1
Bài 1- NHẬP MÔN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
1.1- Giới thiệu một số vấn đề về ngôn ngữ và Tiếng Việt:
1.1.1- Một số vấn đề về ngôn ngữ:
Hệ thống ngữ âm: Hình vẽ số 1: Sơ đồ bộ máy phát âm:
Chú thích: 1- Môi, 2- Răng, 3- Lợi, 4- Ngạc cứng, 5- Ngạc mềm, 6- Lưỡi gà (con), 7- Lưỡi,
8- Nắp họng, 9- Dây thanh, 10- Khoang miệng, 11- Khoang mũi.
Hình 2: Sơ đồ phát âm âm tiết; ba giai đoạn:
1. Giai đoạn tăng độ căng 2. Giai đoạn đỉnh điểm độ căn3. Giai đoạn giảm độ căng, kết thúc
Hình 3a: Sơ đồ hình thang nguyên âm quốc tế
Hình 3b: Nguyên âm quốc tế
1.1.2- Giới thiệu về Tiếng Việt: Khái quát chung: Lịch sử phát triển Tiếng Việt diễn ra như
thế nào?
Nguồn gốc: Tiếng Việt phát triển ở một trong những cái nôi văn minh của loài người: Đông
Nam Á.
Tiếng Việt thuộc nhóm Việt – Mường, ngữ hệ Nam Á (Nam Phương).
Sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt thể hiện từ thời thượng cổ đến giai đoạn thế kỷ II trước
công nguyên và đã có một bản sắc văn hóa riêng, sức sống riêng, chống lại sự đồng hóa của
phương Bắc xâm lược.
Từ thế kỷ V trước công nguyên đến 1858, dù bị đô hộ gần 10 thế kỷ, tiếng Việt vẫn phát
triển, có chữ viết riêng (chữ Nôm) ở thế kỷ X.
Tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Việt càng có thêm sức sống mãnh liệt.
Từ thế kỷ XIX (1858) đến 1945: xuất hiện chữ quốc ngữ.
1945 đến nay: Tiếng Việt được tôn vinh, chữ quốc ngữ là văn tự chính thức.
1.2- Những đặc điểm của Tiếng Việt
1.2.1- Đặc điểm ngữ âm: Đơn vị "tiếng", là âm tiết. Ví dụ: An, anh,
Có nhiều từ tượng hình tượng thanh.
Ví dụ: Lanh lảnh, lóng lánh, róc rách
Ngôn ngữ có sự hài hòa ngữ âm, nhạc điệu câu văn.
điệu,
1.3.2- Âm tố tiếng Việt là gì? Phân loại?
Âm tố tiếng Việt là đơn ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia được.
Âm tố tiếng Việt phân loại thành: nguyên âm, phụ âm, bán âm.
1.3.3- Âm vị tiếng Việt là gì? Phân loại và miêu tả?
Âm vị (phoneme) tiếng Việt là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ dùng
để cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt (a,b,c, )
Phân biệt âm vị với âm tố: âm vị là đơn vị trừu tượng, âm tố là đơn vị cụ thể. Âm vị được
thể hiện bằng âm tố, âm tố là sự hiện diện của âm vị. Âm vị chỉ gồm đặc trưng khu biệt, âm
tố có cả đặc trưng, đặc trưng khu biệt lẫn đặc trưng không khu biệt.
Ví dụ: a,n,h: an-anh-ánh-ảnh
3
1.3.4- Hệ thống âm vị tiếng Việt:
1.3.4.1- Âm đầu: 22 phụ âm đầu làm nhiệm vụ âm đầu: │b, m, f, v, t, t', d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ,
ɲ, l, k, χ, ŋ, ɣ, h│Sự thể hiện chính tả:
1.3.4.2- Âm đệm: │W│: o, khi trước nó là nguyên âm rộng │a, ă, e│ (họa, hoằn, hoa,
hòe )
/u/ : khi đi trước các nguyên âm còn lại (huy, huệ, thuở )
Đi sau phụ âm │k│ khi viết "q" âm đệm W│viết thành "u" (quê, que, )
Âm chính: Tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi là âm chính: │i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a,
ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo│Thể hiện bằng chữ viết
1.3.4.3- Âm cuối
Tiếng Việt có 8 âm cuối gồm sáu phụ âm: │m, n, ŋ, p, t, k│và hai bán âm: │
-w, -j
│, ngoài
ra còn có âm cuối zéro.
Thể hiện bằng chữ viết: m, n, ng, p, c, t.
Quy luật biến dạng âm cuối:
Tất cả phụ âm cuối là những phụ âm đóng.
Tên người, tên nơi chốn: Viết hoa toàn âm đầu.
Tên tổ chức, cơ quan: Viết hoa âm tiết đầu trong tổ hợp tên
1.4.5.4- Tên không phải tiếng Việt:
Nếu nguyên ngữ latin: giữ nguyên ngữ (paris).
1.4.5.5- Nguyên ngữ là hệ thống chữ khác: chuyển tự, phiên âm sang chữ cái Latin
(Lomonoxo).
1.4.5.6- Chỉ viết hoa âm tiết đầu từ (Tokyo)
1.4.5.7- Dùng dấu nối:
Dùng trong liên danh. Ví dụ: Cách mạng khoa học – kỹ thuật; Môn hóa – dược;
Quảng Nam – Đà Nẵng
1.4.5.8- Thuật ngữ:
Chấp nhận các tổ hợp đã dùng theo thói quen (Ví dụ: mét, gram, fluor, protit )
Kết luận:
Tìm hiểu, nghiên cứu kiến thức về ngữ âm tiếng Việt: âm tiết, âm tố, âm vị, thanh điệu,
chi1ng tả là rất quan trọng, cần thiết làm nền tảng cho việc học tập, ứng dụng tiếng Việt
trong học tập, lao động, giao tiếp và góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhất
trong bối cảnh hội nhập của thế giới ngày nay.
Bài tập:
1. Giải thích sơ đồ bộ máy phát âm của con người. Ứng dụng vào việc nói tiếng Việt và học
ngoại ngữ.
2. Lịch sử tiếng Việt. Những đặc điểm của tiếng Việt. Ứng dụng vào việc nói và viết tiếng
Việt.
3. Thảo luận nhóm (xémina). Làm bài thuyết trình.
4. Thực hành điền dã ngôn ngữ học: Hội thảo, hội chợ,
1
Bài 2- VIẾT CHỮ, DÙNG TỪ
2.1- Viết chữ. Chữ viết dùng để ghi tiếng.
2
Từ ghép chính phụ:
Là từ ghép có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, gọi là từ ghép chính
phụ. Thành tố phụ có khả năng chuyên biệt hóa, hình thái hóa cho thành tố chính.
Ví dụ: Tàu hỏa, đường sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà,
tốt mã, lão hóa, xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thẳng tắp, sưng vù
Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối âm: Từ láy (lấp láy, láy âm).
Từ láy là từ nhiều tiếng (phần lớn là hai tiếng) được cấu tạo theo quy luật nhất định trong
quan hệ ngữ âm giữa các tiếng.
Một từ gọi là láy khi các yếu tố tạo nên chúng có thành ngữ âm lặp lại, nhưng vừa có lặp
(điệp) lại vừa có biến đổi (đối).
Ví dụ: đỏ đắn → điệp phụ âm đầu, đối vần.
Nếu chỉ có điệp, không có đối thì đó là dạng láy từ chứ không phải là từ láy.
Ví dụ: Người người, nhà nhà,
Từ láy hai tiếng: Láy hoàn toàn. Đối ở trọng âm, lặp lại hoàn toàn.
Ví dụ: cào cào, ba ba, châu chấu, đu đủ, rề rề, khăng, khăng,
Từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu:
Ví dụ: Đo đỏ, tim tím, hau háu, hây hẩy, lừng lững, vành vạnh,
Láy hoàn toàn, đối ở phần vần nhờ chuyển đổi âm cuối theo quy luật dị hóa:
m – p ng – c
n – t nh – ng
Ví dụ: Chiêm chiếp, ăm ắp, cồm cộp, lôm lốp, chan chát, khin khít, sồn sột, thơn thớt, ngùn
ngụt, khang khác, vằng vặc,
Láy bộ phận:
Từ nào điệp ở phần âm đầu hoặc điệp ở phần vần thì được gọi là láy bộ phận. Gồm:
Láy (điệp) âm đầu, đối phần vần:
Ví dụ: Bập bềnh, cò kè, ho he, thơ thẩn
Láy (điệp) phần vần, đối âm đầu:
Ví dụ: Bâng khuâng, bơ vơ, lưng chừng
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ (so sánh ngầm).
Ví dụ: Ngã vào võng đào – Ba đầu sáu tay – Nuôi ong tay áo – Ăn trên ngồi trốc
Quán ngữ:
Là cụm từ dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc các phong cách khác
nhau.
Ngữ cố định định danh: Cụm từ cố định, định danh, gọi tên sự vật. Miêu tả là chủ yếu bằng
cách so sánh như không có từ so sánh.
Ví dụ: Đen thui, đen đũi, mắt bồ câu
Ngữ định danh thường dùng chỉ tên các bộ phận con người.
4
Ví dụ: Lông mày lá liễu – Tóc rễ tre – Mắt ti hí – Râu ngạnh trê – Răng cải mả - Mồn cá
ngão – Chân vòng kiềng – Mặt lưỡi cày – Bụng cóc
Các lớp từ trong từ vựng gồm những lớp từ nào?
Phân loại theo nguồn gốc:
Từ ngữ gốc Hán: Hình thành qua quá trình tiếp xu1x lâu đời với tiếng Hán.
Từ Hán cổ là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn I (Đầu công nguyên
đến đầu đường Đường thế kỷ VIII).
Ví dụ: Chè, ngà, chén, chùn, buồn, mùi, mùa
Tổ hợp từ này được Việt hóa rất mạnh trở nên quen thuộc với người Việt.
Từ Hán Việt: Từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt ở giai đoạn hai, được người Việt đọ theo
hệ thống âm Việt.
Ví dụ: Trà, mã, trọng khinh, cận, nam, nữ,
Từ Hán Việt còn gồm những từ không phải gốc Hán, do người Hán mượn ngôn ngữ khác,
người Việt vay mượn đọc theo âm hán Việt.
Ví dụ: Từ gốc Nhật Bản: Trường hợp, nghĩa vụ, phục tùng, điều chế,
Từ gốc Phạn (Sanskrit): Phật, Niết bàn, Di lặc, Thích ca Mâu ni
Từ gốc Châu Âu: Anh Cát Lợi, Mạc Tư Khoa, Câu lạc bộ,
Từ có yếu tố cấu tạo là từ gốc Hán:
Ví dụ: Y sì, đặc công, công an, thúc bách, đại đội, thiếu tá,
Thuật ngữ:
Tên gọi khái niệm đối tượng đã được xác định, chuẩn xác trong từng ngành, trong các lĩnh
vực khoa học chuyên môn.
Thuật ngữ biểu thị khái niệm được xác định trong ngành khoa học, lệ thuộc hệ thống khái
niệm của ngành đó.
Ví dụ: Vectơ, centimet, kilogam, ampe kế, thủy ngân
Đặc điểm thuật ngữ:
Tính chính xác. (Ví dụ: Penicilin, computer, bazơ, a xít )
Tính hệ thống: (Ví dụ: Thuật ngữ chuyên ngành)
Tính quốc tế: (Ví dụ: Keyboar, mouse, line )
Việc xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học ở Việt Nam đang được tiếp tục thực hiện, theo
kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật.
Từ ngữ địa phương: Từ thuộc phương ngữ nào đó của ngôn ngữ dân tộc, phổ biến trong
phạm vi lãnh thổ của địa phương đó.
Cách hình thành: Sự khác biệt từ vựng chứ không phải do ngữ âm.
Do sự vật được gọi tên chỉ có ở địa phương đã hình thành tên gọi, nên trở thành từ địa
phương, từ ngữ toàn dân không có từ tương ứng với nó.
Ví dụ: Bu, bầm, đẻ, đần, khờ, o, mệ, mạ, nhút, lớ (quả), tắt, chẻo ; sầu riêng, măng cụt,
tràm, chôm chôm, cùi chỏ, cù lao, má.
6
Có sự vật, hiện tượng giống nhau nhưng từ khác nhau hoàn toàn:
Ví dụ: Ngái - xa, nỏ - không, rào- sông, rú –núi, mô- tê, kia- đâu
Nhiều từ là dạng cổ của từ tương ứng trong từ vựng hiện nay. Dạng cổ bảo toàn ở địa
phương, dạng mới thành từ vựng chung hiện nay.
Ví dụ: Gấy – gái, chí – chấy, nác – nước, kha – gà, khót – gọt
Từ địa phương đồng âm với từ chung.
Ví dụ: Ốm – gầy; hòm – săng, quan tài; thằn lằn – thằn sùng; kiền – rế
Từ nghề nghiệp:
Lớp từ bao gồm đơn vị từ ngữ được sử dụng trong phạm vi cùng làm một nghề nghiệp.
Ví dụ: Lo thắt ruột, chờ đỏ mắt, đánh sặc tiết, chẻ xác ra, no đòn
Sắc thái biểu cảm rõ nét:
Ví dụ: Mày, tao, tớ, thằng cha, con mẹ, ngu, tồi, chẳng ra trò gì, ăn thua mẹ gì, dạ, thưa, ôi
trời, ối
Dùng nhiều quán ngữ, thành ngữ để đưa đẩy:
Của đáng tội, đời thuở nhà ai, lụy như lụy đò, trời Phật ơi
Lớp từ ngữ thuộc phong cách viết: Lớp từ dùng thường xuyên gắn với nội dung một số
phong cách chức năng.
Phong cách khoa học:
Gồm thuật ngữ khoa học, từ chuyên môn hóa: Đạo hàm, ẩn số, âm vị
Phong cách hành chính sự vụ: Từ ngữ trong văn bản ngoại giao, pháp lý, hành chánh: công
văn, công hàm, hòa ước, tạm ước, sao lục, tố tụng,
Phong cách chính luân báo chí: Vô sản, tư sản, thực dân, suy thoái
Phong cách văn học (nghệ thuật): Tổng hòa cách phong cách khác.
Lớp từ ngữ trung hòa phong cách:
Tóm lại: Từ ngữ trong tiếng Việt rất phong phú. Khi dùng từ ngữ phải chú trọng mục đích,
phong cách, ngữ cảnh để chọn đúng từ ngữ, đảm bảo nói, viết đúng, hay giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt.
Bài tập:
1- Sơ lược về lịch sử chữ viết tiếng Việt.
2- Từ loại tiếng Việt, cách dùng từ.
3- Thảo luận nhóm, làm bài tập.
4- Thực hành điền dã ngôn ngữ học: (Tiếp tục).
5- Chuẩn bị: Viết câu.
1
Bài 3- VIẾT CÂU
Đoản ngữ danh từ (Ví dụ: Những học viên ấy )
2
Đoản ngữ động từ (Ví dụ: Đã học xong )
Đoản ngữ tính từ (Ví dụ: Đã xấu hơn )
Đoản ngữ số từ (Ví dụ: Gần 30, xấp xỉ 100, hơn )
Đoản ngữ đại từ (Ví dụ: Ba chúng tôi, các anh ấy )
3.2- Câu:
Khái niệm câu? Phân loại câu?
3.2.1- Khái niệm: Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp tự lập, có ngữ điệu, kết thúc,
mang tư tưởng tương đối trọn vẹn kèm thái độ người nói, giúp hình thành biểu đạt, truyền
đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách đơn vị thông báo nhỏ nhất.
3.2.2- Phân loại câu:
3.2.2.1- Phân loại câu theo mục đích nói: Bốn kiểu câu:
Câu tường thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh, câu cảm thán,.
3.2.2.2- Phân loại câu theo mối quan hệ với hiện thực:
Câu khẳng định.
Câu phủ định.
3.2.2.3- Phân loại câu theo cấu tạo:
Câu có hai thành phần chính: chủ ngữ - vị ngữ.
Câu đơn: Câu đơn hai thành phần: Câu đơn chỉ có một cụm C – V.
Câu đơn: Nòng cốt.
Câu đơn đủ thành phần: Bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ, phụ ngữ,
Câu đặc biệt: Do một ngữ tạo thành
Ví dụ: Vợ con – Bà cụ nhà Chẩn. Gia đình anh ta. Người Mán (Nam Cao)
Câu phức: Ngoài kết cấu C – V nòng cốt, có thêm ít nhất một kết cấu C – V làm vế câu
phụ hoặc thành phần chính của câu hoặc làm thành tố phụ của ngữ tạo câu
Phân loại:
Câu phức có kết cấu C – V làm thành tố ngữ (làm trạng ngữ, bổ ngữ, )
Câu phức có kết cấu C – V làm thành phần chính (làm chủ ngữ hoặc vị ngữ).
3- Hệ thống dấu câu tiếng Việt.
4- Biến đổi câu trong tiếng Việt.
5- Thảo luận nhóm (xémina).
6- Chuẩn bị thuyết trình (Câu sai, câu mơ hồ).
7- Tự thực hành điền dã ngôn ngữ học (tham dự hội thảo, dạ hội, triển lãm, ).
8- Nhận đề tài tiểu luận.
1
BÀI 4: CÂU SAI, CÂU MƠ HỒ
4.1- Câu sai
4.1- Khái niệm: Thế nào là câu sai?
Câu sai là những câu không đúng chuẩn quy định trong tiếng Việt. Hiện nay, hiện tượng
viết sai rất phổ biến, ngay cả trên các phương tiện thông tin đại chúng.
4.1.1- Những loại câu sai.
4.1.1.1- Sai chính tả: Đó là cách viết từ không đúng với quy định về vần, thanh điệu, phụ
âm đầu.
4.1.1.2- Sai từ ngữ.
Ví dụ: Hắn quát lên một tiếng rồi tống một cú đá vào bụng ông Hoạt.
Em đang dần dần đẹp lên.
- Lỗi liên quan đến từ Hán Việt:
Trong tiếng Việt, có hàng loạt từ gốc Hán mà nghĩa và cách dùng không còn giữ nguyên
như ở tiếng Hán, thậm chí khác nhiều.
Ví dụ: Khốn nạn (tiếng Hán là khó khăn).
Nhưng trong tiếng Việt hiện nay là khốn khổ đến mức thảm bại, hoặc chỉ tính cách.
Đáo để: Hán Việt: Đến tận đáy-thuần Việt: Hành vi.
Do vậy, khi dùng phải thận trọng.
- Từ đồng âm gây sự hiểu lầm:
Ví dụ: Yếu: Hán Việt: quan trọng- thuần Việt thì yếu nghĩa hoàn toàn khác.
Trong từ Hán Việt, yếu tố chính đứng sau, phụ đứng trước → cần phải phân biệt ( dân số /
số dân; đa số / số đông; tình nhân / nhân tình…)
Cách chữa này mang tính khách quan: Chữa câu theo ý định tạo câu của người viết chứ
không theo người chữa câu.
Ví dụ: Một thành phố rất trẻ măng.
→Danh+mức độ+Tính+mức độ.
+ Nguyên nhân cơ bản của những hiện tượng chập cấu trúc là gì?
Quên những gì đã viết là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng chập cấu trúc.
Chuyển hướng tư duy, vi phạm luật liên tục trong mạch văn là nguyên nhân quan trọng dẫn
đến chập cấu trúc.
Ví dụ: Không được đến gần hơn được đâu.
Chú tôi bị thương hai lần, một lần ở đùi, một lần ở Khe Sanh.
Áp lực của thói quen: Sự tiếp thu thói quen trong tiếng mẹ đẻ: Ngôn từ nào được chung
quanh dùng nhiều sẽ được đứa trẻ tiếp nhận và sớm trở thành ngôn ngữ riêng của bé, trở
thành thói quen.
Ví dụ: Thiếu nhi chẳng khác nào những bong hoa tươi thắm.
A chẳng khác nào B.
3
A như B → chập cấu trúc.
Kết luận:
Hiện tượng viết sai câu hiện nay rất phổ biến. Tìm hiểu nguyên nhân daanc đến việc viết sai
câu, nhận diện câu ssai và cách sử dụng để tránh lỗi về viết câu sai là điều quan trọng và cần
thiết với người sử dụng tiếng Việt. Hiểu và tránh lỗi câu sai góp phần tăng hiệu quả sử dụng
tiếng Việt, giữ gìn sự trong sang của tiếng Việt.
4.2- Câu mơ hồ
Khái niệm:
- Thế nào là câu mơ hồ?
Câu mơ hồ là câu trong khi có một cách biểu hiện duy nhất ở cấp độ ngôn ngữ này lại có ít
nhất hai cách biểu hiện ngôn ngữ ở cấp độ ngôn ngữ khác.
- Câu mơ hồ cần thiết và câu mơ hồ sai như thế nào?
Câu mơ hồ được viết cố ý, nhất là trong văn học, nhất là để chơi chữ, trào lộng, châm biếm sự
+ Loại 2: Sự đồng âm của hai chuỗi từ.
Sự mơ hồ qua từ đơn:
● Sự đồng âm của danh từ: Mỗi loại danh từ đều tìm thấy những từ đồng âm thuộc các loại
từ khác.
Ví dụ:
Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.
Triều đình cử mục, anh hung chỉ có một người thôi.
Chả ngon lắm. →Chả: thực phẩm.
Chả: không, chẳng.
Báo động! Mang tất→Tất: bít tất (vớ) ; tất cả.
Chân trạng nguyên→Chân: chân, cẳng; đích thực, chân chính…
● Sự đồng âm của động từ, tính từ.
Ví dụ:
Tôi không nhớ cha tôi lắm.
Nhớ: thương; ghi nhớ.
● Sự mơ hồ của từ tình thái: Do bản thân từ tình thái đã mang tính mơ hồ. Ở trong câu
chúng cũng gây mơ hồ.
Ví dụ: Cô ta phải lấy một tên khác, tên Phrăng Xoa.
→ Lấy: cầm (đặt tên khác); kết hôn.
● Từ đa tiết và chuỗi từ mơ hồ.
Khi kết hợp nhiều tổ hợp cụm từ đa tiết thành các âm khác nhau, nếu có hai cách hiểu trong
câu mới tạo thành thì đó là câu mơ hồ.
Trong quá trình phát triển, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, có một khuynh hướng lành
mạnh là thay đổi dần từ Hán-Việt. Dùng từ Nôm-từ thuần Việt nghĩa tương đương, nhưng
không nên lạm dụng.
5
Ví dụ: Trong trận đấu bóng đá tại Hà Lan, hàng trăm người xem đánh nhau.
→Thay: người xem = khan giả.
Sự mơ hồ cấu trúc: thể hiện như thế nào?
6
Anh ấy trên đường về chợ.
Chêm hai câu vào nhau:
Anh ấy đã gặp con trên đường về chợ → mơ hồ (anh ấy hay con trên đường về chợ?).
- Những danh từ mơ hồ.
Ví dụ: Những chuyến tàu chở ô tô màu xanh.
Những chuyến tàu chở ô tô sơn xanh.
Những chuyến tàu chở ô tô của bộ đội.
→Các câu mơ hồ: chuyến tàu hay ô tô màu xanh.
→Của bộ đội.
- Những câu mơ hồ:
Ví dụ: Tôi đã thấy con người đang nói trong hội nghị.
Mơ hồ: Ai đang nói trong hội nghị?
- Cấu trúc đẳng lập: Sự mơ hồ trong cấu trúc đẳng lập thể hiện như thế nào?
Có những câu mơ hồ liên quan tới các cấu trúc đẳng lập.
A và B, A hay B, A hoặc B…
Ví dụ:Trên xe có chừng mười lăm anh bộ đội và mấy cô gái dân công đang cười nói ồn ào.
(Ai cười nói?).
Trong ngôn ngữ tự nhiên thiếu dấu ngoặc, nên ở nhiều trường hợp cấu trúc đẳng lập được
dùng làm thành phần một câu có khả năng gây mơ hồ.
Ví dụ: Anh khuyên hay tôi khuyên thì nó đi.
Nếu anh khuyên hay tôi khuyên thì nó đi.
- Sự phủ định.
Sự phủ định và cấu trúc đẳng lập → mơ hồ.
Ví dụ: Không A và B → có thể hiểu “không” tác động vào A thôi → gây mơ hồ.
Hắn không uống và gắp liên tiếp. → Hắn không uống và không gắp…
Sự phủ định và phép so sánh → mơ hồ.
Ví dụ: Người này thì thích cao. Thích cao như người này.
Tôi cao → tôi cao như anh, tôi cao bằng anh.
Mơ hồ là hiện tượng tự nhiên của ngôn ngữ, do đó khi viết câu nếu không lưu ý sẽ dễ dẫn
đến hiện tượng mơ hồ. Học tập, nghiên cứu các dạng câu mơ hồ để tránh là điều cần thiết và
bổ ích cho người học. Tránh viết dạng câu này khi không cần thiết sẽ đem lại cách viết trong
sáng, giản dị, hiệu quả của tiếng Việt.
Bài tập:
1- Câu sai trong tiếng Việt.
2- Câu mơ hồ trong tiếng Việt.
3- Thảo luận nhóm. (xémina).
4- Thực hành: Điền dã ngôn ngữ học (tìm ngữ liệu tiếng Việt…)- Môi trường nói tiếng Việt…
1
BÀI 6: DẤU CÂU – CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT
6.1- DẤU CÂU
GIỚI THIỆU
Dấu câu là công cụ ngữ pháp để diễn đạt rõ ràng một văn bản viết. Viết sai dấu câu
sẽ làm sai lệch nội dung văn bản, có thể dẫn đến hiểu sai văn bản.
Trong tiếng Việt có các dấu câu sau:
Dấu chấm. Dấu hỏi? Dấu cảm! Dấu chấm phẩy; Dấu phẩy, Dấu hai chấm: Dấu gạch
ngang- Dấu ngoặc đơn (…) Dấu chấm lửng… Dấu ngoặc kép “…”
Dấu câu là quy ước xã hội, được hình thành trên cơ sở khách quan: Cơ sở cú pháp,
ngữ nghĩa (phân định các câu, các vế, các thành phần trong câu). Do yêu cầu ngữ điệu
(tương ứng với quãng nghỉ khi nói).
6.1.1- Phân loại dấu câu
6.1.1.1- Các dấu đặt cuối câu: Có chức năng phân ranh giới câu. Chúng gồm các dấu: chấm,
hỏi, cảm, chấm lửng.
6.1.1.2- Các dấu đặt trong câu: Chức năng phân ranh giới câu, gồm có: Dấu phẩy, chấm
phẩy, gạch ngang, hai chấm, ngoặc đơn, ngoặc kép.
Mỗi vần gồm: Âm đầu-Âm chính-Âm cuối.
Đó là những yếu tố có liên quan đến chuẩn mục chính tả.
6.2.3- Những đặc điểm của chuẩn mực chính tả tiếng Việt:
Chữ viết (chữ quốc ngữ) được sáng tạo trên chữ viết – oman, là loại chữ ghi âm.
Quy ước chuẩn mực chính tả:
Tính quy ước: Chuẩn mực chữ viết do chúng ta đặt ra nên nó mang tính quy ước.
Tính pháp lệnh: Đôi khi hệ thống chính tả có điều chưa hợp lý nhưng mọi người vẫn
phải theo vì thói quen. Tính bắt buộc này là tuyệt đối.
Ví dụ: Viết “gồ ghề”, “ghen ghét”, “ghe thuyền”…
Tính ổn định: Chuẩn chính tả mang tính bắt buộc nên nó ít thay đổi dù không hợp lý.
6.2.4- Tồn tại những biến thể:
Ngôn ngữ biến đổi về mọi phương diện, dù chậm nhưng ngữ âm vẫn cứ biến đổi. Do
vậy, nếu chính tả mà không thay đổi sẽ ngày càng cách biệt với hệ thống ngữ âm tiếng Việt,
càng nảy sinh bất hợp lý, cho nên chính tả có thay đổi, dẫn đến xuất hiện các biến thể song
song.
Ví dụ: Trau dồi, trau giồi; dòng điện, giòng điện, giòng nước; giành giật, dành quyền; theo
dõi, theo rõi…
Nhận xét chung:
Tiếng Việt là chữ viết ghi âm, xây dựng theo nguyên tắc ngữ âm học, giữa chữ viết và
âm không có sự cách biệt quá xa. Tiếng Việt do vậy là thứ chữ dễ viết, nhìn chữ viết có thể
biết được quy tắc đọc từ đó.
6.2.5- Tình hình chính tả hiện nay:
Chữ viết của ta còn nhiều bất hợp lý.
- Cùng một âm vị nhưng được viết bằng nhiều con chữ
│k│: c, q, k.
Có con chữ dùng viết âm vị khác nhau:
Chữ O viết:│ χ │(to nhỏ) và │w│( hoa hòe, khoan khoái)
3
Hiện tượng gộp chữ: gi + i = gi
Khi │i│đứng một mình: viết y
Ví dụ: Y tế, y án, duyệt y, ý kiến, y hệt, y khuôn, ý chí…
Ngoại lệ: I nốc, i tờ, ì ạch, lợn ỉ, ì ọp, ỉ eo, í ới…
Là thành tố của từ láy: ì ầm, ì oạp, ỉ i, ỉ ẻo,…
4
Phân biệt với vần khác: vi và uy.
Khi nguyên âm đôi đứng sau âm đệm│w│: uyên, khuyên, uyêt, tuyệt…
Khi là âm đầu trong nguyên âm đôi mà chữ thứ hai viết bằng ê: yếm, uyển trợ, yên,
bình yên, yến sào, yêu, yếu, yên hung…
Chấp nhận tồn tại hai biến thể ở một số trường hợp.
Ví dụ: Bệnh, bịnh; Sinh mệnh/sinh mạng; eo xèo/eo sèo…
Cúng dàng/ giàng; quả dâu da/ giâu gia; dẫm/giẫm; dò phong lan/ giò…
Viết hoa tên tiếng Việt:
+ Tên tục: đặt khi nhỏ - Ví dụ: cái Tí, cu Tèo…
+ Tên tự (chữ): tên Hán Việt tự đặt, có quan hệ ý nghĩa với một hay nhiều tên khác.
Ví dụ: Khổng Tử tự Trọng Ni ( do mẹ cầu tự ở núi Ni Sơn nước Lỗ. Khi đặt tên dùng
Mạnh, Trọng, Quý phân biệt con cả và thứ. Khổng Tử con thứ hai→Trọng Ni).
+ Tên hèm (tên cúng cơm).
+ Tên hiệu: Trí thức phong kiến tự đặt cho mình, là từ Hán Việt, nghĩa tốt đẹp, thể
hiện nguyện vọng, tâm tư, sở thích.
Ví dụ: Tên hiệu Nguyễn Khuyến là Quế Sơn, Nguyễn Du là Thanh Hiên, Nguyễn Công Trứ
là Ngộ Trai, Nguyễn Bỉnh Khiêm là Bạch Vân cư sĩ…
+ Tên thụy: Đời phong kiến đặt cho người có địa vị khi chết đi.
+ Biệt hiệu: Tên riêng đặt cạnh tên vốn có, nói lên đặt điểm nào đó.
Ví dụ; Nguyễn Du biệt hiệu Hồng Sơn Diệp Hộ (người thợ săn núi Hồng Lĩnh)
+ Tước hiệu: Danh hiệu người có tước phẩm vua ban.
Ví dụ: Công, hầu, bá, tử, nam.
+ Trình Quốc Công ( Nguyễn Bỉnh Khiêm); Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều)…
+ Nhũ danh: Tên thật người vợ cạnh tên chồng.