Giáo trình TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ - Pdf 15

LỜI MỞ ĐẦU
Kế toán quản trị có bề dày phát triển ở các nước theo nền kinh tế thị trường,
nhưng đây là một lĩnh vực còn tương đối mới, bắt đầu được chú trọng từ khi Việt
Nam chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, khía cạnh pháp lý của kế toán quản trị chỉ được chính thức thừa nhận trong
Luật Kế toán có hiệu lực từ năm 2004. Do vậy, nghiên cứu bản chất, nội dung và
vận dụng kế toán quản trị trong điều kiện ở Việt nam là rất cần thiết để có thể triển
khai công tác kế toán quản trị trong các tổ chức.
Giáo trình này được biên soạn trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu kế toán
quản trị ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, đồng thời có kết hợp với
những qui định trong thông tư hướng dẫn kế toán quản trị ở Việt Nam. Giáo trình
được sử dụng cho sinh viên chuyên ngành kế toán và quản trị kinh doanh của
Trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Kết cấu của giáo trình bao gồm bảy
chương. Ngoài những phần có tính chất giới thiệu tổng quát về kế toán quản trị; các
chương còn lại được thiết kế theo quá trình của hoạt động quản lý: từ công tác
hoạch định đến tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định.
Chương 1 – Tổng quan về kế toán quản trị, do PGS.TS.Trương Bá Thanh biên
soạn
Chương 2 – Chi phí và phân loại chi phê, do Th.S. Lê Văn Nam biên soạn
Chương 3 – Tính giá thành trong doanh nghiệp, do TS.Trần Đình Khôi
Nguyên biên soạn
Chương 4 – Dự toán tổng thể doanh nghiệp, do PGS.TS. Trương Bá Thanh
biên soạn
Chương 5 – Kiểm soát doanh thu và chi phí, do PGS.TS.Trương Bá Thanh
biên soạn
Chương 6 – Phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận, do
TS.Trần Đình Khôi Nguyên biên soạn
Chương 7 – Thông tin kế toán và việc ra quyết định, do Th.S. Lê Văn Nam
biên soạn
Mặc dù có rất nhiều cố gắng trong biên soạn nhưng đây là một lĩnh vực còn
rất mới mẻ nên giáo trình không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng

trình ra quyết định ở mỗi lĩnh vực, mỗi bộ phận. Trong một doanh nghiệp, hệ thống
thông tin thường được tổ chức thành các hệ thống con sau đây:
• Hệ thống thông tin thị trường
• Hệ thống thông tin sản xuất
• Hệ thống thông tin tài chính
• Hệ thống thông tin nhân sự
• Hệ thống thông tin kế toán.
Các hệ thống con này không hoàn toàn độc lập với nhau, mà thường hỗ trợ và
chia xẻ thông tin với nhau, và cũng chia xẻ các nguồn lực chủ yếu của hệ thống. Đặc
biệt, các hệ thống thông tin con ở trên đều có mối quan hệ qua lại với hệ thống thông tin
kế toán. Các hệ thống thông tin đều phải huy động và sử dụng nhiều loại tài sản khác
-2-
nhau trong quá trình hoạt động của mình. Trong khi kế toán là quá trình theo dõi, thu
thập, xử lý nhằm cung cấp thông tin về tình hình và sự biến động của toàn bộ tài sản
trong doanh nghiệp; các hệ thống thông tin ở trên sẽ tham gia cung cấp dữ liệu đầu vào
cho hệ thống thông tin kế toán. Hệ thống thông tin kế toán có trách nhiệm xử lý thành
các thông tin phục vụ cho công tác quản lý. Ngoài ra các thông tin môi trường từ bên
ngoài cũng có một vai trò rất quan trọng trong quản lý doanh nghiệp.
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các hệ thống thông tin trong doanh nghiệp
1.2. Kế toán quản trị - hệ thống con của hệ thống kế toán
Trong phần này, trên cơ sở của các giải thích chung đối với hệ thống thông tin kế
toán của doanh nghiệp, chúng ta sẽ định vị thông tin kế toán và các thành phần của nó,
qua đó làm rõ các khái niệm liên quan.
Trong khung cảnh nghiên cứu ở trên, kế toán chỉ là một trong số nhiều hệ thống
thông tin khác nhạu. Nhưng hệ thống thông tin như là hệ thống kế toán không chỉ cung
cấp hình ảnh của doanh nghiệp cho bên ngoài mà còn phải được sử dụng như một công
cụ quản trị nội bộ. Hoạt động đầu tiên khi nghiên cứu một hệ thống thông tin là việc
nắm giữ thu thập thông tin. Trong quá trình này, thông tin phải được cấu trúc và đưa vào
trong các cơ sở dữ liệu để tiếp tục xử lý. Nó được sử dụng để thành lập các bảng báo cáo
theo các yêu cầu quản lý và được hình thành từ các phương pháp khác nhau. Trong mọi

nhà đầu tư, chủ nợ, khách hàng và tất cả những ai quan tâm đến doanh nghiệp. Những
người này tiếp nhận thông tin qua các báo cáo tài chính, như bảng cân đối kế toán, báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Mục tiêu của các báo cáo tài chính là cung cấp cho người ngoài doanh nghiệp bức
tranh tổng thể về tài chính của doanh nghiệp. Qua đó, người ngoài doanh nghiệp có thể
ra các quyết định liên quan đến việc đầu tư và trợ cấp tài chính. Như vậy, kế toán tài
chính với việc cung cấp các báo cáo tài chính cho người bên ngoài đóng vai trò quan
trọng trong việc tăng trưởng kinh tế và quản lý vĩ mô của nhà nước. Thông tin từ các
báo cáo tài chính là công khai và làm nền tảng để mọi cá nhân, tổ chức có thể ra quyết
định trong một môi trường kinh doanh thuận lợi.
Kế toán quản trị (Management Accounting) là bộ phận kế toán cung cấp thông
tin cho những nhà quản lý tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ. Khái
niệm về Kế toán quản trị được Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “là quá trình định dạng,
đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính
và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch
trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản
và quản lý chặt chẽ các tài sản này”. Những ngưòi bên trong doanh nghiệp rất đa dạng,
gọi chung là các nhà quản lý, nhưng nhu cầu thông tin của họ phản ánh một mục đích
chung là phục vụ quá trình ra quyết định nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Do nhu cầu thông
tin nội bộ rất đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp nên các báo cáo nội bộ do kế
toán quản trị cung cấp không mang tính tiêu chuẩn như báo cáo tài chính. Kế toán quản
trị đặt trọng tâm giải quyết các vấn đề quản trị của doanh nghiệp. Vì vậy, kế toán quản
trị phải thiết kế các thông tin kế toán sao cho nhà quản trị có thể dùng vào việc thực
hiện các chức năng quản trị.
Thoạt nhìn, kế toán quản trị có mục đích bổ sung cho kế toán tài chính, đây chỉ là
hai hệ thống con của một hệ thống kế toán, cả hai nhằm mục đích mô hình hoá thông tin
kinh tế của doanh nghiệp. Tuy nhiên chính nhu cầu bí mật các thông tin nội bộ đối với
người cạnh tranh và công khai các thông tin bên ngoài cho nhà tài trợ là động cơ chủ
yếu hình thành hai hệ thống con này. Nói một cách khác chính cạnh tranh làm xuất hiện
kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

Đầu ra trên thị trường
Đầu ra của cá nhân
Thông tin liên quan tài chính
Quan hệ bên ngoài Quan hệ nội bộ
Kế toán tài chính
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ
Thuyết minh BCTC
Kế toán quản trị
Báo cáo dự toán
Báo cáo giá thành
Báo cáo kiểm soát
doanh thu, chi phí, lợi
nhuận
Các báo cáo theo ngữ
cảnh để ra quyết định
dòng vào, dòng ra của doanh nghiệp. Như vậy, mô hình kế toán tài chính thực chất chỉ
cần theo dõi và tổ chức ghi chép các dòng vào và đầu ra của các dòng thông tin. Mô
hình như vậy cho phép giới thiệu hình ảnh của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định
đồng thời giới thiệu kết quả của doanh nghiệp trong các thời kỳ. Do vậy, có thể thấy
rằng kế toán quản trị quan tâm đến những thông tin vận hành trong các hộp đen nhằm
tạo ra nguồn lợi tốt nhất cho doanh nghiệp.
1.3. Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị
Cả hai hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị đều phục vụ cho công tác
quản lý nói chung, do vậy chúng phải có những đặc điểm giống, khác nhau và cũng có
các thông tin giao thoa lẫn nhau.
1.3.1. Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

báo cáo kế toán quản trị luôn thay đổi, tùy thuộc vào dạng quyết định và mong muốn
của nhà quản lý. Các nhà quản lý có thể sử dụng nhiều kỹ thuật kế toán quản trị để trợ
giúp khi ra quyết định.
Đặc điểm của thông tin kế toán. Thông tin của kế toán tài chính phản ánh những
sự kiện kinh tế tài chính đã xảy ra, còn thông tin của kế toán quản trị phản ánh những sự
kiện đã, đang và sắp xảy ra. Như vậy, chứng từ kế toán là những bằng chứng lịch sử
không thể thiếu đối với kế toán tài chính; nhưng không bắt buộc đối với kế toán quản trị.
Điều này dẫn đến thông tin kế toán quản trị chú trọng đến tính linh hoạt và kịp thời.
Trong khi thông tin kế toán tài chính phải chú trọng đến tính khách quan, chính xác.
Thông tin của kế toán tài chính thể hiện dưới hình thái giá trị còn thông tin của kế toán
quản trị không chỉ thể hiện dưới hình thái giá trị mà còn dưới hình thái hiện vật hoặc các
hình thái phi tiền tệ khác.
Tần số báo cáo và thời gian báo cáo. Báo cáo tài chính cung cấp cho người
ngoài theo thời gian đã qui định, thường định kỳ vào cuối quí và cuối năm. Ngược lại,
kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên liên tục vào bất kỳ thời điểm nào tùy
thuộc yêu cầu của nhà quản lý: đột xuất, hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng
Phạm vi báo cáo. Báo cáo tài chính phản ánh hoạt động kinh doanh - tài chính
của toàn doanh nghiệp. Ở các công ty đa quốc gia, báo cáo tài chính còn thể hiện họat
động theo từng khu vực, từng vùng. Ngược lại báo cáo kế toán quản trị thường phản ánh
một mặt, một phần của họat động kinh doanh ở doanh nghiệp. Kế toán quản trị vì thế
gắn liền với phân cấp quản lý trong doanh nghiệp.
Tính pháp lý của việc tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản trị. Do kế toán
tài chính cung cấp các báo cáo tài chính cho người bên ngoài nên kế toán tài chính phải
được chuẩn hóa và có tính pháp lệnh cao. Nghĩa là, mọi doanh nghiệp đều phải tổ chức
bộ phận kế toán tài chính và công khai các báo cáo tài chính ra bên ngoài. Trong khi đó,
kế toán quản trị được tổ chức tùy thuộc vào yêu cầu của quản lý và khả năng của bộ
phận kế toán doanh nghiệp, do vậy các thông tin này không cần thiết phải chuẩn hóa và
có thể có đơn vị không tổ chức bộ phận này trong nội bộ doanh nghiệp.
-7-
Bảng 1.1 Sơ đồ so sánh kế toán tài chính và kế toán quản trị

phận kế toán đều có mối liên hệ trách nhiệm với bộ phận sử dụng và phân tích thông tin.
Kế toán tài chính quan tâm đến trách nhiệm đối với người bên ngoài, còn kế toán quản
trị quan tâm đến trách nhiệm đối với doanh nghiệp. Sự quan tâm này còn liên quan đến
từng cá nhân, phòng ban, tổ đội để tăng cường công tác kiểm soát chi phí. Do vậy, khi
bàn đến kế toán quản trị, chúng ta thường gặp khái niệm kế toán trách nhiệm.
- Cả hai đều dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, tức là dựa vào
nguồn số liệu ban đầu thống nhất để xử lý thông tin theo những đặc thù riêng của mình.
Sẽ rất lãng phí nếu doanh nghiệp xây dựng hai hệ thống thu thập dữ liệu khác nhau. Với
hệ thống ghi chép ban đầu này, kế toán tài chính sẽ sử dụng để lập các báo cáo tài chính
cho bên ngoài. Ngược lại, kế toán quản trị sẽ sử dụng để lập các báo cáo nội bộ.
Phân chia hệ thống kế toán thành kế toán tài chính và kế toán quản trị không có
nghĩa chỉ có kế toán quản trị tham gia vào họat động quản lý của doanh nghiệp. Công
việc theo dõi tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu của kế toán tài chính cũng là công cụ
hỗ trợ cho công tác quản lý tại doanh nghiệp. Những điểm khác nhau và giống nhau đã
phân tích ở trên có thể minh họa qua sơ đồ sau về mối quan hệ giữa Kế toán tài chính,
Kế toán quản trị và Kế toán chi phí
1
:
1
Charles T. Horngren, Cost Accounting, tr.4, 1991, Prentice Hall
-8-
KT KT KT
tài chính chi phí quản trị
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa Kế toán tài chính và Kế toán quản trị
Theo sơ đồ trên, kế toán chi phí là phần giao của kế toán tài chính và kế toán
quản trị. Nội dung của kế toán chi phí là tập hợp, phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất
định của kế toán tài chính và kế toán quản trị. Với kế toán tài chính, kế toán chi phí là
cơ sở xác định chi phí và thu nhập thể hiện trên báo cáo lãi lỗ kinh doanh trong kỳ kế
toán. Với kế toán quản trị, kế toán chi phí được sử dụng để tính giá sản phẩm, dịch vu
hoặc chi phí theo từng nơi hoạt động, lập dự toán , làm cơ sở để phân tích chi phí và ra

như nhiệm vụ của từng bộ phận.
Thực hiện chức năng này, kế toán quản trị phải tổ chức việc thu thập các thông
tin cần thiết để lập dự toán gồm thông tin về tổ chức, về định mức, về chi phí tiêu chuẩn,
các thông tin kế toán tài chính, thống kê cũng như kỹ thuật tính toán, ước tính phục vụ
cho việc lập dự toán ở doanh nghiệp.
Qua các dự toán này, nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trong tương
lai, kể cả những điều bất lợi, thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự
toán. Các dự toán này đóng vai trò hạt nhân quan trọng trong việc thực hiện các chức
năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản trị. Thực hiện mục tiêu này kế toán quản
trị phải có chức năng truyền đạt các thông tin dự toán, và thông tin khác cho bộ phận
liên quan trong nội bộ doanh nghiệp. Dự toán này phải được lập một cách toàn diện đầy
đủ tất cả các bộ phận bao gồm cả dự toán tổng thể và dự toán đầu tư.
2.3. Kiểm tra, đánh giá và cổ động
Kế toán quản trị có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh
doanh từ trước, trong và sau quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Kiểm tra là quá trình so sánh kết quả thực hiện với dự toán được lập nhằm điều
chỉnh dự toán và đánh giá việc thực hiện. Thông qua kết quả so sánh cho thấy sự khác
nhau giữa thực hiện với dự toán đã lập, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng để có thể
điều chỉnh quá trình thực hiện cũng như đánh giá được kết quả, thành tích của từng cá
nhân, bộ phận. Trên cơ sở đó, các nhà lãnh đạo mới có thể có các bộ phận hỗ trợ, cổ
động đến các nhân viên, các bộ phận trong doanh nghiệp.
Việc kiểm tra, kiểm soát của kế toán quản trị được thực hiện thông qua hệ thống
kiểm soát nội bộ trong cơ cấu tổ chức hoạt động và các quy định quản lý nội bộ của
doanh nghiệp. Và, hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện qua việc phân công, phân
cấp quản lý cũng như trách nhiệm quản lý của từng bộ phận, từng tổ, đội, từng khâu của
công việc.
-10-
Sơ đồ 1.4. Sơ đồ thể hiện chức năng quản trị
2.4. Hỗ trợ ra quyết định
Ra quyết định là một công việc thường xuyên ảnh hưởng đến mọi hoạt động của

Kiểm
soát,
đánh giá
Hỗ trợ ra
quyết
định
khoa học. Trong công việc này nhà quản trị phải liên kết các mục tiêu cụ thể lại với
nhau và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực sẵn có. Chức năng này chỉ có thể
được thực hiện tốt có hiệu quả, và có tính khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở
các thông tin phù hợp, hợp lý do bộ phận kế toán quản trị cung cấp. Như vậy kế toán
quản trị phải cung cấp thông tin cần thiết để các nhà quản lý ra các quyết định ngắn hạn
và dài hạn, đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Một kế hoạch phản ánh một quyết định: làm
thế nào để đạt một mục tiêu cụ thể nào đó.
Chức năng tổ chức bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin
về các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện kế
hoạch đó. Thực hiện chức năng này, nhà quản trị phải liên kết giữa các bộ phận, giữa
các cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp lại với
nhau để có thể thực hiện được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả. Vì thế, nhà quản trị
phải cần các thông tin khác nhau do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó kế toán quản trị sẽ
cung cấp thông tin chủ yếu liên quan đến kinh tế, tài chính. Kế toán quản trị sẽ dự đoán
nhiều tình huống khác nhau của các phương án khác nhau để nhà quản trị xem xét đề ra
các quyết định trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như điều hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh theo các mục tiêu chung. Ví dụ: để định giá sản phẩm mới, các nhà
quản lý sẽ dựa vào thông tin do kế toán quản trị cung cấp để đảm bảo rằng mối quan hệ
giữa giá bán và chi phí hài hòa với chiến lược marketing của đơn vị.
Tóm lại, với chức năng này, công việc của nhân viên kế toán quản trị và nhà quản
lý gắn liền với nhau để thực hiện các quyết định hàng ngày. Ngược lại, chức năng này là
cơ sở để kế toán quản trị thực hiện tốt kế toán trách nhiệm, đồng thời tạo lập ra những
dòng thông tin trong doanh nghiệp.
Sau khi đã triển khai thực hiện các kế hoạch, công việc kiểm tra, kiểm soát nhằm

3.2. Sự cần thiết của kế toán quản trị ở Việt nam
Ở các nước theo nền kinh tế thị trường, vai trò của kế toán quản trị ngày càng
được mở rộng. Có những lý do chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển của lĩnh vực
kế toán này như sau:
- Phương pháp sản xuất đã thay đổi nhanh chóng trong hai thập niên qua, đặc biệt
là khả năng sản xuất tự động hóa cũng như cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng
gia tăng trên toàn cầu. Do vậy, các nhà quản lý phải đương đầu với các vấn đề định giá
và tính giá các sản phẩm và dịch vụ.
- Các mô hình quản lý và mô hình ra quyết định cũng thay đổi nhờ sự phát triển
của công nghệ thông tin và các công cụ phân tích định lượng, như: phân tích xác xuất, lý
thuyết ra quyết định, Những công cụ này ngày càng được áp dụng phổ biến khi ra
quyết định ở các doanh nghiệp.
Như vậy, những chuyển biến trên đặt ra nhu cầu thông tin ngày càng cao trong
công tác quản lý. Một doanh nghiệp sẽ tồn tại nếu doanh nghiệp đó thích ứng, đối phó
nhanh chóng và kịp thời với mọi thử thách mới trên thị trường. Chính vì vậy, kế toán
quản trị ngày càng giữ được vị trí quan trọng.
Ở nước ta, từ trước đến nay khái niệm kế toán quản trị hoàn toàn mới mẻ.
Chuyển sang cơ chế thị trường với sự điều tiết của nhà nước, sự hình thành kế toán quản
trị trong bộ phận kế toán là rất cần thiết vì những lý do sau:
-13-
- Một là, hiện nay các doanh nghiệp được giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh.
Môi trường cạnh tranh đã hình thành ở Việt nam, giữa doanh nghiệp trong nước với
nhau, giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân và với các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, do vậy các thông tin nội bộ do hệ thống kế toán quản trị cung cấp tất yếu
phải được hình thành.
- Hai là, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể để phù hợp với
các thông lệ kế toán quốc tế, theo đó hệ thống tài khoản kế toán mới cùng với các chuẩn
mực kế toán đã hình thành. Đây là cơ sở để từng bước xây dựng kế toán quản trị độc lập
với kế toán tài chính.
Tất cả những lý do trên yêu cầu các nhà quản lý của các doanh nghiệp ở nước ta

là một đối tượng cụ thể của kế toán quản trị.
Với các đối tượng nghiên cứu như vậy, kế toán quản trị mới cung cấp thông tin về
mọi khả năng có thể xảy ra để chọn lựa khả năng tối ưu nhằm hỗ trợ cho quá trình quản
trị doanh nghiệp.
4.2. Đặc điểm các phương pháp của kế toán quản trị
Là một bộ phận trong hệ thống kế toán doanh nghiệp, kế toán quản trị cũng có
những phương pháp xử lý thông tin để đáp ứng nhu cầu của các nhà quản lý. Phương
pháp kế toán quản trị có những đặc điểm sau:
- Phương pháp kế toán quản trị không thể tách rời với những phương pháp cơ bản
của kế toán: đó là lập chứng từ, ghi sổ, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán. Vì kế toán
quản trị thực chất cũng là việc ghi chép được tách ra từ bộ phận kế toán, nó được hình
thành và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Tuy
nhiên, kế toán quản trị không cần phải thống nhất như kế toán tài chính vì chỉ phục vụ
cho nội bộ, nên phương pháp của kế toán quản trị thường linh hoạt theo từng doanh
nghiệp.
- Việc lựa chọn phương pháp kế toán quản trị để xử lý thông tin phải đáp ứng yêu
cầu thông tin của nhà quản lý tại doanh nghiệp. Do hoạt động quản lý có nhiều chức
năng như hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định nên sẽ có những
phương pháp xử lý thông tin riêng để phục vụ từng chức năng trên.
- Hệ thống sổ sách kế toán quản trị được kết hợp với hệ thống sổ sách kế toán chi
phí trong kế toán tài chính.
- Do thông tin kế toán quản trị còn phản ánh các sự kiện kinh tế trong tương lai
nên khi dùng thước đo giá trị cần quan tâm đến loại giá: giá lịch sử, giá tương lai, giá
hiện hành, hiện giá Mỗi loại giá sẽ có những vai trò khác nhau trong xử lý thông tin
và dạng ra quyết định.
- Phương pháp kế toán quản trị còn tùy thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất và
quản lý tại doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có mức độ phân cấp quản lý cao, gắn trách
nhiệm của từng bộ phận trong quá trình kinh doanh sẽ đòi hỏi vận dụng phương pháp kế
toán phù hợp. Các trung tâm phân tích (các đối tượng phân tích), hệ thống các tiêu thức
phân bổ chi phí sẽ tùy thuộc vào tổ chức sản xuất và quản lý tại doanh nghiệp.

-16-
Chương 2. CHI PHÍ VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ
Như đã trình bày ở chương 1, vai trò của kế tốn quản trị ngày càng được khẳng
định và nó được xem như là một trong những cơng cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý
nội bộ doanh nghiệp. Để thực hiện tốt cơng việc quản lý, từ khâu lập kế hoạch bao gồm
việc xác định các mục tiêu của doanh nghiệp cũng như xác định các phương tiện để đạt
được các mục tiêu đó, đến việc kiểm tra, phân tích và ra các quyết định, các nhà quản trị
phải cần đến rất nhiều thơng tin. Tuy nhiên, trong đó, thơng tin về tiềm lực và tổ chức
nội bộ của doanh nghiệp do kế tốn quản trị cung cấp là bộ phận quan trọng nhất, quyết
định chất lượng của cơng tác quản lý.
Xét từ phương diện kế tốn, thơng tin chủ yếu nhất mà kế tốn quản trị xử lý và
cung cấp cho các nhà quản trị là thơng tin về chi phí. Trong q trình kinh doanh của
các doanh nghiệp, chi phí thường xun phát sinh, gắn liền với mọi hoạt động và có ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được. Hơn nữa, trên giác độ quản lý, chi phí phần lớn
phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhà quản trị, do vậy,
kiểm sốt và quản lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu của họ. Chỉång ny nghiãn
cỉïu vãư chi phê v cạc cạch phán loải chi phê khạc nhau nhàòm hiãøu r hån vãư chi phê trong
doanh nghiãûp, lm cå såí âãø triãøn khai näüi dung cạc chỉång sau.
1. KHÁI NIỆM VỀ CHI PHÍ V CÁC TIÊU THỨC PHÂN LOẠI CHI PHÍ
Chi phí được định nghĩa là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo ra
các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ. Như vậy, nội dung của chi phí rất đa dạng.
Trong kế tốn quản trị, chi phí được phân loại và sử dụng theo nhiều tiêu thức khác
nhau nhằm cung cấp những thơng tin phù hợp với nhu cầu đa dạng trong các thời điểm
khác nhau của quản lý nội bộ doanh nghiệp. Thêm vào đó, chi phí phát sinh trong các
loại hình doanh nghiệp khác nhau (sản xuất, thương mại, dịch vụ) cũng có nội dung và
đặc điểm khác nhau, trong đó nội dung chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thể hiện
tính đa dạng và bao qt nhất.
Vç l do âọ, näüi dung chênh ca chỉång ny sẽ nghiên cứu các cách phân loại chi
phí trong các doanh nghiệp sản xuất. Âãø thäng tin vãư chi phê cọ tạc dủng låïn cho cäng
tạc quản l nọi chung v qun trë chi phê nọi riãng, chi phê trong doanh nghiãûp âỉåüc xem

Chi phớ sn xut chung l cỏc chi phớ phc v v qun lý quỏ trỡnh sn xut sn
phm phỏt sinh trong phm vi cỏc phõn xng. Khon mc chi phớ ny bao gm: chi phớ
vt liu phc v quỏ trỡnh sn xut hoc qun lý sn xut, tin lng v cỏc khon trớch
theo lng ca nhõn viờn qun lý phõn xng, chi phớ khu hao , sa cha v bo trỡ
mỏy múc thit b, nh xng, chi phớ dch v mua ngoi phc v sn xut v qun lý
phõn xng, v.v
Ngoi ra, trong k toỏn qun tr cũn dựng cỏc thut ng khỏc: chi phớ ban u
(prime cost) ch s kt hp ca chi phớ nguyờn liu, vt liu trc tip v chi phớ nhõn
-18-
cụng trc tip; chi phớ chuyn i (conversion cost) ch s kt hp ca chi phớ nhõn
cụng trc tip v chi phớ sn xut chung.
2.2. Chi phớ ngoi sn xut
õy l cỏc chi phớ phỏt sinh ngoi quỏ trỡnh sn xut sn phm liờn quan n qỳa
trỡnh tiờu th sn phm hoc phc v cụng tỏc qun lý chung ton doanh nghip. Thuc
loi chi phớ ny gm cú hai khon mc chi phớ: Chi phớ bỏn hng v chi phớ qun lý
doanh nghip.
Chi phớ bỏn hng:
Khon mc chi phớ ny bao gm cỏc chi phớ phỏt sinh phc v cho khõu tiờu th
sn phm. Cú th k n cỏc chi phớ nh chi phớ vn chuyn, bc d thnh phm giao
cho khỏch hng, chi phớ bao bỡ, khu hao cỏc phng tin vn chuyn, tin lng nhõn
viờn bỏn hng, hoa hng bỏn hng, chi phớ tip th qung cỏo, .v.v
Chi phớ qun lý doanh nghip:
Chi phớ qun lý doanh nghip bao gm tt c cỏc chi phớ phc v cho cụng tỏc t
chc v qun lý quỏ trỡnh sn xut kinh doanh núi chung trờn giỏc ton doanh
nghip. Khon mc ny bao gm cỏc chi phớ nh: chi phớ vn phũng, tin lng v cỏc
khon trớch theo lng ca nhõn viờn qun lý doanh nghip, khu hao ti sn c nh
phc v cho qun lý doanh nghip, cỏc chi phớ dch v mua ngoi khỏc, v.v
3. PHN LOI CHI PH THEO MI QUAN H GIA CHI PH VI LI
NHUN XC NH TNG K
Khi xem xột cỏch tớnh toỏn v kt chuyn cỏc loi chi phớ xỏc nh li tc

mc hot ng nh: khi lng cụng vic ó thc hin, khi lng sn phm sn
xut, s gi mỏy hot ng,v.v Khi xem xột cỏch ng x ca chi phớ, cng cn phõn
bit rừ phm vi hot ng (operating range) ca doanh nghip vi mc hot ng
(operating levels) m doanh nghip t c trong tng k. Phm vi hot ng ch rừ
cỏc nng lc hot ng ti a nh cụng sut mỏy múc thit b, s gi cụng lao ng ca
cụng nhõn, m doanh nghip cú th khai thỏc, cũn mc hot ng ch cỏc mc hot
ng c th m doanh nghip thc hin trong mt k trong gii hn ca phm vi hot
ng ú.
Khi núi n cỏch ng x ca chi phớ, chỳng ta thng hỡnh dung n mt s thay
i t l gia chi phớ vi cỏc mc hot ng t c: mc hot ng cng cao thỡ
lng chi phớ phỏt sinh cng ln v ngc li. Tuy nhiờn, loi chi phớ cú cỏch ng x
nh vy ch l mt b phn trong tng s chi phớ ca doanh nghip. Mt s loi chi phớ
cú tớnh cht c nh, khụng ph thuc theo mc hot ng t c trong k, v
ngoi ra, cng cú mt s cỏc chi khỏc m cỏch ng x ca chỳng l s kt hp ca c
hai loi chi phớ k trờn. Chớnh vỡ vy, xột theo cỏch ng x, chi phớ ca doanh nghip
c chia thnh ba loi: Chi phớ kh bin, chi phớ bt bin v chi phớ hn hp.
4.1 Chi phớ kh bin (Variable costs)
-20-
Chi phí khả biến là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỉ lệ với các mức
độ hoạt động. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra. Tổng số chi
phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt
động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi.
Nếu ta gọi:
a: Giá trị chi phí khả biến tính theo 1 đơn vị mức độ hoạt động.
x: Biến số thể hiện mức độ hoạt động đạt được.
Ta có tổng giá trị chi phí khả biến (y) sẽ là một hàm số có dạng: y = ax
Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến theo mức độ hoạt động như
sau:
Y (Biến phí)


mức nhất định nào đó, và tương tự, sẽ giữ nguyên cho đến khi cường độ lao động của họ
gia tăng đạt đến một mức mới.
Đồ thị biểu diễn sự biến đổi chi phí khả biến cấp bậc có dạng như sau:
y
(Chi phí khả biến cấp bậc)
x
(Mức độ hoạt động)
Đồ thị 2.2. Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến cấp bậc
4.1.2 Dạng phi tuyến của chi phí khả biến và phạm vi phù hợp
Khi nghiên cứu cách ứng xử của chi phí khả biến như trên, chúng ta đã đặt giả
thiết có một mối quan hệ tuyến tính giữa chi phí khả biến với mức độ hoạt động. Tuy
nhiên, trong thực tế, có rất nhiều các chi phí khả biến không có quan hệ tuyến tính mà
biến đổi theo các dạng đường cong rất phức tạp. Với các chi phí thuộc dạng này, để
thuận tiện cho việc tính toán, lập kế hoạch và kiểm soát chi phí, người ta thường xác
-22-
định các “phạm vi phù hợp” (relevant range) để có thể nhận dạng cách biến đổi của
chúng theo dạng tuyến tính. Phạm vi phù hợp được hiểu là một khoảng giới hạn của các
hoạt động mà trong khoảng đó, mối quan hệ giữa chi phí biến đổi với mức độ hoạt động
có thể qui về dạng tuyến tính. Khi phạm vi phù hợp được xác định càng nhỏ thì đường
biểu diễn chi phí khả biến càng tiến dần về dạng đường thẳng, và do vậy mức độ tuyến
tính càng cao.

y (Chi phê khaí biãún)
Phạm vi hoạt động x (Mức độ hoạt
động)
Đồ thị 2.3. Dạng phi tuyến và phạm vi phù hợp.
4.2 Chi phí bất biến (Fixed costs)

doanh nghiệp, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu sự tác động
của các quyết định trong quản lý ngắn hạn. Có thể đưa ra nhận xét rằng, mọi cố gắng
trong việc cắt giảm các chi phí bất biến bắt buộc đến không là không thể được, cho dù là
chỉ trong một thời gian ngắn khi các quá trình sản xuất bị gián đoạn. Điểm mấu chốt
trong việc quản lý loại chi phí này là tập trung vào việc nâng cao hiệu suất sử dụng các
yếu tố vật chất và nhân lực cơ bản của doanh nghiệp.
4.2.2 Chi phí bất biến không bắt buộc (discretionary fixed costs)
Khác với các chi phí bất biến bắt buộc, các chi phí bất biến không bắt buộc
thường được kiểm soát theo các kế hoạch ngắn hạn và chúng phụ thuộc nhiều vào chính
sách quản lý hàng năm của các nhà quản trị. Do vậy, loại chi phí này còn được gọi là chi
phí bất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị. Thuộc loại chi phí này gồm chi phí
quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên, v.v
Với bản chất ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào ý muốn của người quản lý, các chi
phí bất biến không bắt buộc là đối tượng được xem xét đầu tiên trong các chương trình
tiết kiệm hoặc cắt giảm chi phí hàng năm của doanh nghiệp. Có thể nói, tính hợp lý về
sự phát sinh của các chi phí bất biến không bắt buộc, cả về chủng loại và giá trị, được
-24-
xem xột theo tng k l biu hin rừ nht cht lng cỏc quyt nh ca nh qun tr
trong qun lý chi phớ. Cỏc quyt nh nay luụn b rng buc bi s hn ch v qui mụ
vn cng nh bi cỏc mc tiờu tit kim chi phớ khụng ngng ca doanh nghip. Rt d
dn n cỏc quyt inh sai lm nu ngi qun lý khụng hiu thu ỏo c thự kinh
doanh ca doanh nghip, cng nh tỡnh hung c th cho vic ra quyt nh tng thi
k hot ng.
4.2.3 Chi phớ bt bin v phm vi phự hp
Qua nghiờn cu bn cht ca chi phớ bt bin, c bit l chi phớ bt bin khụng
bt buc, chỳng ta nhn thy cú th cú s khỏc nhau nhỏỳt õởnh v cỏc chi phớ bt bin
phỏt sinh hng nm. S phỏt sinh ca cỏc chi phớ bt bin ph thuc vo phm vi hot
ng ti a ca cỏc loi hot ng m chi phớ bt bin gn kốm theo. Chng hn, vi chi
phớ qung cỏo, mt dng ca chi phớ bt bin khụng bt buc, s phỏt sinh ca chỳng
ph thuc vo k hoch tng doanh s hng nm ca doanh nghip. Tng t nh vy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status