LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển chung của nhân loại thì trong lĩnh vực thông tin cũng
có những bước phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống ngày
nay . Các hệ thống thông tin truyền thống như thông tin vô tuyến , thông tin hữu
tuyến ngày càng có những biến đổi cả về chất lẫn lượng . Nhu cầu thực tế yêu
cầu các hệ thống truyền dẫn thông tin phải có dung lượng lớn , tốc độ truyền tin
rất cao mà các hệ thống thông tin vô tuyến và hữu tuyến không đáp ứng được .
Một trong những bước phát triển mang tính nhảy bậc trong lĩnh vực thông tin là
việc sử dụng ánh sáng , sóng điện từ vùng bước sóng rất nhỏ ( μm ) – vùng ánh
sáng nhìn thấy và hồng ngoại để truyền tải thông tin , từ đó công nghệ thông tin
quang ra đời . Các hệ thống thông tin quang được nghiên cứu , phát triển và
ngày càng đựơc ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn .
Trong hệ thống thông tin quang tín hiệu được truyền dẫn dưới dạng ánh sáng
, môi trường truyền dẫn là sợi quang . Cáp quang ngày càng được nhiều nước sử
dụng làm phương tiện truyền dẫn thông tin của mình , nó là một phương tiện
truyền dẫn tốt trong thời bình cũng như trong thời chiến . Nó đóng vai trò đa
năng trong truyền dẫn mọi dịch vụ viễn thông chất lượng cao , đồng bộ và hiện
đại như truyền số liệu , phục vụ hội nghị truyền hình , truy cập dữ liệu từ xa ,
truyền dẫn các tập thông tin đa phương tiện …Cáp quang sẽ dần thay thế các
dây dẫn kim loại cồng kềnh và tổn kém bằng nhiều phương pháp : chôn dưới đất
, treo và mắc theo cột điện … nó sẽ được triển khai đến từng người sử dụng ,
giúp cho việc liên kết mọi người với nhau . Cùng với sự phát triển của khoa học
và công nghệ , chất lượng truyền dẫn củ các hệ thống thông tin ngày càng được
nâng lên theo hướng tăng tốc độ truyền dẫn B , cự ly truyền dẫn L , tăng độ tin
cậy ( giảm tỷ số lỗi bit BER) , giảm chi phí dịch vụ và giá thành đầu tư ban đầu .
Ở Việt Nam ta trong những năm qua Tổng cục Bưu điện đã thực hiện chủ
trương cáp quang hoá mạng lưới thông tin quốc gia và các mạng thông tin nội
1
hạt .Nhiều hệ thống thông tin cáp quang đang được xây dựng và khia thác có
hiệu quả phục vụ cho mục đích quân sự nói riêng và góp phần vào phát triển
kinh tế nói chung . Nhu cầu tìm hiểu , phát triển và ứng dụng hệ thống thông tin
Trong vòng 20 năm ( 1974 ÷ 1992 ) thông tin quang đã có phát triển vượt bậc
- Thế hệ đầu tiên của thông tin quang sợi được triển khai vào năm 1978 , làm
việc ở bước sóng 0,85 µm , tốc độ truyền tin vào khoảng 50 ÷ 100 Mb/s ,
khoảng lặp đạt 10 Km , tổn hao sợi quang α
s
= 20 dB/s .
- Thế hệ thông tin quang thứ hai bắt đầu triển khai vào đầu những năm
1980 , bước sóng làm việc 1,3 µm , khoảng lặp 20 Km , tốc độ truyên tin
mới đạt 100 Mb/s do hiệu ứng tán sắc trên sợi quang đa mode . Điểm hạn
chế trên đã được khắc phục nhờ sử dụng sợi quang đơn mode . Năm 1987
thế hệ thông tin quang 1,3 µm thứ hai có tốc độ 1,7 Gb/s , khoảng lặp 50
3
Km đã được đưa vào sử dụng . Khoảng lặp của thế hệ này bị giới hạn bởi
tổn hao sợi quang tại bước sóng 1,3 µm ( α
s
= 0,5 dB/Km) .
- Năm 1990 thế hệ thông tin thứ ba của thông tin quang được đưa vào khai
thác , bước sóng công tác là 1,55 µm , α
s
= 0,2 dB/Km , tốc độ truyền tin
2,4 Gb/s và khoảng lặp đạt 100 Km
- Thế hệ thứ tư của thông tin quang liên quan tới việc tăng tốc độ truyền tin
nhờ ghép kênh theo tần số và tăng khoảng lặp nhờ dùng các bộ khuếch đại
quang . Năm 1990 các bộ khuếch đại quang xuất hiện , bắt đầu một cuộc
cách mạng trong lĩnh vực thông tin quang . Hệ thống thông tin quang kết
hợp ( Coherent ) ra đời và phát triển . Trong phòng thí nghiệm , người ta đã
thành công khi truyền tin ở tốc độ 2,4 Gb/s xa hơn 21.000 Km và truyền tin
ở tốc độ 5 Gb/s xa hơn 14.300 Km .
- Thế hệ thứ năm của thông tin quang đã đang trong giai đoạn nghiên cứu và
hoàn thiện trong phòng thí nghiệm dựa trên việc duy trì hình dạng xung
hưởng của điện áp phân cực (đối với diode quang thác ADP ) .
1.2.Hệ thống thông tin quang .
1.2.1. Mô hình hệ thống thông tin quang .
Hình 1.1. Mô hình hệ thống thông tin quang .
Tín hiệu cần truyền từ điện thoại , các thiết bị đầu cuối , fax , máy tính …được
qua bộ xử lý tín hiệu điện rồi đưa tới bộ biến đổi điện quang ( E/O) , các tín
hiệu điện “ 1” và “0” (tín hiệu số ) được biến đổi thành tín hiệu quang “có” và
“không” qua sợi quang (FO) để truyền tới đầu kia của hệ thống .Các tín hiệu
5
xung truyền trong sợi quang bị suy giảm về công suất , bị giãn về độ rộng xung (
méo dạng ) . Tại bộ biến đổi quang điện ở đầu kia của hệ thống thì các tín hiệu
!'(
"&
)*
+,
/0
1
&2
'3
4!
"&
)*
"#-
56
+76
)*
4!
6
&
&
.
+76
điện . Ở đây việc tách sóng quang được thực hiện trực tiếp nhờ các
photodiode .
- Khuếch đại cân bằng : khuếch đại tín hiệu sau tách sóng quang sau đó san
bằng và lọc nhằm nâng cao tỷ tín/tạp ở mạch phục hồi .
- Mạch phục hồi :gồm mạch quyết định và mạch đồng hồ , có nhiệm vụ tái
tạo xung tín hiệu và định thời xung đồng bộ hồ .
- Bộ giải mã (DECODES) : biến đổi tín hiệu từ dạng mã đường truyền về
dạng mã thích hợp đưa tới bộ tách kênh điện
- Bộ tách kênh điện (DEMUX) : tách tín hiệu số cấp cao đưa đến thành tín
hiệu số cấp thấp tới các thiết bị đầu ra tương ứng .
d.Trạm lặp .
Có nhiệm vụ khuếch đại tín hiệu đủ lớn để bù trừ với sự suy hao trên sợi
quang trong tuyến .Trạm lặp có hai dạng sau :
'8
8
90:
9(
90:
$%
);
6<&
H ình 1.3.Sơ đồ khối chức năng trạm lặp
8
- Hình 1.3 .a là dạng trạm lặp điện quang (trạm lặp gián tiếp ) đang được sử
dụng rộng rãi .Khối biến quang điện (O/E) và khối biến đổi điện quang (E/O)
C&
Hình 1.4.Sơ đồ khối chức năng hệ thống thông tin Coherent .
Do những tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ nên đã ra đời hệ thống thông tin
quang kết hợp Coherent (1980) và được nghiên cứu , ứng dụng thử nghiệm vào
đầu thập kỷ 90. Trong hệ thống quang kết hợp sự đổi tần số sóng mang được sử
dụng ở máy thu quang bằng cách trộn trường quang tín hiệu với trường quang
laze nội và cộng tuyến tính ở đầu ra bộ trộn ( tương tự như kỹ thuật thu vô
9
tuyến đổi tần ) . Hệ thống Coherent có những điểm ưu việt hơn hệ thống
IM/MD là:
+ Độ nhạy của máy thu quang cải thiện hơn 20 dB so với máy thu IM/MD (tách
sóng trực tiếp ) , từ đó có thể tăng cự ly truyền dẫn (trạm lặp ) lên nhiều khi
cùng công suất phát .
+ Có thể sử dụng hiệu quả độ rộng băng tần của sợi quang nhờ kỹ thuật ghép
kênh quang theo bước sóng (WDM).
b.Máy phát quang.
Gồm Laze và bộ điều chế ngoài , ở đây sử dụng các laze đơn mode có
đường phổ hẹp (thường dùng loại DFB hoặc laze có hộp cộng hưởng ngoài , độ
rộng phổ cỡ 10 – 100 MHz ). Bộ điều chế ngoài dùng để điều chế trường quang
do laze nguồn phát ra với dạng điều chế mong muốn nhứAK (điều
biên ),PSK(điều pha ),DPSK(điều pha tương đối ).Các bộ điều chế ngoài thường
dùng như giao thoa kế Mac-zender , bộ điều chế hấp thụ EA .Riêng điều chế
dạng FSKđược tiến hành trực tiếp bởi dòng phun của laze .Cùng đi với bộ điều
chế là các tín hiệu mang thông tin cần gửi đã được mã hoá (PCM). để giảm sự
phản xạ ánh sáng từ sợi quang về lại máy phát thì ần có bộ cách ly quang giữa
máy phát uang và sợi quang . Bộ cách ly quang chỉ cho pháp ánh sáng truyền
theo chiều từ từ nguồn vào sợi quang còn hấp thụ ánh sáng theo chiều ngược
lại .
c.Máy thu quang
- Cho phép truyền đồng thời các tín hiệu có bước sóng khác nhau trên cùng
một sợi quang (ghép kênh theo bước sóng WDM ) . Đặc tính này cộng với
khả năng truyền dẫn băng rộng của sợi quang sẵn có làm cho dung lượng
truyền dẫn của tuyến là rất lớn .
- Sợi quang không chịu ảnh hưởng của điện trường bên ngoài và các tác
động của môi trường nên chất lượng thông tin cao .
- Dễ lắp đặt, bảo dưỡng , thông tin được bảo mật và có thể đi chung đường
cáp với các đường truyền kim loại trước đó .
11
- Đảm bảo mỹ quan đô thị
b.Nhược điểm :
Tuy nhiên hệ thống thông tin quang sợi có tồn tại một số nhược điểm sau :
- Hàn nối sợi quang khó khăn , kỹ thuật cao .
- Muốn cấp nguồn từ xa cho các trạm lặp cần thêm đặt thêm dây kim loại
( cu, fe, …)vào trong cáp quang .
- Nếu có nước , khí ẩm lọt vào trong cáp thì sơi quang sẽ chóng bị lão hoá ,
các mối hàn chóng hỏng , lượng suy hao tăng .
- Sợi quang có khích thước nhỏ nên hiệu suất ghép nguồn quang với sợi
quang thấp .
- Không truyền được mã lưỡng cực .
Những những nhược điểm này phần lớn mang tính khách quan và có thể giải
được bằng các tiến bộ của công nghệ . Nhờ những ưu điểm vượt trội trên mà
hệ thống thông tin quang ngày càng được ứng dụng rộng rãi và có một tương
lai phát triển tốt đẹp vì những lợi ích của nó trong cuộc sống .
1.3.Cấu hình hệ thống thông tin quang .
Ta có cấu hình hệ thống thông tin quang như hình vẽ sau đây :
Thứ bậc ghép kênh của các tiêu chuẩn được trình bày ở bảng 1.1 dưới đây :
Tiêu chuẩn Đặc trưng Cấp bậc
Cấp 1 cấp 2 Cấp 3 Cấp 4 Cấp 5
Châu Âu Tốc độ (Mb/s)
Hệ số nhân
Số kênh thoại
2,408
-
30
8,488
4
120
34,368
4
480
139,264
4
1920
564,992
4
7680
Bắc Mỹ Tốc độ (Mb/s)
Hệ số nhân
Số kênh thoại
1,544
-
24
6,312
4
96
chuyển thành dạng số có tốc độ 64 Kb/s tương đương với 1 kênh thoại . Một
kênh truyền hình màu chất lượng tiêu chuẩn được truyền ở tốc độ 140 Mb/s
tương đương 1920 kênh thoại .
1.3.2.Thiết bị đầu cuối .
Thiết bị đầu cuối OLTE giao tiếp với thiết bị ghép kênh và sợi quang . Sơ đồ
khối của OLTE được mô tả như hình 1.6. dưới đây :
13
I
:
4J*
9K
CL
.
CL
&&
LMNL
4!
+-A
"
16
L+4
G<&!
46$<
0&
BG
"
"&
:
CL
dụng laọi trừ sự xuất hiện các nhóm bit chưa nhiều bit “ 1 “ và bit “ 0 “
liên tiếp , đồng thời còn ghép thêm một số nhóm bit phát hiện lỗi . Loại
mã như thế này thường được sử dụng là mã 5B6B .
- Khối kích thích ( Driver ) : tổng hợp dòng điện phân cực và chuỗi xung
tín hiệu để kích thích nguồn quang phát ra ánh sáng tương ứng .
- Nguồn quang ( E/O ) : là nơi phát ra ánh sáng theo tín hiệu từ khối kích
thích đưa tới . Linh kiện phát quang có thể là LED hoặc LD .
- Khối điều khiển công suất ( APC ) : tự động điều chỉnh ánh sáng phát ra
có công suất ổn định .
• Hướng thu : tiếp nhận tín hiệu quang rồi biến đổi thành tín hiệu điện , sau
khi được khuếch đại , phục hồi thì tín hiệu điện được giải mã sang dạng mã
thích hợp với thiết bị ghép kênh .
- Thu quang ( O/E ) : biến đổi tín hiệu quang tiếp nhận về thành tín hiệu
điện tương ứng nhờ các diode thu quang PIN hoặc ADP .
- Khối khuếch đại ( AMP ): khuyếch đại tín hiệu đến từ tuyến thu quang .
- Khối AGC : tự động điều chỉnh độ khuyếch đại của khối khuếch đại nhằm
giữ cho mức tín hiệu ra luôn ổn định .
- Khối phục hồi ( Gegenerator ) : khôi phục lại dạng xung tín hiệu bị méo
dạng do suy hao , tán sắc trong sợi quang và tách xung đồng hồ để đồng
bộ cho các khối .
- Khối giải mã (Decoder ) : chuyển mã 6B trở lại dạng mã 5B theo quy tắc
mã hoá ở đầu phát . Đồng thời khối này làm nhiệm vụ phát hiện lỗi , đếm
lỗi để chỉ thị cảnh báo tới khối giám sát .
- Khối giải ngẫu nhiên hoá ( Descrambler ) : trộn tín hiệu theo quy tắc
ngược lại của quá trình ngẫu nhiên hoá ở phía đầu phát .
- Khối đổi mã ( U/B : Unipolar/Bipolar ) : đổi mã đơn cực (U) về mã lưỡng
cực (B) để truyền tới thiết bị ghép kênh .
15
1.3.3.Thiết bị ghép/ tách quang
+76
/tách kênh theo bước sóng (WDM ) .Nó đảm bảo các chức năng sau :
- Ghép nhiều tín hiệu có bước sóng khác nhau để đưa vào một sợi quang .
- Tách các tín hiệu có bước sóng khác nhau trong sợi quang thành từng tín
hiệu riêng biệt ứng với mỗi bước sóng đầu vào
- Để thực hiện ciệc ghép / tách kênh quang , người ta sử dụng lăng kính ,
các bộ lọc thông quang , cách tử nhiễu xạ như được đưa ra ở bảng 1.2
dưới đây .
Trong các phương pháp trên thì : phương pháp lăng kính có cấu trúc đơn giản
, tách ra các tia sáng ngay cả khi ánh sáng là một dải có bước sóng rộng ,
nhưng nó có giá thành cao nên ít được sử dụng . Phương pháp lọc phim giao
thoa có hệ số truyền dẫn từ 0 ÷ 90% phụ thuộc vào bước sóng , nó dùng để
tách các tia truyền hoặc tia phản xạ , phương pháp này thì ghép kênh ít , cấu
trúc đơng giản , suy hao thấp nên thường được sử dụng . Còn phương pháp
cách tử nhiễu xạ thì tia sáng khi đập vào sẽ phản xạ ra các góc khác nhau tuỳ
theo bước sóng . Nó có đặc điểm nhỏ gọn , suy hao nhỏ , tách số kênh lớn
nên được sử dụng rộng rãi nhất trong 3 phương pháp
16
=P)
Q
"O)
Q
,
1
λ
λ
2
λ
3
,
λ
,
3
λ
2
λ
λ
1
,
1
λ λ
2
3
λ
Bảng 1.2.Các phương pháp ghép tách quang thông dụng .
1.3.4.Thiết bị lặp đường dây .
Thiết bị lặp đường dây giao tiếp với sợi quang ở cả hai phía , đây là điểm
khác so với thiết bị đầu cuối . Thiết bị lặp làm nhiệm vụ chuyển tiếp trung gian
khi khoảng cách truyền dẫn từ đầu phát tới đầu thu vượt quá khả năng của sợi
quang ( do đặc tính suy hao và tán sắc của sợi quang ) . Trong thiết bị lặp không
có các khối đổi mã , mã hoá và các bộ giải mã vì dạng mã trên đường truyền
được giữ nguyên .Chức năng các khối trong hình 1.8 tương tự như ở thiết bị đầu
cuối .
17
90:
@&D
AI
$%
$%
h
là vùng cấm .
Ở trạng thái cân bằng nhiệt của bán dẫn thì ở vùng hoá trị có các điện tử , còn ở
vùng dẫn có các lỗ trống điện tử .
18
∆
V
I
V
V
NW#1
NW&O-
NWIJ
Hình 1.9.Các vùng năng lượng trong bán dẫn .
Người ta dùng hàm số Phermi để đặc trưng cho xác suất các điện tử có thể đạt
được mức năng lượng W .
F
n
(WT) =
1)exp(
1
+
−
KT
WW
F
Một đặc điểm của mức Phermi là trong một hệ thống có nhiều bán dẫn và mỗi
bán dẫn đều nằm ở trạng thái cân bằng nhiệt thì mức Phermi như nhau .
Nồng độ các điện tử tự do và lỗ trống điện tử trong các bán dẫn nguyên chất rất
V
Z
I
V
V
NW NW6
I
V
V
[
V
Hình 1.10.Sơ đồ năng lượng lớp chuyển tiếp p-n trước lúc gắn các bán dẫn p và
n với nhau .
Nếu gắn hai bán dẫn loại p và n với nhau thì ở chỗ gắn sẽ thoả mãn điều kiện :
M
2
– M
1
> ∆E = W
c
Một phần điện tử ở vùng n chuyển sang vùng p và ngược lại thì lỗ trống điện tử
từ vùng p chuyển sang vùng n , do đó xảy ra quá trình tái hợp và phát lương từ .
Lượng từ này được khuyếch đại cho đến khi điều kiện M
2
– M
1
> ∆E bị phá vỡ
và suy biến ở vùng chuyển tiếp bị chấm dứt , tức là sự đảo mật độ ở đó cũng bị
\
]
^
_
`
Hình 1.12 .Cấu tạo của laze bán dẫn .
Trong các bán dẫn hệ số khuếch đại ánh sáng trên một đơn vị độ dài lớn hơn
trong các hoạt chất là chất rắn , chất khí và chất lỏng hàng ngàn lần .
21
Chính vì vậy mà độ dài quang học của quãng đường trong laze bán dẫn có thể
vào khoảng vài phần mười milimet , còn hệ số phản xạ của các gương là 0,3- 0,4
.
Các laze bán dẫn hiện đại có thể làm việc trong chế độ xung và cả trong chế độ
liên tục .
Mật độ dòng điện phun quyết định thành phần phổ của laze bán dẫn . Khi giá trị
của dòng điện ấy bé hơn giá trị ngưỡng nào đấy thì độ rộng của giải phổ sẽ vượt
quá 0,1 µk . Mật độ dòng điện phun còn quyết định sự phân bố bức xạ trong
không gian .
Độ dài và tần số phóng xung trong laze bán dẫn được quyết định bởi nhiệt độ
của lớp chuyển tiếp p-n là chủ yếu .
Vì kích thước lớp p-n rất bé nên sự khuếch tán rất lớn , chính vì vậy mà độ tán
xạ của tia bức xạ ở laze bán dẫn lớn hơn nhiều so với laze khí .
Laze bán dẫn có kích thước bé , hiệu suất cao ( gần 100%) . Điều đó cho phép
sử dụng rộng rãi laze bán dẫn vào các kết cấu đòi hỏi gọn nhỏ và chắc chắn .
b. Trường bức xạ của ánh sáng ra và hiệu suất ghép .
Bức xạ của trường quang được đặc trưng bởi sự phân bố trường xa , trường
gần và mật độ bức xạ . Nhưng người ta thường quan tâm đến công suất ánh sáng
có thể ghép vào sợi quang được xác định theo công suất bức xạ tổng cộng và
hiệu suât ghép . Công suất quang đối với LED từ 1÷3 mW , với LD từ 1÷10 mW
, các laọi LD đời mới hiện nay có công suất phát tới 50 mW.
LD từ 10÷30% với sợi đơn mode , và từ 60÷90% với sợi đa mode .
1.4.2.Linh kiện thu quang .
a.Cấu trúc , nguyên lý hoạt động của linh kiện thu quang .
Khi ánh sáng mang thông tin tới đầu thu cần có các thiết bị biến đổi tín
hiệu quang thành tín hiệu điện gọi là linh kiện thu quang . Có nhiều phương
pháp biến đổi quang - điện như biến đổi trực tiếp lượng tử ánh sáng thành tín
hiệu điện theo hiệu ứng quang nội và hiệu ứng quang ngoại . Hiện nay người
ta sử dụng hiệu ứng quang nội cho linh kiện thu quang bán dẫn .
Nguyên lý làm việc cơ bản như sau : Giả sử ta có một lớp chuyển tiếp p-n
được phân cực ngược bởi điện áp U
0
( “-“ đặt vào vùng p ) , khi này độ rộng
vùng nghèo tăng ( vùng ít điện tử và lỗ trống ) , điện trường nội của vùng
nghèo ngăn sự khuyếch tán của điện tử và lỗ trống đang chiếm đa số ở vùng
n và p đi qua vùng nghèo . Trong chuyển tiếp chỉ tồn tại một dòng điện
ngược rất nhỏ do sự dịch chuyển của các hạt thiểu số qua chuyển tiếp p-n ,
dòng điện này là dòng tối I
d
.
Khi ánh sáng có năng lượng photon : W= h.γ > E
g
chiếu vào chuyển tiếp
( từ vùng p ) thì vùng p , vùng nghèo , vùng n các điện tử được hấp thụ ánh
sáng , điện tử từ vùng hoá trị sẽ dịch lên vùng dẫn , kết quả là tạo nên các cặp
điện tử - lỗ trống . Theo chiều điện trường thì các điện tử , lỗ trống chuyển
23
động qua vùng nghèo ,p,n, và tạo ra một dòng chay ngược gọi là dòng quang
điện . Dòng quang điện I
ph
trung bình tỷ lệ với công suất ánh sáng tới P
Về cấu trúc , diode PIN được cấu tạo từ chất bán dẫn gồm ba vùng , ở
giữa vùng p và n có một vùng bán dẫn tinh khiết gọi là vùng I (Intrinsic ).
Cấu trúc của PIN dải 1,3÷ 1,5 µm với các lớp bán dẫn , thiên áp ngược đặt
vào PIN , R
tải
và phân bố điện trường bên trong diode mô tả như hình
1.14. Ưu điểm của diode PIn so với diode quang p-n là vùng I có điện trở
cao nên điện trường trong nó không lớn hơn , như vậy độ rộng vùng I
24
chiếm gần hết vùng nghèo và nó có thể thay đổi được trong quá trình chế
tạo .
Trong PIN , thành phần dòng quang điện do chuyển động kéo theo
chiếm ưu thế so với thành phần dòng khuếch tán vì sự hấp thụ ánh sáng
chủ yếu trong vùng I , và độ rộng vùng I có thể chọn lớn để đạt hiệu suất
lượng tử và độ nhạy cao , tuy nhiên do phải tính tới đáp ứng thời gian nên
độ rộng vùng I được chọn một cách tối ưu .
Diode chế tạo từ bán dẫn có vùng cấm loại trực tiếp như InGaas làm
vùng I , còn vùng p và vùng n dùng InP dạng chuyển tiếp nhị thể kép cho
ta độ nhạy cao , đáp ứng tần số nhanh và băng tần lớn . Nếu chế tạo vùng
I bằng bán dẫn có vùng cấm loại gián tiếp thì đáp ứng thời gian lớn sẽ hạn
chế tốc độ bit . Độ nhạy của PIN là :
R
pin
=
ch
q
P
I
q
ph