Nghiên cứu khoa học " Tìm hiểu về cách xác định một số tính chất vật lý của tre dựa trên mẫu thí nghiệm kích thước nhỏ không khuyết tật " - Pdf 14

Tìm hiểu về cách xác định một số tính chất vật lý của tre dựa trênmẫu thí nghiệm
kích thước nhỏ không khuyết tật
Đỗ Văn Bản
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Tre là một loại lâm sản đặc biệt, đã gắn bó với đời sống nhân dân ta từ rất lâu. Tre
được làm dụng cụ gia đình, được sử dụng trong xây dựng, giao thông vận tải, khai
thác mỏ, sản xuất giấy sợi, ván nhân tạo, đồ mộc, nông cụ, hàng thủ công mỹ
nghệ
Do tre vừa là nguyên liệu lại vừa là vật liệu, nên nhiều nước trên thế giới đã tiến
hành nghiên cứu, thí nghiệm về tính chất vật lý và cơ học của tre. ở nước ta, thí
nghiệm để xác định các tính chất vật lý và cơ học của tre từ trước đến nay ít được
chú ý do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thiếu phương pháp thử
chuẩn. Phòng Cơ lý gỗ (Viện Công nghiệp rừng) – nay là Phòng Tài nguyên Thực
vật rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) cũng đã từng tiến hành một số thí
nghiệm xác định đặc tính của tre nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở bước đầu và chủ
yếu sử dụng một số phương pháp thử của Trung Quốc do cán bộ nghiên cứu sưu
tập được. Năm 2002, Phòng Tài nguyên Thực vật rừng đã tiến hành thăm dò đặc
tính của một số loài tre có áp dụng chọn lọc phương pháp thử của Trung Quốc và
của Mạng lưới Quốc tế về tre song mây (INBAR) để cho phù hợp với điều kiện thí
nghiệm sẵn có. Dựa trên các tài liệu và thực tế thí nghiệm vừa qua, chúng tôi
mạnh dạn đưa ra cách xác định khối lượng riêng và độ co rút của tre dựa trên mẫu
thử nhỏ để làm tài liệu tham khảo với hy vọng sẽ nhận được các ý kiến đóng góp
của nhiều độc giả.
1. Xác định khối lượng riêng (Khối lượng thể tích)
Trong phòng thí nghiệm, việc xác định khối lượng riêng của tre khó có thể tiến
hành bằng cách cân, đo của cả thân cây tre mẫu mà phải dựa vào các mẫu thử có
kích thước nhỏ để việc tiến hành dễ dàng hơn mà vẫn đảm bảo được độ chính xác
theo yêu cầu.
Khối lượng riêng của mẫu thử được xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng mẫu ở
trạng thái sấy khô kiệt và thể tích mẫu ở trạng thái tươi (ngâm trong nước cho đến
khi trọng lượng mẫu không thay đổi). Công thức tính như sau:

0
Kích thước mẫu sau khi sấy kho kiệt, mm
Mẫu thử chuẩn là một lóng tre không bao gồm đốt, có chiều dài bằng 100mm.
Trong trường hợp do hạn chế của nguyên liệu làm mẫu thử (lóng tre ngắn, số
lượng cây mẫu ít) hoặc theo yêu cầu của thí nghiệm, chiều dài mẫu có thể giảm đi.
Độ co rút sẽ được xác định thông qua các số đo: 4 lần đo đường kính ngoài (vị trí
đo cách đầu mẫu 10mm), 4 lần đo chiều dầy thành lóng (mỗi đầu mẫu đo 2 lần) và
2 lần đo chiều dài. Các vị trí đo được vạch sẵn như ở hình 2.

Hình 2.Các điểm đo trên mẫu xác định độ co rút
Chiều dài: l
1
, l
2
; Chiều dầy thành lóng: d
1
, d
2
và d
3
, d
4
được đo ở mặt đối diện; Nơi
đánh dấu x là những điểm cách mặt phẳng hai đầu mẫu 10mm, để đặt thước đo
đường kính ngoài của lóng tre. Đường kẻ trên hai mặt đầu của mẫu vuông góc với
nhau và song song với nhau từng đôi một.
Độ co rút của tre được chia ra làm hai loại: độ co rút tối đa (
max
) kích thước ban
đầu của mẫu được xác định trên mẫu thử đã được ngâm trong nước đến khi trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status