chuyên đề ôn thi kinh tế chính trị phần thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - Pdf 14

MỘT SỐ CÂU HỎI KINH TẾ CHÍNH TRỊ - THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

Câu 1: Trình bày và phân tích vai trò của thành phần kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế nước ta. Hãy cho biết chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân
hiện nay có dẫn đến nguy cơ phục hồi chủ nghĩa tư bản không ? Tại sao?
Trả lời:
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất và lao động của chính người sản xuất hoặc sử dụng lao động làm thuê.
Theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Việt Nam có
các thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh kinh tế tư nhân là một trong
những động lực của nền kinh tế. Như vậy, có thể khẳng định thành phần kinh tế tư
nhân trong nền kinh tế Việt Nam có vai trò rất quan trọng, sự đóng góp của nó đối với
nền kinh tế là không nhỏ. Cụ thể:
Thứ nhất, kinh tế tư nhân tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn, đóng
góp ngày càng lớn vào ngân sách Nhà nước. Giai đoạn 2001-2009, khu vực kinh tế tư
nhân đóng góp chính vào sản lượng GDP và ngày càng có xu hướng tăng (từ 61%
năm 2001 lên 67% năm 2009). Tỷ trọng đóng góp vốn đầu tư của khu vực KTTN tăng
mạnh, chiếm hơn 2/3 tổng vốn đầu tư xã hội.
Thứ hai, kinh tế tư nhân tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ, tham gia tích cực
và hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Kinh tế tư nhân là lực lượng
kinh tế quan trọng trong thu hút vốn và lao động, tạo nhiều công ăn việc làm, phát
triển ngành nghề, ứng dụng công nghệ mới; kinh tế tư nhân trực tiếp đóng vai trò giải
quyết thất nghiệp, góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần
cho nhân dân, huy động ngày càng nhiều nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội đất
nước. Số lượng việc làm tạo ra rất ấn tượng và chi phí tạo việc làm của doanh nghiệp
tư nhân thấp nhất trong các khu vực kinh tế. Năm 2008, để tạo ra 1 việc làm mới,
doanh nghiệp tư nhân chỉ cần 224,1 triệu VNĐ, DNNN cần 436,5 triệu VND và DN
ĐTNN cần 249,4 triệu VNĐ.
- Kinh tế tư nhân thúc đẩy cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế. KVKTTN vượt trội

Do đó, cần khuyến khích, tạo điều kiện và hướng dẫn thành phần kinh tế tư
nhân phát triển nhằm huy động vốn, tạo việc làm, tăng tổng sản phẩm xã hội; tăng thu
cho ngân sách nhà nước.
Chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân hiện nay không dẫn đến
nguy cơ phục hồi chủ nghĩa tư bản. Bởi vì:
Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong
đó có thành phần kinh tế tư nhân là một tất yếu khách quan (Do lực lượng sản xuất
phát triển không đồng đều giữa các vùng, các ngành và trong nội bộ từng vùng, từng
ngành nên tương ứng với những trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất ấy, tất yếu
còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, dẫn đến tồn tại nhiều thành phần kinh tế
khác nhau, trong đó có thành phần kinh tế tư nhân. Đồng thời, xã hội cũ để lại nhiều
thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân dưới nhiều hình thức tổ chức sản xuất – kinh
doanh khác nhau, kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và người làm thương nghiệp,
dịch vụ nhỏ… mà chưa cần và chưa thể cải tạo ngay được, Nhà nước cần phải sử dụng
chúng để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, không những chỉ thừa
nhận sự tồn tại khách quan của thành phần kinh tế tư nhân, mà còn phải thực hiện nhất
quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa trong đó có thành phần kinh tế tư nhân.)
Hơn nữa, theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng,
mặc dù Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế nhưng kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Như vậy, mặc dù thành phần kinh
2
tế tư nhân được khuyến khích nhưng thành phần kinh tế nhà nước mới là thành phần
kinh tế chiếm địa vị thống trị và chi phối nền kinh tế.
Từ những phân tích về vai trò của thành phần kinh tế tư nhân đối với sự phát
triển kinh tế xã hội đất nước ở trên, ta thấy sự lớn mạnh của thành phần kinh tế này
không có hại mà chỉ có lợi cho nền kinh tế quốc dân.

Đại hội XI đã nêu rõ định hướng nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại,
tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu. Quan điểm “Đa phương hóa, đa
dạng hóa” được thể hiện:
Thứ nhất, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, song
phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ. Cho đến nay, Việt Nam đã có
quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước và có quan hệ về kinh tế, thương mại, đầu tư với
3
hơn 200 nước và vùng lãnh thổ. Trong các mối quan hệ này, Việt Nam tiếp tục ưu tiên
tạo dựng khuôn khổ quan hệ hợp tác hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng
giềng, các nước trong khu vực. Đồng thời, Việt Nam cũng luôn coi trọng củng cố và
tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác của Việt Nam với các nước bạn bè truyền
thống, các nước khác ở châu Á, Đông Âu, Trung Đông, châu Phi và Mỹ La-tinh.
Nhiều Hiệp định, thoả thuận quan trọng đã được ký kết như Hiệp định Thương mại
song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định về biên giới trên bộ, Hiệp định về phân
định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá với Trung Quốc, Hiệp định về phân định
thềm lục địa với In-đô-nê-xia
Thứ hai, Việt Nam đã tham gia sâu rộng và ngày càng hiệu quả ở các tổ chức
khu vực như ASEAN (tháng 7,1995), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á -Thái Bình
Dương (APEC) (tháng 11,1998), Diễn đàn á - Âu (ASEM) (12,1995) và Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) (tháng 1/2006) sau 11 năm đàm phán.
Các mối quan hệ song phương và đa phương đó đã góp phần không nhỏ vào
việc không ngừng củng cố môi trường hoà bình, ổn định và tạo mọi điều kiện quốc tế
thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hơn nữa, những đóng góp của
Việt Nam vào các hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế đã góp phần từng bước
nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ ba, Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế nhưng chúng ta luôn
nhận thức rõ rằng, các quốc gia tuy chia sẻ một số lợi ích chung song luôn có những
lợi ích riêng, đôi khi trái chiều nhau, nên trong quan hệ quốc tế luôn diễn ra quá trình
vừa hợp tác vừa đấu tranh. Thành công sẽ đến khi chúng ta chủ động, tích cực phát
huy các điểm tương đồng, có giải pháp phù hợp khắc phục những bất đồng nhằm thúc

chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế; thu hút khoa học công nghệ hiện đại, khai thác và
ứng dụng những kinh nghiệm quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta.
Ba là, góp phần tích lũy vốn phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, đưa nước
ta từ 1 nước nông nghiệp lạc hậu lên nước công nghiệp tiên tiến, hiện đại.
Bốn là, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu
nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những tích cực và cơ hội, “ đa phương hóa, đa dạng hóa”
quan hệ kinh tế đối ngoại cũng tạo ra những tiêu cực như sau:
Thứ nhất, “ đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ kinh tế đối ngoại có thể dẫn
đến khả năng phụ thuộc lớn vào bên ngoài. Mức độ phụ thuộc chủ yếu thể hiện trên tỷ
lệ vốn FDI, ODA. Ví dụ như nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào
thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ hay có những ưu đãi đối với các nhà
đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, khả
năng sinh lợi cao.
Thứ hai, chúng ta có nguy cơ phải tiếp nhận công nghệ lạc hậu của các nước
phát triển, biến Việt Nam thành bãi rác công nghiệp hay nơi tái chế của họ và trở
thành vùng ô nhiễm khổng lồ.
Thứ ba, “ đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho
mọi hoạt động của con người kém an toàn từ an toàn kinh tế, tài chính, văn hóa, xã
hội đến an toàn chính trị.
Để “đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ kinh tế đối ngoại thuận lợi, ngày
càng phát triển, chúng ta cần thực hiện những giải pháp chủ yếu như sau:
- Đảm bảo ổn định môi trường chính trị kinh tế xã hội. Đấu tranh kiên quyết và
nghiêm khắc với những hành vi quan liêu, tham nhũng, lãng phí nhằm tạo lập một môi
trường tích cực thu hút đầu tư nước ngoài. Tiếp tục đổi mới thể chế chính trị, rà soát,
điều chỉnh các luật, văn bản pháp quy, các chính sách đề ngày càng hoàn thiện hệ
thống pháp luật phù hợp với các hoạt động kinh tế đối ngoại và luật pháp thông lệ
quốc tế.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của NN đối với hoạt động KTĐN. Có


Câu 3: Phân tích vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Hãy cho biết hiện nay kinh tế nhà nước đã thực
hiện vai trò chủ đạo đó hay chưa ? Tại sao ?
Trả lời:
Quá trình đổi mới KT ở nước ta bắt đầu từ ĐH VI của Đảng năm 1986. Gần 30
năm phát triển KTTT theo định hướng XHCN, Đảng ta chỉ rõ tồn tại nhiều thành phần
KT nhưng luôn xác định vai trò chủ đạo của TP KTNN.
Mục tiêu phát triển KT nhiều thành phần theo định hướng XHCN, các thành
phần kinh tế phải được cải biến. Không thể “Xóa bỏ” hay “chuyển đổi” các thành
phần KT một cách chủ quan duy ý chỉ mà phải căn cứ vào trình độ phát triển của
LLSX, từng bước hình thành quan hệ SX mới. Trên cơ sở Cương lĩnh và HP, đồng
thời trải qua tổng kết thực tiễn đổi mới của các kỳ ĐH, ĐH XI của Đảng ta khẳng định
rõ các thành phần KT là: KTNN; KT tập thể; KT tư nhân; KT có vốn đầu tư nước
ngoài. Trong đó:
6
KTNN là thành phần KT dựa trên cơ sở sở hữu Nhà nước về TLSX, bao gồm
các DNNN và tài sản nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển KT như: ngân sách
nhà nước, các quỹ bảo hiểm nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, cơ sở vật chất của quốc
phòng, an ninh, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đất đai, tài nguyên…
KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền KTQD, là nhân tố mở đường cho sự phát
triển KT, là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để nhà nước định hướng và điều
tiết vĩ mô nền KT.
Để làm được điều đó, KTNN cần tập trung nguồn lực phát triển những ngành,
lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng KT, ngân sách, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm,
những cơ sở SX và thương mại dịch vụ then chốt, một số doanh nghiệp nhà nước,
những cơ sở có nhiệm vụ quan hệ đặc biệt đến quốc phòng an ninh… có quy mô nói
chung lớn và vừa, công nghệ hiện đại, kinh doanh có hiệu quả.
Cần giải quyết đúng mối quan hệ giữa quyền SH nhà nước và quyền quản lý
kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp NN nhằm thực hiện hạch toán kinh doanh

và lực vượt trội mà doanh nghiệp nhà nước có; 12% số doanh nghiệp NN thua lỗ, 30
tập đoàn, DN tổng Công ty NN có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu vượt mức quy định 3
lần, có 7 tổng công ty vượt trên 10 lần. Từ khi NĐ 108/2006 phân cấp đầu tư, số dự án
đầu tư công tăng vọt (năm 2012 có 38420 dự án); Nhiều dự án dở dang chất lượng
thấp, lãng phí.
Để khắc phục tình trạng trên, Đảng ta chủ trương phát triển và nâng cao hiệu
quả của các thành phần KT trong nền KTTT định hướng XHCN, trong đó KTNN
đóng vai trò chủ đạo.
Tại ĐH XI Đảng ta khẳng định “KTNN giữ vai trò chủ đạo, KT tập thể không
ngừng được củng cố và phát triển. KTNN cũng KT tập thể ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc của nền KT quôc dân”
Để KTNN phát huy được vai trò chủ đạo phải sắp xếp lại các doanh nghiệp theo
hướng sau:
- Xây dựng một sô tập doàn KT mạnh trên cơ sở các tổng công ty NN, có sự
tham gia của các TPKT. Khẩn trương cải thiện tình hình tài chính và lao động của các
doanh nghiệp NN, củng cố và hiện đại hóa một bước các tổng công ty NN.
- Thực hiện tốt chủ trương CPH và đa dạng hóa SH đối với những doanh nghiệp
NN không nắm 100% vốn;
- Giao, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà NN không cần nắm
giữ;
- Sáp nhập, giải thể, phá sản, những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và
không thực hiện các biện pháp trên.
Thời gian qua, việc tái cơ cấu DNNN đã được thực hiện theo hướng tập trung
vào những ngành, lĩnh vực then chốt và cung ứng dịch vụ công thiết yếu. Vì vậy hiệu
quả hoạt động của DNNN có bước cải thiện, với khoảng 80% doanh nghiệp hoạt động
có lãi tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ SH của các tập đoàn, tổng công ty NN năm 2010
và 2011 đều đạt trên 18%, năm 2012 đạt 17,4%. Doanh nghiệp NN đã đóng góp trên
33% GDP.
Với định hướng và giải pháp trên, có thể khẳng định rằng đến nay KTNN đã
thực hiên được vai trò chủ đạo của mình trong thực tiễn.

ĐH VII, VIII, hội nghị TW4 khóa 8 nhấn mạnh: chủ động chuẩn bị các điều
kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là những sản phẩm mà chúng ta có khẳ
năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và quốc tế…
ĐH IX chủ trương: “Chủ động hội nhập KTQT và khu vực”; NQ 07 của BCT,
NQTW 9 nhấn mạnh: “…chuẩn bị tốt điều kiện để sớm gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO)”…
ĐH X Đảng ta bổ sung thêm: “Chủ động và tích cực hội nhập KTQT, đồng thời
mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”…
ĐH Đảng XI trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng KHCN bùng nổ, Đảng
ta phát triển quan điểm trên thành: “Chủ động và tích cực hội nhập QT”. Quan điểm
này thể hiện rõ ở bước đi và lộ trình hội nhập của VN với khu vực và thế giới. VN
tham gia vào tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ, và định hướng
XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững ANQG, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo
vệ môi trường.
Trong tiến trình đó, VN ưu tiên cao và trước tiên cho việc hội nhập KTQT
thông qua các hoạt động mở rộng KT đối ngoại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường,
tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và KHCN tiên tiến cho sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước.
9
Đảng ta chỉ rõ:
- Hội nhập KTQT là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa cạnh tranh, vừa có
cơ hội, vừa có thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt để đạt hiệu quả.
- Nhận thức đầy đủ về đặc điểm nền KT nước ta va xu thế thế giới để xây dựng
kế hoạch và lộ trình hội nhập hợp lý, hiệu quả.
- Kết hợp chặt chẽ hội nhập KT với giữ vững ANQP. Thông qua hội nhập để
tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc phòng, củng cổ chủ quyền và an ninh đất
nước.
- Hội nhập KTQT là sự nghiệp của toàn dân.
Về giải pháp để mở rộng và nâng cao hiệu quả KTĐN:

Quan điểm của Đảng ta về kinh tế đối ngoại thể hiện tư duy mới của Đảng ta
trong lĩnh vực kinh tế. Nói cách khác đó là sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta.
Quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế nước ta và xu thế
10
thời đại. Thực tiễn là thước đo, tiêu chuẩn của chân lý. sau gần 30 năm đổi mới, kinh
tế nước ta đã có bước phát triển quan trọng, từng bước ra khỏi khủng hoảng, đời sống
nhân dân được cải thiện đáng kể, nền KT thị trường định hướng XHCN đã được xác
lập và khẳng định rõ tính ưu việt của nó; quan hệ của nước ta với các nước trên thế
giới ngày càng mở rộng, đặc biệt là quan hệ, hợp tác trên lĩnh vực kinh tế…Điều đó
càng chứng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo trong quan điểm kinh tế đối ngoại của Đảng ta.
Đây cũng là cơ sở, nguyên tắc chỉ đạo cho các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị vận
dụng để mở rộng quan hệ hợp tác, làm ăn với đối tác nước ngoài góp phần nâng cao
hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Câu 5: Trình bày hình thức phân phối theo lao động ? Cho biết vì sao C.Mác lại
cho rằng dù có ưu việt hơn các hình thức phân phối khác, phân phối theo lao
động xét đến cùng vẫn còn mang tính chất pháp quyền tư sản ?
Trả lời:
Đảng ta khẳng định: nền KT nước ta trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế nhiều
thành phần có sự quản lý của NN, tương ứng với nó là nhiều hình thức phân phối
nhưng lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời
phân phối dựa trên mức đóng góp nguồn lực khác vào kết quả sản xuất, kinh doanh và
phân phối thông ta phúc lợi xã hội.
Trong nền KT này xuất hiện nhiều chủ thể KT khác nhau với các hình thức sở
hữu khác nhau và cũng vì lẽ đó mà xuất hiện nhiều phương thức phân phối khác nhau.
Hình thức sản xuất, kinh doanh khác nhau thì kết quả kinh doanh khác nhau, do đó
cần có các hình thức phân phối khác nhau.
Vì vậy ở nước ta hiện nay tồn tại nhiều hình thức phân phối, trong đó có phân
phối theo lao động. Đây là hình thức căn bản và chủ yếu, thích hợp nhất với các thành
phần KT.
Phân phối theo lao động là hình thức phân phối thu nhập căn cứ vào số lượng

xã hội với lợi ích của từng cá nhân lao động. Nó khuyến khích người lao động đi sâu
vào nghề nghiệp chuyên môn, thu hút lao động, đưa KHKT tiên tiến vào sản xuất kinh
doanh thay lao động chân tay. Tạo điều kiện cho việc phân bổ và sử dụng lao động ổn
định, đảm bảo sản xuất xã hội cân bằng và có kế hoạch. Nó góp phần giáo dục về
quan điểm, thái độ, kỷ luật lao động. Nó làm cho bản thân người lao động vì lợi ích
vật chất của mình mà quan tâm đến kết quả lao động của mình từ đó ra sức đẩy mạnh
sản xuất.
Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu “làm theo năng lực, hưởng theo nhu
cầu” thì còn nhiều việc phải làm. Bởi theo Mác, phân phối theo lao động vẫn là một
thứ pháp quyền tư sản, quyền bình đẳng vẫn nằm trong khuôn khổ tư sản, tức là trong
xã hội sản xuất hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc trao đổi ngang giá và quyền
của người lao động tỷ lệ với lao động người ấy cung cấp thì điều đó vẫn còn thiếu sót.
Bởi vì một công việc ngang nhau, một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng xã
hội nhưng trên thực tế người này vẫn được hưởng nhiều hơn người kia.
Chế độ phân phôi theo lao động vẫn còn thiếu sót nhưng đó là những thiếu sót
không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa Công sản nếu như trong xã hội
tư bản phân phối dựa trên cơ sở “người có của, kẻ có công” thì trong xã hội XHCN
được dựa trên nguyên tắc “người làm nhiều hưởng nhiều, người làm ít hưởng ít,
không làm không hưởng” đó là bình đẳng. Mặc dù còn nhiều thiếu sót nhưng với tác
dụng của mình thì phân phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối phù hợp nhất
trong điều kiện vừa thực hiện CNH, HĐH vừa đảm bảo công bằng cho các thành viên
trong nền kinh tế hoạt động hiệu quả.
Câu 6: Trình bày và phân tích các loại hình và hình thức sở hữu trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở nước ta. Hãy cho biết trong điều kiện đã có nhà nước “của
dân, do dân và vì dân” thì có thể sáp nhập hai hình thức sở hữu toàn dân và sở
hữu nhà nước thành một hay không? Tại sao?
12
Quá độ lên CNXH là quá trình tiến tới một chế độ xã hội mới với nền KT phát
triển có LLSX hiện đại dựa trên nền tảng của chế độ công hữu về những tư liệu sản
xuất chủ yếu: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân.

có thể coi việc sử dụng các loại hình sở hữu như là phương tiện để phát triển KT.
Song, xét bản chất, định hướng lâu dài thì phải coi việc củng cố, hoàn thiện chế độ
công hữu XHCN như là mục đích để xây dựng nền tảng KT cho sự phát triển theo
định hướng XHCN ở nước ta.
Trong điệu kiện đã có nhà nước “của dân do dân và vì dân” thì không thể sáp
nhập hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước thành một.
Ngoài tính thống nhất giữa các thành phần KT trong thời ký quá độ lên CNXH
ở nước ta, có thể nói nền KT nhiều thành phần là cơ sở cho sự tồn tại giai cấp hoặc
tầng lớp XH khác nhau. Trong cơ cấu XH- giai cấp ấy, mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp XH,
13
các chủ thể sản xuất KD thuộc các thành phần KT đều có những lợi ích KT riêng vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn.
Mỗi thành phần KT có đặc điểm riêng về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất.
Trên cơ sở đó, ở mỗi thành phần KT, ngoài các quy luật KT chung còn có các
quy luật KT đặc thù, hoạt động, chi phối mỗi thành phần.
Như vậy mỗi thành phần KT mang bản chất KT khác nhau, lợi ích khác nhau,
thậm chí đối lập. Mâu thuẫn giữa các TPKT làm cho cạnh tranh trở thành tất yếu, nhà
nước cần tạo môi trường thuận lợi. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa một bên là KTNN, KT
tập thể, và KTTB nhà nước với một bên là tính tự phát của KT tư nhân là mâu thuẫn
nổi bật.
Trong quá trình cạnh tranh và hợp tác, từng thành phần KT tồn tại với tư cách là
đơn vị sản xuất hàng hóa đều đóng góp vào sự phát triển chung của nền KT và cần có
sự quản lý của NN nhằm đảm bảo nền KT phát triển nhanh, đem lại thắng lợi cho
CNXH. Các thành phần KT cần được thừa nhận và tạo điều kiện để chúng tồn tại,
phát triển, đồng thời bình đẳng trên mọi phương diện./.
Câu (tham khảo thêm): Trình bày các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình. Không
thể đồng nhất “ sở hữu toàn dân” và “sở hữu nhà nước” được vì không thể có nhà
nước toàn dân. Toàn dân và nhà nước là 2 chủ thể sở hữu khác nhau và chúng phù hợp
với các đối tượng sở hữu khác nhau.
Trả lời:

hỏi phải có quan điểm tiếp cận đúng đắn. Cần nắm vững nguyên lý lý luận của chủ
nghĩa Mác- Lênin và TTHCM khi nghiên cứu và tiếp cận giải quyết vấn đề.
SH là phạm trù kinh tế khách quan và là một mặt của QHSX. Do vậy, nghiên
cứu SH không thể tách rời khỏi LLSX, quan hệ SH vừa là kết quả, vừa là điều kiện
phát triển của LLSX. Các hình thức SH và loại hình SH xuất hiện, tồn tại, chuyển hóa
thay thế lẫn nhau là một quá trình lịch sử tự nhiên.
2. Không thể đồng nhất “Sở hữu toàn dân” với “Sở hữu Nhà nước” vì SH toàn
dân do dân có quyền định đoạt và sử dụng. Còn sở hữu Nhà nước thì nhà nước có
quyền sử dụng nhưng dân không có quyền sử dụng tài sản của Nhà nước quản lý./.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status