Ảnh hưởng của các yếu tố sinh học lên
sự nảy mầm của bào tử nấm
Sự nảy mầm bào tử đóng một phần quan trọng giúp duy trì được vòng đời
của nấm. Trong tự nhiên, dưới nhiều ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loại vòng
đời khác nhau, thì sự nảy mầm của các bào tử nấm cũng bị tác động bởi
những sinh vật khác nhau như thực vật, vi khuẩn,…và cả nấm nữa. Những
tác động này đôi khi là riêng lẻ, đôi khi lại là sự kết hợp với các sinh vật
khác trong quần xã.
Sự ảnh hưởng của thực vật
Tất cả các loài thực vật đều có mối quan hệ với nấm ở cả hai mặt tích cực
(như cộng sinh,…) và tiêu cực (như cây ký chủ,…). Do đó, các loài thực vật
luôn cố gắng gia tăng sự nảy mầm của những bào tử nấm có lợi và ngăn cản
sự nảy mầm của những bào tử nấm bệnh. Trong hầu hết các trường hợp, dịch
rỉ và những chất thải từ thực vật, mà có thể chứa một vài hợp chất biến
dưỡng thứ cấp đặc biệt, chính là công cụ chủ yếu để thực hiện vai trò này.
Melin (1962) đã chứng minh khả năng nảy mầm của bào tử nhiều hơn ở một
số loài nấm ngoại cộng sinh khi chúng được nuôi cấy chung môi trường với
rễ bị cắt của cây ký chủ. Gần đây, các công trình nghiên cứu của Philip &
Tsai (1992) và Kikuchi et al (2007) chứng minh rằng những chất flavonoid
từ dịch rỉ của rễ cây ký chủ gây ra sự nảy mầm bào tử của các loài nấm
ngoại cộng sinh tương ứng như Glomus spp. và Suillus bovinus. Mặt khác,
các loài thực vật cố gắng ngăn cản sự nảy mầm bào tử của các loài nấm gây
hại theo cách trực tiếp hay gián tiếp với sự trợ giúp của những sinh vật khác.
Chất kháng độc thực vật (phytoalexin) là những chất kháng sinh được tổng
hợp de novo bởi các loài thực vật có khả năng tích lũy chúng nhanh chóng
tại các vùng có sự nhiễm bệnh không thích hợp và nó cũng có khả năng ngăn
cản sự nảy mầm bào tử đính của Aspergillus flavus (Hillary et al 1985). Đôi
khi, cơ chế để thành lập sự kháng nấm gây bệnh, cái ngăn cản sự nảy mầm
bào tử, lại phức tạp hơn do bởi chất kích thích có từ những mầm bệnh hoặc
từ sinh vật thứ ba. Nghiên cứu của Marques et al (2006) đã giải thích được
phá của nấm mốc trong sự sản xuất post-harvest và cấy trồng (đồn điền) với
khả năng ức chế sự phát triển của hệ sợi cũng như sự nảy mầm bào tử
(Okigbo 2002, 2005). Bên cạnh đó, vi khuẩn liên kết với sinh vật,
actinomyces, cái sản sinh vài loại chất kháng sinh chẳng hạn như nystatin từ
Streptomyces noursei cũng có tác động đến sự phát triển của nấm và sự nảy
mầm bào tử (Stanley 1965, Tzatzarakis 2001) bởi các hợp chất hoạt động
của chúng.
Sự ảnh hưởng của nấm
Nấm cũng ảnh hưởng tới sự nảy mầm bào tử của các others bằng vài con
đường khác nhau như những con đường gián tiếp thông qua sự tương tác với
mycorrhizal symbiosis hoặc trực tiếp bởi những hợp chất ngoại bào hoặc sự
phát triển nhanh của quần thể. Với sự ứng dụng phổ biến, nấm men cũng cho
thấy triển vọng để làm tăng sự nảy mầm bào tử của mycorrhizal fungi
(Sampedro 2004) và ức chế sự nảy mầm của vài loài nấm bệnh chứa trong
đất bởi sự cạnh tranh như kiểm soát sinh học (Khaled, 2006). Độc tố nấm
citrinin từ Penicillium verrucosum được cho là những chất độc hệ sợi và là
vô nghĩa trong vòng đời của nấm này. Tuy nhiên, khả năng hấp thu UV của
nó cho thấy vai trò đang bảo vệ các bào tử của loài nấm này dưới sự bức xạ
UV (Fredrik 1998). Nếu toàn bộ quần thế nấm trong ở khu đất trồng cây cho
thấy tiềm năng như bio-control nhằm hạn chế nấm gây bệnh thực vật ở cả sự
nảy mầm và sự phát triển hệ sợi (Rodriguez, 2000). Mặt khác, một vài loài
nấm có thể sản xuất đài bào tử với các bào tử lưỡng tính mà không cần hình
thành quả bào tử trong điều kiện đặc biệt như sự xáo trộn amoniac hoặc bản
nghiêng trong nuôi cấy invitro (Yamanaka & Sagara, 1990).
Sự ảnh hưởng của động vật
Các phần của cơ thể động vật, chính chúng, là những vật kích thích của sự
nảy mầm bào tử của các nấm gây bệnh cho chúng. Ở vài nấm ký sinh côn
trùng (entomorales fungi), các bào tử thường chỉ nảy mầm trên cơ thể ký chủ