Đề tài: Mối quan hệ giữa gia đình xã hội công dân nhà nước trong triết học pháp quyền của Hegel - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI GIỮA KỲ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN
Đề tài: MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH – XÃ HỘI CÔNG DÂN –
NHÀ NƯỚC TRONG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN CỦA HEGEL
SVTH: LÊ THỊ NGỌC ANH
MSSV: 1256070040
GVHD: TS. NGÔ THỊ MỸ DUNG
TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 4 năm 2014
Danh Mục
I.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN HEGEL
1. Hegel(1770 – 1831) – Một trong những biểu tượng của tinh thần
Đức
2. Triết học pháp quyền Hegel – Triết học tinh thần khách
quan
3. Mục đích của triết học pháp quyền Hegel
4. Cấu trúc “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” Hegel
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH – XÃ HỘI CÔNG DÂN VÀ
NHÀ NƯỚC TRONG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN HEGEL
1. Gia đình
2. Xã hội công dân
3. Nhà nước
III. KẾT LUẬN I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN HEGEL


nghiên cứu chủ yếu làm nên tên tuổi L. Feuerbach (1804 – 1872).
1 Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử triết học, Nxb Chính Trị Quốc Gia Hà Nội – 1998, tr.371
2 vi.wikipedia.org/wiki/Immanuel_Kant
Và cuối cùng không thể không nhắc đến một trong những biểu
tượng của tinh thần Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX – G.V.F.
Hegel (1770 – 1831) là nhà biện chứng lỗi lạc, bậc tiền bối của triết
học Mácxít. Theo nhận xét của Ph.Ăngghen, ông “không những chỉ
là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách
khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”
3
.
Hegel là người đã đem đến cách hiểu mới về phép biện chứng,
vượt qua cách hiểu mang nặng tính chủ quan về biện chứng như
“nghệ thuật đối thoại”. Phương pháp biện chứng được thể hiện ngay
từ công trình triết học lớn đầu tiên - “Hiện tượng học tinh thần”
(1806) và xuyên suốt cuộc đời của ông, có lẽ đây cũng là tác phẩm
lớn nhất mang lại tiếng tăm lẫy lừng cho Hegel. Song nội dung cơ
bản nhất tập trung trong Lôgic học hay Khoa học logic.
Do vậy, một đặc điểm nổi bật của khoa học triết học Hegel là sự
kết hợp của ba thành tố: logic học, khoa học tự nhiên, triết học tinh
thần. Bên cạnh đó, Hegel còn được biết đến bởi tư tưởng của ông về
“Triết học pháp quyền” khi nó mặc nhiên trở thành tên gọi ngắn
gọn và quen thuộc dành cho tác phẩm lừng danh mang đến hai nhan
đề: “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” (Grundlinien der
Philosophie dé Rechts) và “Đại cương pháp quyền tự nhiên và khoa
học về Nhà nước” (Naturrecht und Staatswissenschaft im
Grundrisse) của Hegel sau khi tác giả của nó qua đời”
4
được xuất
bản lần đầu năm 1821 tại Berlin.

nhiệm vụ của triết học pháp quyền là nhận thức và diễn tả cái hợp
lý ở trong bản thân nhà nước và pháp luật, chứ không phải chỉ ra
chúng cần phải như thế nào. Trong Phác thảo về triết học háp quyền
Hegel viết “Nhiệm vụ cơ bản của triết học pháp quyền là nhận thức
nhà nước và pháp luật, chứ không phải là chỉ ra chúng phải như thế
nào. Triết học không thể vượt qua khuôn khổ của thời đại mình,
nhiệm vụ cơ bản của nó là đạt tới tính hợp lý của cái hiện tồn chứ
không phải là tìm kiếm lý luận mới về nhà nước và pháp luật. Bởi
vì tác phẩm bao hàm khoa học về nhà nước và pháp luật nên nó sẽ
là ý định nhận thức và mô tả một cái hợp lý trong bản thân mình.
Với tư cách là một tác phẩm triết học nó cần hải đi xa hơn việc kiến
tạo nhà nước như là nhà nước cần phải trở nên như vậy”
5
3. Mục đích của triết học pháp quyền Hegel.
Bởi Hegel là một nhà “Bách khoa” nên những phát biểu của ông
được người ta biểu dương mang tính thần. Hơn nữa, trong hệ thống
triết học của ông nói chung và tư tưởng về triết học pháp quyền nói
riêng mọi sự phân tích đều quy về logic.
Triết học pháp quyền là triết học về luật, về quyền con người
trong việc ban hành luật, đi tìm một nhà nước như thế nào là “hợp
lý tính” và đem lại giá trị bảo đảm thực thi công lý trong những
quyền mà pháp luật đề cập đến. Trong đó, “tự do” được thể hiện
như thế nào là vấn đề mà nhiều nhà triết học bấy giờ quan tâm.
Kế thừa tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp, đặc biệt là triết
học pháp quyền của Kant. Hegel cũng lấy tự do ý chí làm xuất phát
cho triết học pháp quyền của mình. Nhưng nếu như Kant với ý chí
tự do ông đi đến kết luận khi đã là con người thì được tự do và được
thể hiện quyền làm người của mỗi chúng ta là “tự do”. Cũng xuất
phát và lấy tự do ý chí làm đối tượng nghiên cứu triết học pháp
quyền của mình nhưng mục đích triết học pháp quyền Hegel là

4. Cấu trúc của “Các nguyên lý của triết học pháp
quyền” Hegel
Khác với các nhà khai sáng của Pháp và Đức tự do trong triết
học pháp quyền của họ đề cập chưa phải là tự do đích thực mà chỉ
là tự do hình thức, chỉ mới là tự do bề ngoài mang tính khách quan.
Do vậy, đối với ông tự do đích thực của con người là kết quả của
quá trình hiện thực lâu dài khái niệm tự do trong hiện thực (tức tự
do từ khái niệm của ý niệm đến tự do cụ thể của hiện thực). Quá
trình đó trong tác phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp quyền”
của Hegel (do Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải) được thể hiện
qua ba phần cụ thể. Tự do trước tiên trong lĩnh vực pháp quyền trừu
tượng hay pháp luật hình thức, sau đó là luân lý và đời sống đạo
đức.
6 Sđđ, 11, tr.57
7 Triết học pháp quyền Tây Âu, TS. Ngô Thị Mỹ Dung, ĐH Khxh & Nv TP. Hồ Chí Minh, 2004, tr.58
Phần I của tác phẩm, pháp quyền trừu tượng (pháp luật hình
thức), tự do được thể hiện là tự do bên ngoài, tự do mang tính hình
thức. Ở đây, Hegel đã thể hiện ý chí tự do trên hai phương diện chủ
thể và khách thể.
“Trong lĩnh vực này, phương diện chủ thể của ý chí tự do là nhân
thân (Person), tức là con người theo nghĩa hoàn toàn trừu tượng với
thuộc tính duy nhất là chủ nhân của những quyền hạn và nghĩa vụ
pháp lý trừu tượng”.
8
Ở phương diện khách thể của ý chí tự do đề cập đến “luận điểm
về sự tự triển khai tất yếu của các hình thức và định chế pháp lý
“thuần túy” như sở hữu và hợp đồng; sự quá độ tất yếu về mặt khái
niệm từ các mối quan hệ hợp đồng sang sự phi pháp hay sai trái (sự
phi pháp ngay tình, sự lừa đảo, sự cưỡng bách và tội ác), cũng như
quan niệm và học thuyết về hình phạt như Là sự phủ định của phủ

mục “Chủ ý và trách nhiệm”, “Ý định và sự an lạc”, “Cái thiện và
lương tâm”
11
.

Những cái mà Hegel cho là luân lý ấy được đặt trong một nền
đạo đức học định chế - theo đó sự đúng đắn và bổn phận ràng buộc
do chính bản thân cấu trúc của các định chế mang lại mà suy cho
cùng là định chế nhà nước, Hegel tiền giả định rằng các định chế đó
là những “quyền lực đạo đức”, trong đó có sự hài hòa giữa đời sống
cộng đồng (Aristoteles) và tính chủ thể tự do (Kant). Trong phần
luân lý tự do ý chí được Hegel thể hiện “con người không phải làm
gì khác hơn ngoài những gì đã được quy định, đã được ban bố” (§
150). Có thể nói tự do trong trường hợp này là con người chỉ được
phép làm những gì mà pháp luật không cấm.
Chính vì quan điểm bất đồng với các nhà khai sáng Pháp khi
Hegel cho rằng sự thể hiện của ý chí tự do thông qua quyền sở hữu,
khế ước và hành vi đạo đức của cá nhân chưa phải là tự do đích
thực “tự nó và cho nó”. Đến với phần III, Hegel cho rằng, chỉ trong
lĩnh vực của đời sống luân lý – đời sống đạo đức thì tự do đích thực
mới được thể hiện. Nó là một “bước chuyển” từ luân lý sang đời
sống đạo đức (Sittlichkeit) như trước đây từ pháp quyền trừu tượng
sang luân lý.
Đời sống đạo đức được thể hiện ở ba cấp độ gia đình, xã hội
công dân và nhà nước. Tuy là đời sống đạo đức (đời sống luân lý) là
tổng hòa của tự do bên trong và bên ngoài (khách quan và chủ
11 Bùi Văn Nam Sơn, Các nguyên lý của triết học pháp quyền, Nxb Tri thức, 2010, tr.34
quan) nhưng tự do lại được thể hiện theo từng mức độ khác nhau ở
các cấp độ.


12
(§ 158)
12 Bùi Văn Nam Sơn, Các nguyên lý triết học pháp quyền W. G. F. Hegel, Nxb Tri thức, 2010, tr.495
“Tình yêu” như là khái niệm trung tâm của gia đình. Hegel xem
nguyên tắc của việc xã hội hóa ở cấp độ gia đình là nguyên tắc của
“tính bản thể trực tiếp của Tinh thần” (§ 158). Tình yêu và “tính
bản thể trực tiếp có mối quan hệ với nhau. Theo đó, tình yêu là “sự
thống nhất của tinh thần tự cảm nhận”, đó còn là sự thống nhất về
mặt ý thức của mỗi người với người khác, khiến cho cá nhân không
bị cô lập “như một nhân thân độc lập” mà như một thành viên trong
gia đình. Nhưng, tình yêu [thương] là một sự cảm nhận, có nghĩa là
đời sống đạo đức trong hình thức tự nhiên của nó, do vậy, gia đình
là khâu trung gian giữa Tự nhiên và Tinh thần.
Chính bởi gia đình xuất hiện khi có sự thống nhất giữa hai chủ
thể khác nhau – hôn nhân, Hegel cho rằng nguồn gốc khách quan
của hôn nhân không phải là do “sự tiên liệu và sắp đặt của cha
mẹ ” mà “nguồn gốc khách quan lại là sự đồng thuận tự do của
các nhân thân có liên quan, và nhất là, sự đồng thuận của họ để
tạo nên một nhân thân duy nhất và từ bỏ tính nhân thân tự
nhiên và riêng lẻ của họ bên trong sự hợp nhất này”. (§ 162). Do
đó, đối với Hegel chỉ có một lựa chon duy nhất là hôn nhân phải
dựa trên ý chí tự do của các bên liên quan (nam – nữ), ông muốn
nhấn mạnh hôn nhân phải dựa trên cơ sở “tự nguyện” chứ không
phải hôn nhân do sự sắp xếp, áp đặt của cha mẹ. Đây là một quan
niệm thực sự tiến bộ, mới mẻ của Hegel, nếu ta không quên thời
điểm ra đời của quyển sách – nửa đầu thế kỷ XIX.

Nếu như Kant hôn nhân được xem xét như một “hợp đồng” của
pháp quyền trừu tượng thì Hegel lại kịch liệt phản đối quan niệm
này. Bởi theo ông “trong hợp đồng, hai nhân thân chỉ nhất trí

mình” tuy được giáo dục, nuôi dưỡng trong khuôn khổ gia đình, đời
sống của chúng đơn thuần là sự tồn tại - hiện có (Dasein) trực tiếp
của tự do tự mình nên chúng “không thuộc về cha mẹ hay những
người khác như những đồ vật” (§175). Nói như Rousseu “Chúng
sinh ra vốn là người, và là người tự do. Tự do thuộc về chúng
không ai có quyền hưởng tự do hơn chúng. Trước khi chúng trưởng
thành, người cha có thể nhân danh chúng mà bố trí điều kiện sinh
tồn, mưu hạn phúc cho chúng, chứ không thể đem con mà cho
không, cho hẳn đi”
15
. Quyền của cha mẹ của Hegel và Rousseu
trong gia đình có thể xem là “quyền bảo hộ” đối với con cái trong
hiện tại. Con cái “tạm thời” trao quyền “tự do” của mình cho cha
14 Bùi Văn Nam Sơn, Các nguyên lý của triết học pháp quyền G. W. F. Hegel, Nxb Tri thức, 2010, Giảng thêm,
§173, tr.514
15 Jean – Jacques Rousseu, Bàn về khế ước xã hội, Thanh Đạm dịch, Nxb Đà Nẵng, 2010, Chương IV Nô Lệ, tr.34
mẹ như là một sự đảm bảo để được bảo vệ, nuôi dưỡng và giáo dục.
Nhưng đó chỉ mới là những mặt “tự do bên trong” của gia đình.
Vậy “tự do bên ngoài” của gia đình được thể hiện như thế nào?
Tự do bên ngoài được thể hiện thông qua sự công nhận của pháp
luật đối với cuộc hôn nhân đó. Khi hôn nhân được xác lập trên cơ
sở tự nguyện với vai trò quan trọng của tình yêu được nhấn mạnh
thì nó phải được “thừa nhận” mang tính chất pháp lý, cộng đồng.
Nó đòi hỏi các tính chất mang tính “định chế” của hôn nhân thông
qua nghi lễ hôn nhân chính thức và lời tuyên bố xác nhận công khai
việc kết hôn vì như vậy hôn nhân sẽ đi vào “sự ràng buộc đạo đức
của hôn nhân cũng như sự thừa nhận và xác nhận bởi gia đình
về cộng đồng tạo nên sự kết hôn về hình thức và cả hiện thực
của hôn nhân”.(§ 164).


. T. Hobbes, người coi
trạng thái tự nhiên của xã hội là“chiến tranh của tất cả chống lại
tất cả”(là tình trạng xâu xé lẫn nhau trong thời kỳ “tích lũy nguyên
thủy” của chủ nghĩa tư bản, người là chó sói với người), tức đồng
nghĩa trạng thái tự nhiên với trạng thái chiến tranh “hòa bình chỉ là
một dạng khác của chiến tranh” , cho rằng nhà nước có sứ mệnh
khắc phục trạng thái đó bằng cách thiết lập một sự thỏa thuận giữa
tất cả các thành viên của xã hội. Xã hội dân sự nảy sinh trên cơ sở
thỏa thuận ấy được coi là đồng nghĩa với nhà nước và luật pháp do
nhà nước đặt ra. Thông qua một khế ước xã hội như là một phương
tiện giúp con người đi từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội.

Đến thế kỷ XVIII, J. J. Rousseau, một trong những nhà Khai sáng
xuất sắc nhất, đã phát triển quan điểm của Hobbes. Đối với ông,
con người vì mất đi sự tự do tự nhiên của mình và cũng vì sợ mất đi
cả các quyền tự nhiên của mình nên đã đi tới một “khế ước xã hội”.
Nhờ có sự liên hiệp này mà người ta thống nhất lại với nhau trên cơ
sở phục tùng những thể thức chung, nhưng mỗi người vẫn có tự do
như trước đây. Theo Rousseu, tự do chỉ mất đi khi con người “tự
mình” tước bỏ nó, rằng không có cái quyền nào gọi là “quyền nô
lệ”, phủ định quan điểm quyền nô lệ là quyền tự nhiên của con
16 Vài nét về xã hội dân sự trong lịch sử và kinh nghiệm đối với nước ta
Thứ năm, 11 12 2008 18:32 |
TẠP CHÍ KHPL Số 1(38)/2007
người của Grotius
17
. Giống như T. Hobbes, ông cho rằng khi
chuyển giao giữa trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội – dân sự
thì mỗi chúng ta chỉ từ bỏ một phần “quyền tự do ``tự nhiên” của
mình để thực hiện “quyền tự do dân sự”.

một xã hội được tổ chức, thiết chế, và vận hành trên nguyên tắc luật
pháp và phân chia quyền lực, cũng như có sự tham gia mạnh mẽ
17 Jean – Jacques Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, Thanh Đạm dịch, Nxb Đà Nẵng, Chương IV
của các thiết chế phi chính trị và phi nhà nước đóng vai trò là lực
lượng xã hội đối trọng nhằm giám sát và cân bằng với thiết chế
chính trị và nhà nước trong việc thực thi dân chủ.

Vậy trong triết học pháp quyền của Hegel bức tranh về xã hội
công dân – dân sự được ông dựng lên như thế nào?
Trong mô hình gia đình con cái được bảo hộ bởi cha mẹ nhưng
đến khi chúng có đủ “năng lực hành vi, pháp lý, trách nhiệm về
hành vi của mình” hay nói cách khác là chúng tự ý thức được sự
“trưởng thành” của bản thân, chúng có nhu cầu thoát ly khỏi vỏ bọc
của gia đình. Như vậy, đó là quá trình chúng “ra khỏi sự trực tiếp
tự nhiên của cuộc sống ban đầu để đến với sự độc lập – tự tồn và
sự tự do của tính nhân thân, qua đó, chúng có năng lực rời bỏ
đơn vị tự nhiên là gia đình”( §175). Đồng nghĩa với nó là gia đình
bị “giải thể”, và khi tồn tại với tư cách là một nhân thân độc lập thì
những nhân thân độc lập này cảm thấy phải hợp nhất thành một tổ
chức và như thế xã hội công dân (thang bậc thứ hai của đời sống
đạo đức) ra đời.
Theo Hegel, xã hội dân sự là nơi các cá nhân được tự do theo
đuổi những lợi ích, những khác biệt của mình, liên kết với nhau. Xã
hội dân sự cũng được phân biệt với nhà nước. Các cá nhân hợp
thành xã hội dân sự thường không giống nhau, không bền vững và
cũng thường có những xung đột với nhau bởi vì họ là những “nhân
thân cụ thể” và mang tính “đặc thù”. Nhưng trong xã hội dân sự
những “nhân thân cụ thể này, về bản chất, là ở trong mối quan
hệ với những nhân thân đặc thù tương tự, khiến cho trong mối
quan hệ ấy, mỗi bên tự khẳng định chính mình và đạt được sự

cái chung, bằng cảnh sát và hiệp hội.

Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu chỉ xin
làm rõ mômen thứ nhât; hệ thống các nhu cầu trong xã hội dân sự
dưới góc độ liên quan trực tiếp đến sự hình thành của mô hình nhà
nước hiện thực cụ thể trong triết học pháp quyền của Hegel.
Hệ thống các nhu cầu bao gồm “sự trung giới của nhu cầu và
sự thỏa mãn của cái cá biệt [cá nhân] thông qua lao động của mình
và thông qua lao động và sự thỏa mãn nhu cầu của mọi người
khác.” (§188). Điều đó có nghĩa là trong khi hoat động nhằm thỏa
mãn nhu cầu của cá nhân, các cá nhân riêng biệt đồng thời đã đáp
ứng nhu cầu và lợi ích chung của toàn xã hội. Hegel cho rằng, nhân
quyền thể hiện quyền tự do của con người đối với tồn tại bên ngoài,
trước hết là các sản phẩm lao động do chính mình làm ra (quyền sở
hữu, ký kết hợp đồng kinh tế, quyền thành lập và tham gia các hiệp
hội…). Theo lập luận của mình Hegel lấy “lao động” để làm sự
trung giới giữa hệ thống các nhu cầu xã hội và việc thỏa mãn
chúng, đồng tình với quan điểm của nhà kinh tế học cổ điển Adam
Smith khi cho rằng lao động của con người là nguồn gốc duy nhất
của sự giàu có xã hội “Chính bằng mồ hôi và lao động của con
người mà ta mới có được phương tiện để thỏa mãn những nhu
cầu của mình”. (Giảng thêm §196).
Mặt khác, tính cách xã hội của lao động là sự đào luyện/giáo dục
về phương diện lý thuyết lẫn thực hành (§197). Đối với chức năng
đào luyện thực hành thông qua lao động (chuyên môn hóa những kỹ
năng) dẫn đến sự phân công lao động (§198) như là tiền đề cơ bản
cho nền sản xuất xã hội thông qua những cá nhân riêng lẻ. Chính
bởi tính đặc thù của nhân thân nên “do những hoàn cảnh ngẫu nhiên
mà sự đa tạp của nó làm nảy sinh những sự khác biệt trong việc
phát triển những tố chất tự nhiên, thể xác lẫn tinh thần vốn tự mình

Trong trạng thái nhà nước tự do công dân được biểu hiện
cụ thể và đầy đủ nhất. Vì thế Hegel kêu gọi mọi cá nhân muốn có tự
do thực sự thì ngoài là công dân trong xã hội dân sự ra thì chưa đủ
mà cần phải phấn đấu “đào luyện” để trở thành thành viên của nhà
nước. Sự thống nhất của những cá nhân đặc thù dưới nhà nước của
“ý chí thực thể” làm cho “sự tự do đi đến quyền hạn cao nhất của
nó, cũng giống như mục đích tối hậu này có quyền hạn cao nhất
trongg quan hệ với những cá nhân riêng lẻ, mà nghĩa vụ tối cao
của họ là làm thành viên của nhà nước”. (§258). Ngòai ra, hành
vi của các nhân thân cụ thể không được đi ngược lại với luật pháp
và các nguyên tắc luân lý phổ biến.
Trong xã hội công dân mọi người chỉ theo đuổi mục đích của
mình để phục vụ lợi ích của riêng mình. Mọi quan hệ xã hội chỉ là
phương tiện để cá nhân thực hiện mục đích đó. Vì vậy, tự do đích
thực vẫn chưa được hiện thực. Nhưng trong nhà nước là sự thống
nhất giữa những lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích cộng đồng. Đó là tự do đích thực. Quan điểm này gần
giống với quan điểm của Kant, khi ông cụ thể hóa mệnh lệnh tuyệt
đối trong đạo đức học thành yêu cầu “mỗi người hãy hành động sao
cho tự do của bạn có thể cùng tồn tại với tự do của tất cả mọi
người”
19
18 Sđd. § 257,tr. 363
19 Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội, 1998, tr.406
Hegel xem nhà nước như cơ sở đích thực của xã hội công dân
nhưng theo Marx thì nhà nước là kết quả của sự phát triển mnag tính lịch sử
của gia đình và xã hội công dân, là sản phẩm do quá trình hoạt động của mỗi
cá nhân đặc thù trong sự thống nhất xã hội công dân lên một cấp cao hơn là sự
thống nhất ấy trong nhà nước.
Bản chất của triết học Hegel mang đậm tính Khoa học logic nên

nước. Chính vì vậy mô hình nhà nước mà Hegel ủng hộ trong triết học pháp
quyền của mình là “Chính thể quân chủ lập hiến”, luận điểm cơ bản biện hộ
20 Bùi Văn Nam Sơn, Các nguyên lý của triết học pháp quyền G. W. H. Hegel, Nxb Tri thức, 2010, tr.860
21 Bùi Văn Nam Sơn, Các nguyên lý của triết học pháp quyền G. W. H. Hegel, Nxb Tri thức, 2010, tr. 863, 864.
của nó là “Cái gì hợp lý, thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý” mà nhà
nước tồn tại bấy giờ ở Đức là nhà nước Phổ. “Hegel lập luận rằng, nhà nước quí
tộc Phổ là nhà nước ưu việt nhất vì trong đó quyền tự do sỡ hữu được đảm bảo,
luật pháp và đạo đức thống nhất với nhau, nhà nước đó thể hiện như một nhân
cách sống và là trí tuệ của dân tộc và đối với mỗi người như tâm hồn đối với thể
xác”.
22

III. K t lu nế ậ

Cùng v i các nhà tri t h c pháp quy n khác Hegel c ng đã đi đ n m c đích caoớ ế ọ ề ũ ế ụ
nh t c a tri t h c pháp quy n đó là làm th nào đ đem l i t do cho con ng i cáiấ ủ ế ọ ề ế ể ạ ự ườ
mà ngày nay b t k th ch chính tr nào đ u h ng đ n là “nhân quy n”. Tuy cònấ ỳ ể ế ị ề ướ ế ề
nhi u h n ch trong quan đi m lý lu n c a mình v xây d ng nhà n c phápề ạ ế ể ậ ủ ề ự ướ
quy n “h p lý tính” nh ng v c b n nó v n mang nhi u t t ng ti n b màề ợ ư ề ơ ả ẫ ề ư ưở ế ộ
sau nay chính Marx và m t s nhà t t ng khác k th a: ngu n g c v sộ ố ư ưở ế ừ ồ ố ề ự
xu t hi n nhà n c, giá tr c a lao đ ng, m t quy lu t ph bi n là quy lu t mâuấ ệ ướ ị ủ ộ ộ ậ ổ ế ậ
thu n nh là m t đ ng l c c a s phát tri n xã h i, s hòa h p gi a l i ích cáẫ ư ộ ộ ự ủ ự ể ộ ự ợ ữ ợ
nhân đ c thù và l i ích c ng đ ng trong vi c đ a ra các đ nh ch pháp lu t và th cặ ợ ộ ồ ệ ư ị ế ậ ự
thi công lý
Vi t Nam đang b c đi nh ng b c đi đ u tiên trên con đ ng phát tri n ch aệ ướ ữ ướ ầ ườ ể ư
có nhi u kinh nghi m trong vi c xây d ng m t nhà n c pháp quy n thi t nghề ệ ệ ự ộ ướ ề ế ĩ
chúng ta c n nghiên c u, tham kh o,ti p bi n và k th a nh ng đi m ti n bầ ứ ả ế ế ế ừ ữ ể ế ộ
trong t t ng c a các tri t gia tr c Marx. Trong Hi n pháp s a đ i và bư ưở ủ ế ướ ế ử ổ ổ
sung 2013 có nhi u đi m m i m t trong s đó ề ể ớ ộ ố là Chương “Quyền và Nghĩa vụ
cơ bản của công dân”từ Chương V trong Hiến pháp năm 1992 về Chương II



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status