Vài nét về Vấn đề cơ giớI hoá phục vụ trồng rừng trên vùng đất phèn Đồng bằng
sông Cửu Long
Nguyễn Quang Trung
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Diện tích đất phèn chiếm 1/3 trong tổng số gần 4 triệu héc ta đất ở Đồng bằng
sông Cửu long (ĐBSCL), và phân bố ở hầu hết các tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu
ở 1 số tỉnh như: Long an, Đồng Tháp, Kiên Giang ,An Giang .
Đất phèn ở ĐBSCL nhìn chung phân bố ở những nơi có địa hình thấp, được hình
thành do qúa trình bồi lắng phù sa của các con sông từ ngàn xưa. Hàng năm vào
cuối mùa mưa cho đến hết mùa lũ (Từ tháng 9 đến tháng 2), phần lớn diện tích đất
ở các nơi này bị ngập nước.Tùy theo địa hình từng vùng và mực nước lũ hàng
năm, độ ngập nước trung bình dao động từ 0.5 m đến 1m ( so với mặt đất tự
nhiên).
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu đất, môi trường và lâm sinh thì ở những
vùng phèn nặng và vùng hoang hóa chưa có hệ thống kênh mương thủy lợi hoàn
chỉnh, việc sử dụng đất vào mục đích trồng rừng đang mang lại hiệu qủa kinh tế
cao và hiện nay các giống tràm ( Melaleuca sps.) đang đợc coi là loài cây thích
hợp.
Trên thực tế ở một số tỉnh như Long An , Tiền Giang , Kiên Giang v.v phong trào
trồng rừng và diện tích rừng trồng đang gia tăng. Nhiều hộ nông dân đã chuyển
đổi từ gieo trồng cây nông nghiệp sang trồng tràm, vì năng suất và giá thu mua của
một sồ loại nông sản ở vùng này thường thấp và không ổn định.
Theo số liệu thống kê của sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Long an,
tính đến năm 1999 toàn tỉnh trồng được 35869 ha rừng. Để đạt được chỉ tiêu
60438 ha rừng vào năm 2010, phải trồng thêm 24869 ha ( trong đó 11899 ha là đất
hoang hóa, số còn lại phần lớn là đất nông nghiệp chuyển sang)
Nhu cầu trồng rừng hiện nay cũng như trong thời gian tới trên vùng đất phèn
ĐBSCL là rất lớn. Nhiệm vụ đặt ra cho những người làm lâm nghiệp — phát triển
rừng là làm sao hỗ trợ cho các chủ rừng không chỉ tăng nhanh diện tích rừng trồng
dụng đất và trồng các loài cây không chịu được ngập úng( chẳng hạn như bạch
đàn, keo ). Lên liếp là công việc đào mương đắp bờ ( hay còn gọi là liếp). Mặt
liếp là nơi trồng cây, mương là hệ thống cấp, thoát nước và là nơi xổ phèn, nhờ đó
mà độ phèn trong đất trên mặt liếp giảm, đất được cải tạo dần. Đồng thời hệ thống
kênh mương còn tạo thuận lợi cho việc vận chuyển cây con trong trồng rừng ,
cũng như việc chăm sóc rừng và vận chuyển lâm sản khai thác sau này. Ngoài ra,
hệ thống kênh mương hợp lí còn là những băng cản lửa và nơi cung cấp nước
phòng chống cháy rừng.
Tùy theo từng loại cây trồng và địa hình từng vùng, việc thiết kế mương, liếp có
khác nhau. Mặc dù chưa có một quy trình cụ thể, nhưng trên cơ sở kích thước của
các loại mương, liếp hiện nay đang áp dụng, chúng tôi thấy hoàn toàn có thể sử
dụng cơ giới để thi công thay thế cho lao động thủ công trong công đoạn này.
Vào mùa khô sau khi lũ đã rút, nền đất tương đối cứng, đủ điều kiện cho phép một
số loại máy kéo có thể hoạt động được. Hiện nay trên thị trường Việt nam đã có
một số loại dải xích chuyên dùng cho vùng đất mềm, sình lầy (Chẳng hạn máy kéo
KOMATSU D31-PL20 với dải xích chống lầy, có áp lực lên mặt đất vào khoảng
0.26 kg/cm2- tương đương áp lực bước chân người lên mặt đất)
Trên cơ sở công cụ đào mương của nước ngoài (Liên xô cũ), một vài cơ sở như
Công ty trồng rừng Kiên- Tài ở Kiên Giang, Phân viện Khoa học Lâm nghiệp
Nam Bộ, đã cải tiến thiết kế thành dàn cày lên liếp. Mặc dù chưa thật hoàn hảo
song hệ thống dàn cày này là bước tiến đầu tiên, khẳng định khả năng đưa cơ giới
vào khâu đào mương lên liếp, phục vụ trồng rừng trên vùng đất phèn ở ĐBSCL.
Năm 1998, trạm thực nghiệm lâm nghiệp Thạnh Hóa, thuộc Phân viện Khoa học
Lâm nghiệp Nam Bộ đã sử dụng đồng bộ một số loại máy và thiết bị vào việc
chuẩn bị đất trồng rừng trên vùng đất phèn huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Nhóm các máy được sử dụng vào khâu xử lí thực bì gồm có: Máy kéo MTZ-530,
MTZ-82 với bánh lồng thép, Máy ủi KOMATSU D31 PL20. Nhóm máy được sử
dụng vào khâu lên liếp gồm có: Máy kéo Challenger 35, máy xúc KOMATSU PC
100, máy xúc KOMATSU PC12-R8. Mặc dù thời gian và diện tích đất đựợc làm
chưa nhiều để có thể khẳng định tính ưu việt cũng như việc tính toán năng xuất,
tiêu khả năng tái sinh chồi của tràm gió, đưng. Mặc dù vậy, nếu sử dụng máy
chúng ta sẽ giải quyết được khâu tiến độ trong qúa trình làm đất trồng rừng. Điều
này có ý nghĩa rất lớn trên vùng đất phèn ngập lũ, nơi mà thời gian giành cho việc
làm đất trồng rừng chỉ vào khoảng 2 đến 3 tháng trong năm.
Trong tương lai, để sử dụng máy trong khâu làm đất trồng rừng có tính thuyết
phục hơn, trở nên hữu ích hơn với các chủ rừng trên vùng đất phèn ở ĐBSCL cần
giải quyết một số vấn đề sau:
- Về công cụ làm đất: Cần tuyển chọn, cải tiến hoặc thiết kế mới các loại dàn cày
sau máy sao cho việc làm đất vừa thuận tiện vừa đáp ứng các yêu cầu kĩ thuật làm
đất cho từng loại cây trồng. Đối với dàn cày lên liếp hiện nay có 2 hạn chế cần
khắc phục: Một là dàn cày lên liếp trồng bạch đàn phải đạt được chiều cao mặt
liếp lớn hơn so với hiện nay từ 20 cm — 30 cm. Hai là sử dụng dàn cày lên liếp 1
lần để làm đất trồng tràm ở những vùng đất cao, đáy mương cần được mở rộng ra
hơn so với hiện nay từ 30 cm đến 50 cm.
- Về động lực: Cần khảo sát, đánh giá mức độ phù hợp của các loại máy đã đưa
vào sử dụng. Tuyển chọn các loại đầu kéo có các tính năng kỹ thuật đáp ứng được
yêu cầu làm đất, phù hợp với các yếu tố hóa tính, lý tính của đất trong vùng
ĐBSCL. Có 2 yếu tố quan trọng khi tuyển chọn là: công suất máy và cơ cấu di
động. Công suất của máy tuyển chọn tùy thuộc vào công cụ làm đất kéo theo. Đối
với việc làm đất trồng tràm, công suất máy từ 100 mã lực đến 140 mã lực là đủ để
kéo dàn cày lên liếp đang sử dụng. Cơ cấu di động nên dùng các lọai dải xích
chống lầy, để kéo dài thời gian làm đất trong năm. Một điều quan trọng nữa là giá
mua máy và khả năng bảo dưỡng sửa chữa phù hợp với điều kiện hiện nay ở Việt
Nam, vì điều này có liên quan trực tiếp tới giá thành làm đất sau này.
Nhìn lại hiện trạng cơ giới hóa trong sản xuất nông lâm nghiệp hiện nay trên vùng
đất phèn ở ĐBSCL chúng tôi thấy rằng:
Trong sản xuất lâm nghiệp, trừ khâu vận chuyển cây con và gỗ sản phẩm đã sử
dụng ghe và xuồng gắn máy, còn lại các công đoạn khác đều thực hiện bằng lao
động thủ công. Đành rằng việc việc sử dụng máy trong khâu chuẩn bị đất trồng
rừng hiện nay không mấy dễ dàng do đơn giá lao động thủ công còn thấp, vốn đầu
is applied. The use of machines in vegetation treatment brings about better results
than doing by hand. (quality of the work as well as economic efficiency)In the
construction of raised bands for Melaleuca leucadendron plating the use of
machines is much more effective than hand labour. For step by step implementing
the mechanization of site preparation for forest planting to meet the increasing
requirement in the sulphate acid soil region in the Mekong river delta, more
attention must be paid to selecting the machines that are suitable to soil
characteristics in this region at the same time improving tools for land preparation
to meet the requirements of the silvicultural techniques and at the same time attain
high economic efficiency.