chính
quá gần nên hầu hết các mô hình đều bị cây phù trợ lấn át. Mặt khác, việc xử lý thực bì cha phù hợp
nên hiệu quả của các mô hình không cao.
- Một số mô hình trồng rừng hỗn loài trong nghiên cứu do đã có biện pháp điều chỉnh cây phù trợ,
mở tán kịp thời cho cây trồng chính nên hiện tại các mô hình này đang sinh trởng tốt và có nhiều
Hai
Nhóm loài cây bạn với cây
đợc điều tra ở Hơng Sơn
Nhóm loài rất
hay gặp
Ràng ràng, Sồi phảng và
Chẹo tía.
Sồi phảng, Giẻ và Táu Nhóm loài Côm tầng và Giẻ cuống. Trâm và Nang.
2
hay gặp Sồi
phảng
Nhóm loài ít
gặp
Lim xanh, Máu chó, Dung,
Kháo và Xoan đào.
Đái bò, Ngát, Chẹo, Bời lời,
Chân chim, Dung, Gác, Gội,
Mạ xa, Mức, Ràng ràng,
Re, Vạng, Sến, Sung, Xoan
đào và Trổ.
Nhóm loài rất
hay gặp
Xoan đào, Re gừng và
Ràng ràng.
Vạng và Táu.
Nhóm loài
tầng, Kháo và Chẹo.
Re
gừng
Nhóm loài ít
gặp
Lim xanh, Máu chó, Trám
trắng, Dung, Sồi phảng,
Gội tẻ, Kháo, Ngát, Re bầu
và Vải rừng.
Nhóm loài rất
hay gặp
Vạng trứng, Trám trắng và
Trâm
Nhóm loài
hay gặp
Chẹo, Nang, ngát, Nhọc, Re
gừng, Sang mây, Táu và Đái
bò.
Giổi
xanh
Nhóm loài ít
gặp
theo dõi quá trình sinh trởng của mô hình để có biện pháp tác động phù hợp là rất cần thiết.
Hiện tại các loài cây trồng trong mô hình thí nghiệm ở Cầu Hai sinh trởng tốt và có nhiều triển
vọng.
Bảng 2: Các chỉ tiêu sinh trởng của các loài cây trong mô hình hỗn loài tại Cầu Hai
1 tuổi 2 tuổi 3 tuổi CTTN
Các chỉ
tiêu
D
1.3
(cm)
H
(m)
Dt
(m)
D
1.3
(cm)
H
(m)
Dt
(m)
D
1.3
(cm)
H
(m)
Dt
(m)
Trám trắng là loài có mức độ phân hoá về đờng kính và chiều cao thấp nhất.
Trong nhóm 4 loài cây xây dựng mô hình, Sồi phảng là loài cây có tăng trởng nhanh nhất
(1,63cm/năm về đờng kính và 1.5m/năm về chiều cao), chậm nhất là Re gừng (1,06cm/năm về
đờng kính và 0,9m/năm về chiều cao). So với tăng trởng chung của loài ở các khu vực điều tra
khác thì các loài cây trong mô hình đều tăng trởng nhanh. Tăng trởng về đờng kính và chiều cao
của các loài đều ở mức khá trong 3 năm đầu.
Bảng 3: Tăng trởng về D và H của các loài cây trong mô hình hỗn loài ở Cầu Hai
Loài
cây
Tăng trởng hằng năm
về đờng kính D
1.3
(cm)
Tăng trởng hằng năm về
chiều cao (m)
Tuổi
1
Tuổi 2 Tuổi 3
D
(cm)
Khi
trồng
Tuổi
1
Tuổi
2
Tuổi 3
tơng đối cao. Cao nhất là Re gừng (94,6%) và Lim xanh (93,8%) và thấp nhất là Trám trắng
(76,1%). Tỷ lệ sống chung cho cả lâm phần đạt trên 90%.
Tỷ lệ sống của các loài cây trồng trong công thức cây phù trợ Keo tai tợng băng chặt 10m
cao hơn trong băng chặt 20m và công thức cây phù trợ là thảm che tự nhiên. Nguyên nhân này là do
các loài cây trong băng chặt 10m đợc che bóng tốt hơn trong giai đoạn đầu (chiều cao Keo 14m, độ
tàn che trong băng 0,5). Mặt khác, do độ che phủ của thảm thực bì trong các băng chặt (90%) cao
hơn độ che phủ thực bì ở công thức thảm che tự nhiên (70%) nên ngoài việc che bóng tốt hơn cho các
các loài cây trồng, thảm thực bì trong băng chặt giữ độ ẩm đất tốt hơn so với ở công thức thảm che tự
nhiên. Vì thế tỷ sống của các loài cây trồng ở công thức này cao hơn.
Về tình hình sinh trởng: Hiện tại các loài cây trồng trong mô hình thí nghiệm đều sinh
trởng tốt. Số liệu bảng sau cho thấy rõ hơn về tình hình sinh trởng của từng loài cây trong mô hình
thí nghiệm.
Bảng 4: Các chỉ tiêu sinh trởng của các loài cây trong mô hình hỗn loài theo cây trên hàng
ở Ngọc Lặc
Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3
Công
thức thí
nghiệm
Loài cây
Do
(cm)
H
(m)
Dt
(m)
Do
(cm)
H
(m)
xanh
1,2 0,8 0,5 2,8 1,6 1,2 4,4 2,7 1,8
5
Trám
trắng
1,4 1,0 0,6 3,0 1,8 0,9 4,6 2,5 1,2
Lim
xanh
1,3 0,8 0,5 2,4 1,3 1,2 3,4 1,9 1,4
Cây phù
trợ là thảm
che tự
nhiên
Re gừng
1,3 0,9 0,5 2,3 1,9 1,3 3,4 2,3 1,8
Trám
trắng
1,2 1,3 0,8 3,1 2,4 1,0 4,5 2,8 1,3
Lim
xanh
0,9 0,5 0,6 1,7 1,3 1,0 3,2 1,8 1,4
Re gừng
1,2 1,1 0,6 2,3 1,8 1,1 3,3 3,1 1,7
Đối chứng
Giổi
xanh
0,6 0,7 0,5 2,7 1,5 1,6 4,2 2,5 1,7
Tuổi
2
Tuổi
3
D
(cm)
Khi
trồng
Tuổi
1
Tuổi
2
Tuổi
3
H
(m)
Lim 0 ,50 0,50 1,15 1,15 0,93 0,28 0,30 0,71 0,75 0,60
Trám 0,45 0,78 1,75 1,45 1,32 0,45 0,66 0,95 0,60 0,74
Re 0,50 0,72 1,13 1,18 1,01 0,40 0,63 0,84 1,20 0,90
Giổi 0,50 0,30 1,90 1,53 1,24 0,45 0,33 0,73 1,10 0,72
Hiện tại các loài cây trong mô hình thí nghiệm đều sinh trởng tốt, cây khoẻ mạnh, phát triển
bình thờng. So với tăng trởng của từng loài ở một số địa phơng thì trên đối tợng đất đã bị thoái
hoá tăng trởng của các loài cây trong mô hình tơng đối nhanh và có triển vọng. Trong 3 năm đầu
tăng trởng của các loài cây đều tăng dần, đặc biệt ở tuổi 2 tăng trởng của các loài cây là lớn nhất.
Đến tuổi 3 tăng trởng về chiều cao của Re gừng cao nhất đạt 1,2m/năm. Về đờng kính Trám trắng
là loài có tăng trởng cao nhất đạt 1,53cm/năm. Lim xanh là loài cây sinh trởng chậm song cũng đạt
đợc mức tăng trởng trung bình (0,93cm/năm về đờng kính và 0,6m/năm về chiều cao).
Các loài cây trồng trong mô hình sinh trởng tơng đối đều, tỷ lệ cây tốt (có hình dạng phát
triển cân đối) của các loài đều rất cao. Lim xanh và Re gừng có tỷ lệ cây tốt cao nhất, trung bình đều
Kết quả điều tra về sự giao tán giữa các hàng cây bản địa với các hàng Keo tai tợng cho thấy
Sồi phảng có tỷ lệ số cây giao tán với Keo tai tợng cao nhất (56% số cây đã giao tán, 28% số cây
bắt đầu giao tán), Vạng trứng có 44,4% số cây đã giao tán và 37% số cây bắt đầu giao tán với Keo tai
tợng. Điều tra về chiều dài đoạn tán giao nhau (giữa các loài cây bản địa và Keo tai tợng) của các
loài cho thấy Sồi phảng là loài có tán chờm lên tán Keo tai tợng lớn nhất (1,5m). Chiều dài đoạn tán
giao nhau trung bình của các loài cây bản địa với Keo tai tợng là 0,3m. Giai đoạn này ngoài việc
phát luỗng dây leo, cây bụi bắt đầu tỉa tha bớt các cành Keo tai tợng, nơi đã giao tán với các loài
cây bản địa.
Đến tuổi 4 Keo tai tợng sinh trởng mạnh tiếp tục vợt lên khỏi tán của các loài cây bản địa
(chiều cao của Keo tai tợng gần gấp đôi chiều cao của các loài cây bản địa). Trong giai đoạn này
dới độ tàn che 0,6, cây bản địa đang bị Keo tai tợng lấn át mạnh.
Bảng 6: Kết quả điều tra sự giao tán giữa Keo tai tợng trồng trớc 1 năm
với các loài cây bản địa trong mô hình hỗn loài ở Cầu Hai Chỉ tiêu Re
gừng
Sồi
phảng
Trám
trắng
Vạng
trứng
Tổng
các loài
Tỷ lệ số cây đã giao
tán (%)
42,3 56,0 33,3 44,4 45,6
Mô hình
cao (ở tuổi 3) lớn hơn so với mô hình cây phù trợ Cốt khí và đối chứng.
Ngoài tác dụng cải tạo đất thông qua khả năng cố định đạm của hệ rễ, Keo tai tợng còn cung
cấp cho đất một lợng vật rơi rụng lớn. Kết quả theo dõi vật rơi rụng trong các công thức thí nghiệm
ở tuổi 4 (kể từ khi bắt đầu trồng Keo tai tợng làm cây phù trợ) cho thấy lợng vật rơi rụng trong 1
năm ở công thức cây phù trợ Keo tai tợng là lớn nhất (1113g/1m
2
). Hiện tại dới tán rừng Keo tai
tợng đã tạo ra một lớp thảm mục (chủ yếu là lá Keo tai tợng) dày 3-5cm.
Bảng 7: Lợng vật rơi rụng trong 1 năm ở các mô hình thí nghiệm tại Cầu Hai
Mô hình thí nghiệm Lợng vật rơi
rụng/1m
2
(gr)
Tuổi mô
hình
Ghi chú
Cây phù trợ Keo tai
tợng
1113 4 Keo trồng trớc
1 năm.
Cây phù trợ Cốt khí 453 4 Cốt khí gieo
trớc 6 tháng.
Công thức đối chứng:
- Sồi phảng 333 3
- Vạng trứng 172 3
- Re gừng 167 3
- Trám trắng 115 3
- Giẻ đỏ 234 3
P
2
O
5
mg/100g
K
2
O
mg/100g
Trớc khi xây dựng
mô hình
0-30 3,66 2,20 0,13 4,23 1,48
Sau khi xây dựng mô
hình (4 năm).
0-30 3,68 3,73 0,18 4,46 1,52
Đối với mô hình hỗn loài ở Ngọc Lặc Thanh Hoá, tuy có cây phù trợ là Keo tai tợng 7
tuổi, nhng mật độ còn lại không cao (73,4%, chiều cao 14m) và đợc mở theo băng 10 và 20m nên
8
trong giai đoạn 3 năm đầu Keo tai tợng có tác dụng phù trợ rất tốt cho cây bản địa trồng trong băng.
Hiện tại Keo tai tợng với chiều cao 17m, độ che phủ trong băng 0,4-0,5 cha thấy có sự cạnh tranh
lớn với các loài cây bản địa.
Đối với mô hình dùng thảm che tự nhiên làm cây phù trợ ban đầu (ở Ngọc Lặc), trong mô
hình này đến năm thứ hai và thứ ba các loài cây gỗ tái sinh tự nhiên với mật độ cao, đặc biệt là Keo
tai tợng (2000-3000cây/ha) làm cho độ che phủ tăng lên và Keo tai tợng tái sinh đã bắt đầu lấn át
cây bản địa. Sự lấn át này đợc điều chỉnh thông qua việc vệ sinh, chăm sóc và tỉa tha đã chặt bỏ
bớt các cây gỗ và Keo tái sinh. Vì vậy, cây bản địa vẫn sinh trởng, phát triển bình thờng. Các loài
cây trong mô hình cha thấy có phản ứng nào khác thờng.
4. Trần Nguyên Giảng, 1998. ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng rừng ẩm hỗn loài cây địa phơng trên
đất nơng rẫy trống trọc tại vờn quốc gia Cát Bà, Hải Phòng. Báo cáo Khoa học.
5. Phạm Xuân Hoàn, 2002. Một số kết quả nghiên cứu phục hồi rừng bằng cây bản địa. Tạp chí
NN&PTNT số 10.
6. QĐ số 1116, ngày 18 tháng 5 năm 2005 của Bộ NN&PTNT về việc công bố diện tích rừng và đất
cha sử dụng toàn quốc năm 2004.
7. Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam - Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ lâm nghiệp giai
đoạn 1996-2000.
8. The Multi - Storied Forest Management in Malaysia, 1999.
9. MV Kolexnitsenko (1977), sự tơng tác hoá sinh của những thân cây gỗ. Nguyễn Sĩ Đơng,
Nguyễn Nh Khanh dịch, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội. 9