Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các giống cây có củ có chất lượng hàng hoá cao sử dụng cho mục đích chế biến tại Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam " MS6 doc - Pdf 15



Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) Báo cáo tiến độ dự án CARD
008/07VIE

Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các giống cây có
củ có chất lượng hàng hoá cao sử dụng cho mục đích
chế biến tại Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam

MS6
: Báo cáo 6 tháng lần thứ ba
(từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2009)

Tháng 10 năm 2009

LC 21 January 2010

2
Bảng các nội dung


Đầu ra của dự án

Báo cáo kỹ thuật: Đánh giá và chọn lọc giống khoai lang mới tại Bắc Giang, Thanh Hoá
và Quảng Trị (Tiếng Anh và tiếng Việt) Hội thảo về phân tích Enzyme khoai lang, Les Copeland, tháng 2 năm 2009 (English version of
Powerpoint presentation) LC 21 January 2010
3
1. Thông tin về tổ chức nghiên cứu
Tên dự án
008/07VIE_Nghiên cứu chọn lọc và phát triển các
giống cây có củ có chất lượng hàng hoá cao sử
dụng cho mục đích chế biến tại Miền Bắc và Miền
Trung Việt Nam
Tổ chức Nghiên cứu phía Việt Nam
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
Chủ nhiệm dự án phía Việt Nam
PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất
Tổ chức phía Úc
Khoa Nông nghiệp, Lương thực và Tài nguyên thiên
nhiên, trường Đại học Sydney
Đại diện phía Úc
GS.TS. Les Copeland
Thời gian bắt đầu
02/2008

Adm. Assistant
Fax:
61 2 9351 8875
Tổ chức
Viện chọn giống cây trồng khoa
nông nghiệp, Lương thực và Tài
nguyên thiên nhiên, trường Đại
học Sydney
Email:


Phía Việt Nam:
Tên
PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất
Telephone:
0320 716395
Vị trí:
Giám đốc
Fax:
0320 716385
Tổ chức
Viện Cây lương thực và Cây thực
phẩm
Email:

LC 21 January 2010


sự lựa chọn tốt hơn về cây trông cây có củ.

Từ khi dự án bắt đầu từ tháng Hai năm 2008, tiến trình đã được thực hiện như sau.
• Một cuộc điều tra khảo sát đã được ti
ến hành nhằm thu thập số liệu tại 3 tỉnh về các giống khoai
lang trồng hiện tại, kỹ thuật trồng của nông dân, (bao gồm giống, kỹ thuật trồng trọt, cách trồng,
thời gian thu hoạch, đầu vào), năng suất, và cách sử dụng khoai lang. Kết quả đầu ra của cuộc điều
tra đã được đệ trình như một mốc quan trọng trong Milestone 2.
• Ba địa phương được chọ
n lựa đó là Bắc Giang, Thanh Hoá và Quảng Trị và đồng ruộng để thử
nghiệm khoai lang trong điều kiện vụ đông tại: Viện Cây lương thực và cây thực phẩm, Bắc Giang
và Thanh Hoá, tại vụ Xuân cho tỉnh Quảng Trị. Kiểu bố trí thí nghiệm và phân tích số liệu có sự
hợp tác của các chuyên gia Úc và các thành viên. Sau khi phân tích số liệu, 2 hoặc 3 giống khoai
lang đã được lựa chọn cho đánh giá tiếp theo cho vụ trồng năm 2009.
• Một đăng tải điện tử về dự án đã được hoàn thiện.
• Một phương pháp cho việc nâng cao chất lượng tinh bột khoai lang đã được phát triển tại Viện
Cây lương thực và cây thực phẩm.
• Một vài cuộc hội thảo đã được tiến hành

Hội thảo Người trình bày Thành phần và
số người tham
gia
âĐnh giá chất lượng trong nông sản, Tháng 7 /08,
Viện Cây lương thực và cây thực phẩm
Les Copeland Nhà kha học,
khuyến nông (30)
Kỹ thuật sản xuất khoai lang giống mới tại Bắc,
tháng 9/08
Les Copeland,
Trương Công

Marker phân tử và công nghệ lựa chọn trong chọn
giống cây trồng, tháng Tư/09, Uni of Sydney,
Richard Trethowan Nhà kha học,
khuyến nông (5)

• Một vài trao đổi hợp tác được tiến hành

Chuyến thăm
Tháng 2/2008 Les Copeland, Peter
Sharp to VN
Thăm đồng và Hội thảo
Tháng 7/2008 Les Copeland to VN Thăm đồng và Hội thảo
Tháng 9/2008 Les Copeland to VN Thăm đồng và Hội thảo
Tháng 10/2008 Les Copeland, Peter
Sharp, Richard
Trethowan to VN
Thăm đồng và Hội thảo
Tháng 2/2009 Les Copeland to VN Hội thảo
Tháng 4/2009 5 Nhà khoa học và
khuyến nông
Thăm quan học tập tại Úc

Những hoạt động được mô tả trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2009, bao gồm::
• Hội thảo về lý thuyết và phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm về chất lượng sản
phẩm khoai lang tại Viện Cây lương thực và cây thực phẩm, tháng 2/2009 bởi Les Copeland.
• Chuyến thăm và làm việc tại Úc bởi các nhà khoa học và khuyến nông Việt nam, tháng
4/2009.
• Hoàn thiện phân tích số liệu về thử nghiệm các giống khoai lang t
ại các tỉnh Bắc Giang,
Thanh Hoá và Quảng Trị và lựa chọn giống khoai lang tốt nhất để phát triển cho tương

chưa được đánh giá toàn diện về tiềm năng năng suất, tiềm năng chất khô, khả năng chế bi
ến. Tại khu
vực miền Trung một số tỉnh có khả năng phát triển cây có củ là rất lớn. Những giống khoai lang tốt là
rất cần thiết đầu tư cho khu vực này và nó được xem như một phần của hệ thống canh tác phù hợp
nhằm gia tăng thu nhập cho người nông dân.Những mục tiêu của Dự án

1. Từ sự chỉ dẫn về kết quả nghiên cứu điều tra tại 3 tỉnh phía Bắc và Trung Bộ Việt Nam về việc sử
dụng kỹ thuật canh tác khoai lang hiện tại bao gồm: giống và kỹ thuật trồng, thời gian trồng và
thu hoạch, đầu vào, năng suất, sử dụng khoai lang và phát triển nó vv., đó là những vấn đè cần
đượ
c dự án đánh giá. Những phương pháp sử dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển các
giống và kỹ thuật mới sẽ tạo ra hướng phát triển trong tương lai về tính đúng, tính thực tế của Dự
án.
2. Lựa chọn một số giống khoai lang từ bộ giống khoai lang của Viện Cây lương thực có khả năng
thích hợp với điều kiện canh tác tại khu vực Miền Trung, Việt nam, thông qua thí nghi
ệm thử
nghiệm trong vùng lựa chọn để đánh giá năng suất, hàm lượng chất khô cho mục đích chế biến.
3. Phát triển và đánh giá một số phương pháp chế biến khoai lang, (qui trình sản xuất bột khoai lang
cho ngành chế biến thực phẩm, chips khoai lang, rượu khoai lang) việc sử dụng khoai lang bới các
thí nghiệm và các công ty họ sẽ tham gia vào Dự án. Bên cạnh đó, các phương pháp đưa ra vowia
năng lực phù hợp thuộc về các hợp ph
ần của Việt Nam, lựa chọn, cải tiến, xác nhận về chất lượng
thử nghiệm về khoai lang và khởi nguồn cho phát triển. Tiềm năng cho mối quan hệ giữa các dự
án từ QDPI và Trung tâm khoai tây quốc tế (CIP) sẽ được thử nghiệm trong dự án này.
4. Phát triển phương pháp cách ủ chua thân lá, củ khoai lang phục vụ cho chăn nuôi tại chỗ cho các
hộ nông dân tại vùng triển khai dự án phía Bắc và Trung Bộ Việt Nam.
5. T

7
8-10 tấn/ha, năng suất này sẽ là thấp nếu ta đem so với năng suất khoai lang trung bình của toàn cầu
đạt 14-15 tấn/ha, khoảng 30-40%.

Có nhu cầu về củ khoai lang tại các nông hộ cho mục đích thương mại và xuất khẩu. Củ khoai lang có
thể đem thái lát và phơi khô dưới ánh sáng mặt trời trong vòng 2-3 ngày và các nông hộ họ có thể sử
dụng khoai khô này cho ăn giữa buổi hoặc tạo thành tinh bột để làm bánh hoặc tạo ra các món ăn khác
nữa. Làm khô miếng thái lát khoai lang có thể đóng thành từng gói để ra chợ bán hoặc sản xuất thương
mại như là chips hoặc tinh bột khoai lang. Củ khoai lang và phần thân lá được sử dụng làm thức ăn gia
súc, Hoặc sau khi cắt rồi đem phơi khô hoặc sau khi phơi khô vật liệu sau khi thu hoạch còn khoảng
25% độ ẩm, cho thêm muối và một số sản phẩm từ nông nghiệp ( ví dụ như cám gạo, phân gà, ngọn
sắn) và cất gi
ữ bảo quản trong túi ni lông từ 3-6 tháng.

Tính có lợi của việc dịch vụ khi có chất lượng củ khoai lang tốt được xem như là sự chờ đợi để khích
lệ từ các công ty. Rất nhiều nhà sản xuất tinh bột ở Việt Nam đều sản xuất từ nguyên liệu sắn, điều
này đã gây ra nhiều vấn đề về môi trường và và kết quả đất bị bỏ không, điề
u đó se rất khó cho quá
trình phát triển. Củ khoai lang có nguồn gốc tinh bột tốt và quy trình chế biến tinh bột sắn có thể phù
hợp cho chế biến tinh bột từ củ khoai lang. Củ khoai lang còn có thể chế biến thành rượu và Sake (tại
Nhật Bản).

Trồng khoai lang sẽ đem lại cho nông dân với nhiều sự lựa chọn của một cây trồng đa dụng. Điều đó
có thể sử dụng như
là một cây trồng thay thế trên đất cạn và đất có thành phần cát pha, cho việc luân
canh trồng trọt với các cây trồng khác hoặc cho sử dụng che phủ cỏ dại như thường thấy ở miền Trung
Việt Nam. Điều đó sử dụng khác đi từ sự sử dụng trong gia đình như là cây trồng kinh tế, nguồn gốc
tốt cho sử dụng làm thức ăn gia súc và các hợp đồng kinh tế cho sả
n xuất thực phẩm và tinh bột.


Những lợi ích cho nông dân từ dự án sẽ gia tăng sản xuất khoai lang thông qua việc lựa chọn những
giống tôt hơn đã được phát triển bởi Viện Cây lương thực và cây thực phẩm như: Cải tiến giống và kỹ
thuật, mật độ trồng, kiểu luống, khoảng cách hàng trồng, phân bón và tưới nước, chế độ chăm sóc,
quản lý sâu bệnh và ước định chất lượng của sả
n phẩm. Bằng con đường này, khoai lang có thể gia
tăng năng suất củ mà hiện tại năng suất của khoai lang mới chỉ đạt khoảng 8-10 tấn/ha, năng suất này
là rất thấp nếu ta đem so sánh với năng suất khoai lang trung bình của toàn cầu là 14-15 tấn/ha, giảm
từ 30-40%.

Việc trồng khoai lang sẽ đưa lại cho nông dân với những lựa chọn của một loại cây trồng đa dụng.
Khoai lang có th
ể được sử dụng như là một loại cây trồng che phủ trên đất cạn có thành phần chủ yếu
là đất cát, để luân canh với các cây trồng khác, hoặc để điều tiết cỏ dại rất tốt thường xuất hiện ở miền
Trung Việt Nam. Điều đó được sử dụng trong nông hộ như là một cây trồng kinh tế, để sử dụng làm
thức ăn gia súc và cho m
ục đích thương mại, hoặc để sản xuất lương thực và sản xuất tinh bột.
5.3. Khả năng đóng góp
Các khóa tập huấn sẽ được tổ chức và thực hiện tại VN cho các cán bộ nghiên cứu và khuyến nông
được chọn tại Thanh Hoa, Bac Giang và Quang Tri. Những khóa học này sẽ trợ giúp tăng cường năng
lưc nghiên cứu và quản lý cho các tỉnh đó. Hai khóa tập huấn sẽ được tổ chức, một khóa trong năm
2008 và một khóa trong năm 2009, mỗi khóa gồm 30 học viên. Phía đối tác Úc sẽ có trách nhiệm tổ
chức và theo dõi các khóa học. Phía đối tác VN có trách nhiệm đă
ng ký và đón đại biểu, sắp xếp chỗ ở
cho học viên, viết và trình bày nội dung về các hoạt động khuyến nông, những nội dung nghiên cứu và
khuyến nông thích hợp tại mỗi vùng. Một vài cán bộ nghiên cứu sẽ được lựa chọn để tham dự chuyến
tham quan học tập tại Úc để có sự nhìn nhận mới và khác về sx, chế biến và quản lý tài nguyên. Tài
liệu tập huấn sẽ được chuẩn b
ị sẵn sàng cả dạng điện tử và văn bản.

Nông dân tham gia vào dự án sẽ có cơ hội tư vấn về chọn giống dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết địa

6. Báo cáo về những sản phẩm
6.1. Về môi trường
Khoai lang là đối tượng cây trồng ít phải dùng đến thuốc bảo vệ thực vật. Do vậy, khi trồng đối tượng
cây trồng trên đã có tác động chặt chẽ với vấn đề bảo vệ môi trường, làm giảm thiểu lượng ô nhiễm có
hại, tiết kiệm được chi phí trong sản xuất làm tăng lợi nhuận và thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên
nấm và virút là những loại bệnh có thể làm giảm đán kể năng suấ
t kể cả năng suất thân lá và năng suất
củ. Việc phát triển những giống chống bệnh sẽ tạo ra một môi trường trong sạch từ việc trồng cây
trồng này.
6.2. Giới và sản phẩm xã hội
Cả hai bộ phận sịnh học của cây khoai lang đã được sử dụng ở Việt Nam. Phần thân lá xanh sẽ làm
thức ăn gia súc và phần củ được một phần cũng được dùng cho gia súc và làm lương thực cho con
người. Động vật là một nguồn thu nhập quan trọng của nông dân của nhiều gia đình, cải tiến nguồn
gene sinh học khoai lang sẽ tạo ra nguồn lợi trực tiếp từ việc chă
n nuôi.

7. Những kết quả thực thi và xã hội
7.1. Những kết quả và sự thúc ép
Có sự đa dạng lớn về gene trong nguồn khoai lang tại Việt Nam với các dòng/giống được nhân vô tính
bằng ngọn hoặc các đoạn thân từ các cây được lựa chọn. Lai trực tiếp rất ít hoặc không được thực
hiện. Tuy nhiên, cách tiếp cận cải thiện quần thể trực tiếp có thể tăng cường sự thích nghi và năng suất
của các dòng/giống này.

7.2. Các lựa chọn
Khoai lang là cây trồng giao phấn tự do có bộ nhiễm sắc thể (2n = 6X = 90) và là cơ hội tốt để chọn ra
những giống tốt hơn khi sử dụng phương pháp lai tạo có định hướng. Các dòng có nguồn gene phù
hợp sẽ là chìa khoá cho sự thay đổi nguồn gene (determined using DNA fingerprinting) tạo ra sự gắn
kết theo cách làm này và việc sử dụng các công nghệ tiên tiến.
7.3. Sự xác nhận
Tại Mỹ (USA) có mối quan tâm về việc ít tính đa dạng gen hiện có trong khoai lang hiện diện trong


11
Phụ luc A

Hội Thảo về “Phân tích Enzyme của khoai lang và sự chuyển hoá nông sản”
tiến hành tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm từ 17-19/2/2009

Mục tiêu: Nhằm chứng minh mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành phân tích enzyme của
nông sản.

Phân tích Enzyme được sử dụng hầu hết trên toàn cầu trong công nghiệp chế biến thực phẩm dduwocj
xem như là phương pháp lựa chọn bởi vì tính tiện lợi của chúng, tính
đặc chưng riêng biệt và thiếu sự
giao thoa từ những cấu thành khác của mẫu được phân tích. Sự phù hợp với tính thương mại của các
mẫu kits cho các phép thử đơn giản. Ngoài ra lý thuyết cơ bản đã được nhận thức. Mục tiêu của hội
thảo nhằm giới thiệu cho các nhà khoa học tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm nắm được
enzyme kits. Có khoảng 15 thành viên tham dự khoá học, hầu hế
t họ làm việc tại phòng thí nghiệm
của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Loại kits được sử dụng từ Megazyme International, nó đã
được thế giới công nhận trong lĩnh vực nông sản.

Các bài giảng
- Lý thuyết phân tích hoá sinh
- Sử dụng enzyme trong phân tích
- Phân tích đơn - oligo- và đường đa
- So sánh các phương pháp phân tích
- Báo cáo kết quả

Về bài giảng thực hành nhằm đưa ra các bước thự
c hiện.


Chủ nhật ngày 12/4/2009: Thăm quan RAS Easter Show
Phái đoàn Việt Nam đã đến thăm Hội chợ Nông nghiệp Xã hội Hoàng gia và xem các sản phẩm nông
nghiệp về trồng trọt và chăn nuôi. Đoàn đã có những trao đổi và có những đề nghị về việc đưa ra và
giới thiệu những sản phẩm t
ốt cho nông nghiệp Úc và cơ hội tác động với người sản xuất.

Thứ hai ngày 13/4/2009: Thăm Trường Đại học Sydney Viện chọn giống cây trồng và khái quát
về sản xuất rau ở peri-urban tại vùng Camden
Một chuyến thăm phòng thí nghiệm, đồng ruộng và nhà kính của Viện chọn giống cây trồng tại
Cobbitty, bao gồm một minh chứng thử nghiệm một vài giống khoai lang của Úc, đã được kiểm soát
chất lượ
ng của huyện Camden. Nhóm công tác thăm siêu thị chính xem sản phẩm rau sạch được bán
tại Úc.

Thứ ba ngày 14/4/2009: DArT P/L, Canberra, và NSW Department of Primary Industries
Elizabeth Macarthur Agricultural Institute, Menangle
Diversity Array Technologies (DArT) P/L là một Công ty kinh doanh tư nhân, điều đặc biệt là họ tự
phục vụ những kiểu gen, kiểu hình trong bản đồ cấu trú của nhóm cây trồng. Công ty luôn thu thập
phân tích toàn bộ genom có mối quan hệ với các markers phân tử. Tiêu cự nguồn trọng tâm của công
ty tập trung vào cây ngũ cốc, DArT đã đa dạng hoá trong một vài n
ăm gần đây và là một ngân hàng
gen của thế giới. Điều đó dự án đã lưu giữ trên 50 loài cây trồng bao gồm cả loài khoai lang từ CIP.
Đoàn đã được nghe bản báo cáo của Andrej Killian và Eric Huttner, Director và General Manager,
respectively, và đi thăm quan công ty bới nhà khoa học Peter Wenzl, Principal. Nhóm thăm quan đã có
ấn tượng với DArT và mong muốn tiếp cận với nguồn gen các loài cây trồng và quan sát điều đó có
thể phù hợp cho việc cải tiến cây trồng và loài rau bản đị
a của Việt Nam. Điều này đã góp phần đáng
kể trong quá trình thăm quan và phát triển sự hợp tác.


ông đã phát triển cho công việc thông qua quá trình hoạt động. Đoàn đã có ấn tượng với cấu trúc
bộ máy đơn giản, điều đó giảm bớt những chi phí bộ máy. Đoàn còn thăm một nơi sản xuất hoa
và hợp phần siêu thị quốc tế Flora, nơi đó sản xuất kinh doanh hoa hồng trông điều kiện nhà
kính có điều khiển các yếu tố ngoại cảnh.

Th
ứ sáu ngày 17/4/2009: Đến Trạm Nghiên cứu QDPI và trang trại sản xuất khoai lang,
Bundaberg
Russell McCrystal, Research Horticulturalist, Queensland Department of Primary Industries tại
Bundaberg, đã đưa ra báo cáo hấp dẫn về sản xuất khoai lang tại huyện Bundaberg, Tại đây chiếm
khoảng 90% trong tổng số 40.000 tấn khoai lang hàng năm của Úc. Ghi nhớ Ông Russell McCrystal,
một nhà nghiên cứu về Vườn của Bộ Công nghiệp của Queenland tại Bundaberg, đã giới thiệu về
chương trình kiểm định dịch bệnh (Pathogen Testing “PT”) của QDPI giúp nông dân sản xu
ất ra các
sản phẩm sạch bệnh. Mấy năm gần đây, việc áp dụng chương trình PT được xem như là yếu tố chủ
yếu giúp tăng gấp đôi năng suất khoai lang trong Quận lên đến 50 tấn/ha. Sự giảm năng suất ở nhiều
nơi trên thế giới là do sự tăng nhanh virus và nguồn bệnh gây ảnh hưởng khác. Jerry Lovatt, một
chuyên gia khuyến nông của QDPI, đã mô tả làm sao chương trình PT sản xuấ
t vật liệu địa phương
sạch bệnh virus trong PNG với sự giúp đỡ của ACIAR, và khả năng giá tăng năng suất khoai lang. Sau
đó, một số hợp phần khoai lang xung quanh Bundaberg đã tới thăm và học tập kinh nghiệm kỹ thuật
của trang trại, đất và quản lý nước, kỹ thuật trồng, thu hoạch, kỹ thuật rửa và đóng gói, quản lý sâu
bệnh hại, và cung cấp trong cả chuỗi giá trị củ
a người sản xuất. Thông qua một cuộc thẩm vấn đưa ở ra phần kết luận của chuyến tham quan, đã chỉ ra cho Đoàn Việt
Nam rằng, họ rất ấn tượng bởi:
- Quy mô, để hệ thống quản lý đất, công nghệ được tốt dựa vào khả năng của người sản xuất
- Nâng cao năng suất khoai lang tại huyện Bundaberg, cái đó đã tạo ra nhiề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status