1
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Báo cáo tiến độ Dự án
MS7: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ BA
Dự án CARD 030/06 VIE
Xây dựng chiến lược nâng cao tính cạnh tranh của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi ngành hàng nông sản:
trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi Ngày: 30/5/2009
1
Mục lục
1. Thông tin về Cơ quan nghiên cứu ________________________________________ 2
2. Tóm tắt Dự án __________________________________________________________ 3
3. Sơ lược việc thực hiện __________________________________________________ 3
4. Giới thiệu và Bối cảnh __________________________________________________ 4
5. Tiến độ thực hiện ______________________________________________________ 5
5.1 Những điểm nổi bật về hoạt động ___________________________________________ 5
5.2 Lợi ích cho những nhà sản xuất nhỏ_________________________________________ 9
5.3 Xây dựng năng lực _______________________________________________________ 9
5.4 Quảng bá, truyền thông ___________________________________________________ 9
5.5 Quản lý dự án __________________________________________________________ 10
6. Báo cáo về những vấn đề xuyên suốt _____________________________________ 10
01 tháng 5 năm 2007
Ngày kết thúc (ban đầu)
30 tháng 4 năm 2009
Ngày kết thúc (đã điều chỉnh)
30 tháng 9 năm 2009
Thời gian báo cáo
1 tháng 5 năm 2008 – 31 tháng 10 năm 2008
Đầu mối liên lạc
Tại Australia: Trưởng nhóm
Tên:
Bà Sally Marsh
Điện thoại:
+61 8 6488 4634
Vị trí:
Nghiên cứu viên chính
Fax:
+61 8 6488 1098
Tổ chức
Đại học Tây Úc
Email:
Tại Australia: Đầu mối liên lạc về hành chính
Tên:
Cô Jan Taylor
Điện thoại:
+61 8 6488 1757
Vị trí:
Cán bộ quản lý
Fax:
3. Sơ lược việc thực hiện
Công việc trong khoảng thời gian 6 tháng này (từ tháng 5-10 năm 2008) chủ yếu tập
trung vào việc thực hiện điều tra các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở miền
Bắc và miền Nam Việt Nam, và tiến hành chuyến khảo sát học tập tại Thái Lan.
Thời gian xây dựng và hoàn thành bảng hỏi doanh nghiệp thức ăn kéo dài hơn so với
dự kiến, nhưng đã được kiểm tra thử và hoàn thành vào cuối tháng 4 nă
m 2008. Cuộc
điều tra doanh nghiệp đã được thực hiện tại miền Nam Việt Nam trong thời gian suốt
tháng 5 năm 2008 (ở tỉnh Tiền Giang và Long An thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long, và tỉnh Bình Dương và Đồng Nai thuộc khu vực Đông Nam Bộ), sau đó là các
tỉnh phía Bắc trong suốt tháng 6 năm 2008 (ở Hà Nội, Hà Tây và Hưng Yên thuộc
khu vực đồng bằng sông Hồng). Tiến sĩ Brennan đã theo sát nhóm dự án của CAP tới
các tỉnh miền Nam để giám sát quá trình bắt đầu thực hiện điều tra.
Chuyến khảo sát học tập tại Thái Lan diễn ra từ ngày 9-13/6/2008. Đoàn đại biểu bao
của dự án tập trung vào: 1)thực hiệ
n điều tra các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi tại miền Bắc và
miền Nam Việt Nam (tháng 5 và 6 năm 2008); 2) nhập số liệu từ bảng hỏi điều tra và bắt đầu làm
sạch và phân tích số liệu; 3) tiến hành chuyến khảo sát học tập tại Thái Lan (tháng 6 năm 2008) và
vi
ế
t báo cáo cho chu
yế
n khảo sát nà
y;
4
)
chu
ẩ
n b
ị
côn
g
c
ụ
đi
ề
u tra các h
ộ
chăn nuôi.
4
Một bản báo cáo về các vấn đề chính và cuộc điều tra doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi
đã được nộp và chấp thuận như trong Milestone 4 (Chiến lược thu thập số liệu) trong
tháng 5/ 2008. Milestones 5 (Báo cáo tiến độ 6 tháng lần thứ 2) và 6 (báo cáo về
Dự án sẽ được thực hiện dựa trên sự kết hợp các khoá đào tạo, và các bài tập nghiên
cứu được giám sát có thu thập dữ liệu cần thiết, đi thực tế, phân tích và tổng hợp các
kết quả tìm được thành các báo cáo và các bản tóm lược chính sách. Việc đào tạo sẽ
tập trung vào xây dựng các kỹ năng và kinh nghiệm về phân tích thị trường, bao gồm
phân tích chuỗi giá trị, kinh tế học s
ản xuất, và tổ chức ngành hàng. Đi thực tế sẽ
được được tiến hành tại nhiều địa điểm kết hợp 3 vùng, Đồng bằng Sông Cửu Long,
Vùng Đông Nam và Đồng bằng Sông Hồng, để bao quát một diện rộng hoạt động của
các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi. Các bên liên quan ở địa phương sẽ được tham
gia suốt quá trình, và các kết quả thu được sẽ được phổ biến qua h
ội thảo diễn ra tại
từng vùng.
Các hoạt động cụ thể và sản phẩm theo mục tiêu của dự án sẽ bao gồm:
Mục tiêu 1: Xây dựng năng lực nghiên cứu marketing nông nghiệp cho IPSARD, đặc
biệt về nghiên cứu chuỗi giá trị, tổ chức ngành hàng, và kinh tế học sản xuất.
• Các khoá đào tạo ngắn hạn tại IPSARD về điều tra và kỹ thuật thu thập thông tin;
kỹ năng phân tích thị trường, bao gồm phân tích chuỗi giá trị, kinh t
ế học sản xuất,
và tổ chức ngành hàng.
5
• Đào tạo qua công việc cho cán bộ nghiên cứu của IPSARD về việc đánh giá tính
cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các doanh nghiệp khác
trong chuỗi giá trị thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.
• Phát triển cẩm nang về việc làm thế nào để tiến hành nghiên cứu tính cạnh tranh
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể được sử dụng trong các nghiên cứu khác
được tiến hành bởi IPSARD trong tươ
ng lai.
Thực hiện điều tra các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi:
Mục tiêu chính của cuộc điều tra doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi là cung cấp
một đánh giá định lượng về các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của ngành
thức ăn chăn nuôi Việt Nam. Các mục
đích cụ thể sau đã được giải quyết trong cuộc
điều tra này là:
• Thu thập số liệu về các đặc điểm của nhà máy thức ăn và các loại chi phí sản
xuất, sản phẩm đầu ra và giá bán theo các loại hình sở hữu, vùng và quy mô
nhà máy.
• Thu thập số liệu về bản chất của thông tin và luồng sản phẩm, các tiêu chuẩn
và quá trình kiểm soát chất lượng của các nhà máy chế biến th
ức ăn chăn nuôi.
Các nhà máy ở 7 tỉnh khắp đất nước đã được lựa chọn tham gia phỏng vấn, kéo dài từ
tháng 5-6/2008. Công việc thực địa đã được thực hiện tại 3 vùng sinh thái; ở các tỉnh
có các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi lớn nhất, bao gồm một bộ phận đại diện
6
các nhà máy ở phạm vi lớn. Các nhà máy thức ăn đã được điều tra tại Hà Nội, Hà Tây
và Hưng Yên thuộc Đồng bằng sông Hồng; Bình Dương và Đồng Nai thuộc khu vực
Đông Nam Bộ; và Tiền Giang và Long An ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ba
vùng này trước đó đã được xác định trong đề cương dự án, và 6 trên 7 tỉnh được nhóm
dự án và CARD nhất trí. Tỉnh Hưng Yên được đưa thêm vào do thiếu các doanh
nghiệp cùng loại
ở Hà Nội, xuất phát từ những thay đổi gần đây so với số liệu năm
2006 (dựa vào số liệu này việc lựa chọn tỉnh ban đầu đã được tiến hành).
Tiêu chí phân loại phân tầng được sử dụng để phân loại các nhà máy thành 5 quy mô
dựa trên công suất thiết kế (tấn/năm): (1) <5.000 tấn; (2): >=5.000 và <10.000 tấn;
(3): >=10.000 và < 20.000 tấn; (4): >=20.000 và <80.000 tấn; và (5): >=80.000. Số
lượng các nhà máy ở từng quy mô của từng tỉnh đượ
Đồng bằng sông Cửu Long
4 6.4
Tiền Giang
Đồng bằng sông Cửu Long
3 4.4
Tổng số
62 100 Trước mỗi cuộc điều tra, số liệu và thông tin thứ cấp được thu thập để nắm được tổng
quan chung về tình hình chăn nuôi và sử dụng thức ăn ở từng tỉnh cụ thể. Trong quá
trình điều tra, các cán bộ điều tra có kinh nghiệm làm việc dưới sự giám sát chặt chẽ
của nhóm dự án. Tuy nhiên, thông tin thu thập được đôi lúc không nhất quán giữa các
phần khác nhau của bảng h
ỏi do các vấn đề về tính bảo mật của một số loại thông tin
(ví dụ như chi phí sản xuất). Công việc kiểm tra và làm sạch số liệu đã được thực hiện
rất cẩn thận để đảm bảo các phần số liệu gộp có tính nhất quán (ví dụ đầu vào nguyên
liệu thô và sản phẩm đầu ra). Cụ thể, số liệu về sản lượng của nhiều doanh nghi
ệp
không khớp khi xem xét mối quan hệ với các số liệu liên quan về việc sử dụng đầu
vào, doanh thu và lợi nhuận. Do đó, mặc dù tổng số mẫu điều tra là 62 doanh nghiệp,
nhưng chỉ có số liệu của 44 doanh nghiệp được chấp nhận khi phân tích sản lượng đầu
ra (tức là khi phân loại doanh nghiệp theo quy mô).
Bảng 2 mô tả phân loại quy mô mẫu theo hình thức sở hữu và quy mô sản xuất của
các doanh nghiệ
p điều tra được phân loại dựa trên số liệu sản lượng tin cậy, và tỷ lệ
doanh nghiệp ở từng loại hình sở hữu. Khoảng 70% trong tổng số mẫu có thể được
Chuyến khảo sát học tập tại Thái Lan diễn ra từ ngày 9-13/6, 2008. Đoàn đại biểu bao
gồm một đại diện của cơ quan lập chính sách (Cục Chăn nuôi), một đại diện của Viện
nghiên cứu (Viện Nghiên cứu nông nghiệp miền Nam Việt Nam), một đại diện của
một doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành chăn nuôi và các thành viên của nhóm
nghiên cứu làm việc tạ
i Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp (CAP)/Viện
Chính sách Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) và các chuyên gia
của trường Đại học Tây Úc (UWA). Danh sách đoàn tham khảo trong phụ lục I. Ông
Teerasant Sirichayaporn, Chủ tịch Điều hành của Công ty Thức ăn chăn nuôi Thái
Lan (Thai Feed Mills Public Company Limited) và ông Pornsil Patchrintanakul, Chủ
tịch Hiệp hội các nhà máy thức ăn chăn nuôi Thái Lan đã đón tiếp đoàn.
Chuyến khảo sát học tập nhằm giúp nhóm nghiên cứu và các bên liên quan trong
ngành có sự hiểu biết hơn trong các lĩ
nh vực sau:
• Tình hình sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan;
• Sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi
tại Thái Lan; và
• Vai trò của chính sách công trong ngành thức ăn chăn nuôi tại Thái Lan.
Đoàn đã tiếp xúc gặp gỡ với Cục Phát triển Chăn nuôi Thái Lan, Văn phòng Chăn
nuôi khu vực của FAO, Hiệp hội các nhà máy thức ăn Thái Lan, và thăm quan các nhà
máy quy mô nhỏ và lớn và một trang trại chă
n nuôi bò sữa. Lịch trình làm việc của
đoàn tham khảo trong mục lục II. 8
Sau chuyến khảo sát này, tất cả các đại biểu trong đoàn đã đóng góp ý kiến để hoàn
thành bản Báo cáo thăm quan học tập, và nhóm nghiên cứu của Trung tâm Tư vấn
trên mức hòa vốn.
o Các SMEs Thái Lan cố gắng tìm kiếm các nguồn nguyên liệu địa phương càng
nhiều càng tốt, đồng thời tìm kiếm các nguyên liệu chất lượng tốt nhất với giá
thấp nhất có thể. Đây cũng là một vấn đề đáng lưu tâm cho các doanh nghiệp
Việ
t Nam vì Việt Nam có khả năng tự sản xuất các nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi.
o Các SMEs Thái Lan luôn có khả năng tìm được “thị trường ngách”, làm một
nhà sản xuất “hàng độc”, sử dụng các “nguyên liệu đầu vào đặc biệt”: nói cách
khác, luôn có thị trường cho thức ăn chăn nuôi chất lượng cao và chất lượng
thấp. SMEs có thể cạnh tranh bằng giá cả và dịch vụ sau bán hàng cho người
chăn nuôi.
o Một số
SMEs có mô hình hợp tác xã. Mô hình hợp tác xã Mualek – nơi cung
cấp đa dịch vụ cho các thành viên (ví dụ thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu,
marketing sản phẩm) là một ví dụ tốt cho ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam.
• Vai trò tiềm năng của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam (VFA)
o Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Thái Lan có vai trò rất tích cực về mặt chính sách.
Cần có sự thay đổi về cấu trúc của Hi
ệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam nếu
9
Hiệp hội muốn đóng vai trò tương tự như Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Thái
Lan. Chính phủ Việt Nam có chính sách khuyến khích sự tham gia tích cực
của khu vực tư nhân, vì thế một vai trò tích cực hơn của Hiệp hội thức ăn chăn
nuôi Việt Nam có thể được mong đợi trong tương lai.
5.2 Lợi ích cho những nhà sản xuất nhỏ
Tại giai đoạn này của dự án các nhà sản xuấ
t nhỏ chưa được hưởng lợi, tuy nhiên đây
tham gia của Tiến sĩ Brennan trong các buổi làm việc cả ngày và nửa ngày cùng với
cán bộ của CAP xây dựng kỹ năng làm sạch số liệu sử dụng STATA. Trong tháng 10,
Tiến sĩ Brennan và bà Marsh đã thiết kế các bảng đầu ra cho nhóm nghiên cứu của
CAP nhằm đưa ra định hướng cho việc phân tích số liệu sơ bộ. Tiến sĩ
Brennan và bà
Marsh sau đó cũng đã đưa ra phản hồi về các số liệu phân tích mà nhóm nghiên cứu
CAP cung cấp (dưới dạng bảng Excel) trước khi nhóm nghiên cứu bắt đầu công việc
viết báo cáo điều tra doanh nghiệp.
5.4 Quảng bá, truyền thông
Không có hoạt động quảng bá cụ thể nào trong thời gian báo cáo. 10
5.5 Quản lý dự án
Chúng tôi vẫn gặp một số khó khăn trong việc giữ đúng tiến độ của các báo cáo
Milestone, và khối lượng công việc của dự án trong thời gian báo cáo này và thời gian
sau đó là rất nặng, nhất là đối với nhóm CAP.
Tiến sĩ Donna Brennan xin nghỉ phép trông con từ tháng 1 đến hết tháng 5/2009. Đây
là nguyên nhân làm chậm việc hoàn thành dự án, vì đóng góp của Tiến sĩ là rất lớn
trong việc hoàn thành Milestone thứ 8 và 9. Do dự án khở
i động muộn, bà Marsh có
hợp đồng hiện tại với Đại học Tây Úc để làm việc cho dự án CARD (20% thời gian)
cho đến cuối tháng 9/2009. Chúng tôi đề xuất rằng ngày kết thúc dự án sẽ là
30/9/2009, với các Milestones 8, 9 và 10 được nộp trong tháng 8 hay tháng 9/2009
hoặc khi được hoàn thành.
Việc xác định các lựa chọn hỗ trợ từ Khoa Kinh tế Nông nghiệp và tài nguyên
(SARE), sau khi Tiến sĩ Greg Hertzler không còn làm việc ở đây, trở nên khó khăn
hơn. Cả Tiến sĩ Brennan và bà Marsh đ
Dự án khởi động muộn, và các vấn đề về nhân sự từ phía Úc đang đặt ra sức ép lên
thời gian hoàn thành dự án. Cụ thể, khi Tiến sĩ Brennan nghỉ phép trông con từ tháng
1 đến hết tháng 5/2009, chúng tôi đã đề nghị kéo dài thời gian kết thúc dự án và thay
đổi ngày nộp các Milestones 8, 9 và 10 từ ngày 31/4/2009 sang ngày 30/9/2009. Sự
thay đổi này sẽ giúp Tiến sĩ Brennan có thời gian làm việc để hoàn thành các hoạt
động trong các Milestone cuối cùng. Chúng tôi chưa yêu cầu xin thêm kinh phí.
Những diễn biến gần đây trong ngành thức ăn chăn nuôi thế giới, trong đó việc chi phí
năng lượng và nguyên liệu thô để sản xuất thức ăn tăng mạnh, có khả năng làm sai
lệch số liệu từ cuộc khảo sát các bên tham gia cũng như đặt áp lực lên các SMEs trong
ngành nói chung. Nhóm dự án nhận thức được áp lực lên ngành thức ăn chăn nuôi, và
cố gắng đánh giá số liệu phả
n ánh những thay đổi này.
7.2 Các lựa chọn
Với việc Tiến sĩ Donna Brennan làm việc tại CAP từ tháng 10 năm 2007 có nghĩa là
điều này sẽ có thể đem lại những buổi đào tạo ngắn cho các nhân viên chủ chốt của
CAP. Cách này có thể sẽ hữu dụng bởi vì nó có thể phù hơn với công việc bận rộn của
các thành viên trong nhóm dự án của CAP, và thực tế đã chứng minh sự hữu dụng
trong suốt thời gian làm sạch và phân tích số liệu.
7.3 Tính bền vững
Việc Tiến sĩ Brennan làm việc tại CAP đã đóng góp vào việc phát triển kỹ năng và
kiến thức áp dụng bởi các thành viên trong nhóm dự án, bằng việc thường xuyên tiến
hành các hoạt động theo dõi và phản hồi. Dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Brennan và
bà Marsh, nhóm nghiên cứu CAP đang tiến hành phân tích số liệu và viết báo cáo
(tiếng Anh) để đảm b
ảo rằng họ đang trong quá trình “vừa học vừa làm”.
8. Các bước quan trọng tiếp theo
Các hoạt động trong 6 tháng tiếp theo bao gồm:
• Hoàn thành triển khai điều tra các hộ chăn nuôi, điều tra thí điểm, thực hiện