Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Xây dựng biện pháp nuôi tốt cho cá tra ở đồng bằng song Cửu Long, Việt Nam " - Pdf 15

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Báo cáo tổng kết dự án
Xây dựng biện pháp nuôi tốt cho cá tra ở
đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam
CARD 001/07/VIE
Báo cáo tổng kết
Ngày 30 tháng 8 năm 2010

Mục lục
1. Thông tin chung 1
2. Tóm tắt dự án 2
3. Tóm tắt quá trình làm việc 2
4. Bối cảnh và những thông tin chung 3
5. Tiến độ thực hiện 4
5.1 Kết quả nổi bật 4
5.2 Lợi ích đối với nông hộ nhỏ 10
5.3 Xây dựng năng lực 11
5.4 Thông tin tuyên truyền 12
5.5 Quản lý dự án 14

Báo cáo định kỳ
Tháng 6-12/2008

Địa chỉ liên hệ:
Tại Ôx-trây-lia: Trưởng nhóm
Họ và tên:
Geoff Gooley
Điện
thoại:
+61 3 5976 6218
Chức
danh:
Quản đốc dự án
Fax:
+61 3 5975 4943
Địa chỉ:
Phòng nghề cá, Vụ Công
nghiệp cơ sở Vic-to-ria
Email:
Tại Ôx-trây-lia: Hành chính
Họ và tên:
Pam Shrimpton
Điện thoại:
03 52580111
Chức
danh:
Quản lý kinh doanh

3. Tóm tắt
Báo cáo này sẽ trình bày các thành tựu, hoạt động mà dự án đã đạt được sau ba năm
thực hiện từ tháng 1/2008 đến tháng 11/2010 theo dự kiến. Báo cáo này cũng liên
quan đến công tác cuối cùng (công tác số #8) (đầu ra 2.2: Báo cáo tổng kết và đánh
giá dự án).
Trong giai đoạn này, các mục tiêu mà dự án đề ra đã được giải quyết và báo cáo đầy
đủ trong ba báo cáo tiến độ định kỳ 6 tháng (#1, 2 và 3) và một báo cáo hàng năm
(#4) cụ thể như sau:
1. Hoàn thành việc điều tra kinh tế xã hội, điều tra chuỗi thị trường, và phân tích
rủi ro của thực tế nghề nuôi cá tra cũng như công bố cơ sở dữ liệu mới có giá
trị phục vụ cho các mục đích kiểm tra trong tương lai.
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #1, 2, 3;
- Xem phụ lục B – Báo cáo đánh giá rủi ro.
2. Xây dựng và phổ biến sổ tay hướng dẫn biện pháp nuôi tốt (BMP) cho cá tra và
các tài liệu khuyến ngư liên quan nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, bao
gồm một số bài báo đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế và
trang web chuyên dụng của dự án trên website của NACA.
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #3, 4;

- Xem phụ lục E – Báo cáo đánh giá và kế hoạch (triển khai) đánh giá
5. Nâng cao năng lực cho người nuôi cá tra và các cán bộ tham gia thực hiện dự
án phía Việt Nam thông qua các chuyến thăm quan học tập Ấn Độ, Thái Lan
và Ôx-trây-lia.
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ #3.
6. Công bố 3 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế.
- Xem phụ lục A – Báo cáo tiến độ (báo cáo hàng năm) #4;
- Xem phụ lục F – Các bài báo đã công bố dựa trên kết quả điều tra cơ sở số
liệu.

4. Bối cảnh và những thông tin chung
Mục tiêu của dự án là:

• Xây dựng chương trình BMP cho vùng nuôi cá tra khu vực đồng bằng sông Cửu
Long trong một số lĩnh vực như công tác thực hành nuôi, quản lý sức khoẻ cá, lựa
chọn địa điểm, quản lý môi trường, quản lý đàn cá bố mẹ, chất lượng con giống,
thức ăn, cách cho ăn.
• Nâng cao năng lực cho các hộ nuôi quy mô nhỏ thông qua việc tạo điều kiện thuận
lợi để các hộ nuôi ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long dần thay đổi tập quán canh
tác và chấp nhận áp dụng BMP.
Kết quả chính của dự án:
• Đánh giá hiện trạng của nghề nuôi cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm
cả hiện trạng quản lý đàn cá bố mẹ tại trại giống và tập quán ương giống và nuôi cá
tra thương phẩm (trong ao hầm và lồng bè).
• Xây dựng và triển khai BMP cho vùng nuôi cá tra khu vực đồng bằng sông Cửu
Long cũng như tuyên truyền, phổ biến đến tất cả các bên liên quan.
• Đào tạo kỹ năng cho đội ngũ cán bộ làm công tác này tại Việt Nam, Ôx-trây-lia,
Thái Lan trong việc ứng dụng và triển khai BMP ở vùng nuôi cá tra khu vực đồng
bằng sông Cửu Long.
4

2. Xây dựng và phổ biến sổ tay hướng dẫn biện pháp nuôi tốt (BMP) cho cá
tra và các tài liệu khuyến ngư liên quan đến nuôi cá tra ở đồng bằng sông
Cửu Long, bao gồm một số bài báo đã được công bố và trang web chuyên
dụng của dự án trên website của NACA.
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ #3, 4
- Xem phụ lục 3 – Hướng dẫn BMP (dự thảo 2)
Sau công tác khảo sát nghề nuôi cá tra và đánh giá rủi ro, bản dự thảo BMP
đầu tiên được trình bày tại hội thảo cấp tỉnh về BMP cho các bên liên quan tại
Đồng Tháp và Cần Thơ năm 2009. Sau khi lấy ý kiến tại hai hội thảo, bản dự
thảo BMP trên đã được sửa đổi thành bản BMP số 2, được công bố cho các bên
liên quan nhằm phục vụ cho mục đích triển khai các mô hình thử nghiệm thí
5
điểm bao gồm cả tập huấn tại bốn tỉnh đồng bằng sông Cửu Long vào nửa đầu
năm 2010. Dựa trên kết quả điều tra đánh giá các mô hình thử nghiệm thí điểm
BMP, bản phác thảo BMP đã được sửa đổi cho phù hợp hơn và sẽ được công
bố tại hội thảo quốc gia về BMP. Bản dự thảo 3 sẽ lấy ý kiến đóng góp từ
những nong hộ thử nghiệm và hội nghị quốc gia, và sẽ được công bố trên trang
web của NACA. Chúng tôi nhấn mạnh rằng, bản BMP số 3 mặc dù được gọi là
bản “cuối cùng”, vẫn sẽ được xem là bản “dự thảo” bởi vì BMP sẽ phải được
liên tục đánh giá và hoàn thiện theo sự thay đổi về mặt kỹ thuật cũng như
nghiên cứu phát triển cũng như sáng kiến phát sinh trong nghề trong tương lai .
3. Tổ chức thành công hai hội thảo cấp tỉnh và hội thảo quốc gia về BMP cho
các bên liên quan.
- Xem phụ lục 1 – Báo cáo tiến độ #4
- Xem phụ lục 4 – Dự thảo chương trình hội thảo BMP cấp quốc gia
Tổ chức thành công 2 hội thảo cấp vùng về BMP cá tra cho các bên liên quan
tại tỉnh Đồng Tháp (5-6 tháng 10/2009) và tỉnh Cần Thơ (8-9 tháng 10/2009)
với sự tham gia của các hội nông dân nuôi cá tra, nhà máy chế biến, và đại diện
của các cấp chính quyền địa phương và trung ương (xem chương trình đính
kèm). Tại hội thảo, nhóm thực hiện dự án đã trình bày bản dự thảo BMP số 1

Tổng số 11 mô hình trình diễn thử nghiệm được triển khai tại 4 tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long gồm: 7 mô hình nuôi thương phẩm (ở Cần Thơ: 3 mô hình, ở
An Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long và Đồng Tháp: mỗi tỉnh 1 mô hình), 3 mô
hình ương (ở Đồng Tháp: 1 mô hình, ở Cần Thơ: 1 mô hình), 1 trại sản xuất
giống ở An Giang. Tài liệu khuyến ngư về BMP và những ưu điểm của phương
pháp tiếp cận theo nhóm trong việc quản lý ao hầm nuôi đã được nhóm thực
hiện dự án chuẩn bị và phân phát (xem phụ lục). Những mô hình trình diễn thử
nghiệm này được thực hiện trong suốt một chu kỳ nuôi khép kín từ tháng 2 đến
tháng 8/2010 nhằm mục đích trình diễn và đánh giá chất lượng và mức độ phù
hợp của bản dự thảo BMP, phục vụ cho hội thảo quốc gia dự kiến tổ chức vào
tháng 11 năm 2010. Các mô hình thử nghiệm này thực hiện tại trại giống, ương
và nuôi thương phẩm ở quy mô sản xuất lớn và nhỏ, quy mô công nghiệp.
Dự án đã tổ chức đánh giá hiệu quả các mô hình thử nghiệm thí điểm BMP vào
tháng 6,7/2010 nhằm xác định các yếu tố về kinh tế xã hội và môi trường chính
ảnh hưởng đến nghề nuôi cá tra và BMP tác động đến việc giải quyết những
yếu tố trên như thế nào. Khảo sát đánh giá cũng cung cấp thông tin để khuyến
khích người nuôi áp dụng và triển khai BMP trên diện rộng. Thông tin này
được sử dụng như một đầu vào chính để chuẩn bị cho kế hoạch đánh giá BMP
và như là một khung hoạt động để khuyến khích thay đổi phương thức nuôi cá
tra thông qua việc áp dụng và triển khai BMP.
Kết quả đánh giá này sẽ được sử dụng để xem xét và chỉnh sửa lại bản dự thảo
BMP trước khi trình bày tại hội thảo quốc gia về BMP dự kiến tổ chức tại An
Giang vào tháng 11/2010, cũng như đề xuất xây dựng chiến lược triển khai
BMP và đánh giá toàn diện dự án CARD (sau khi hội thảo quốc gia kết thúc).
Dự án CARD đã xây dựng kế hoạch đánh giá kết hợp với truyền thông BMP
và kế hoạch quản lý rủi ro và kiểm tra sự áp dụng BMP. Kế hoạch này sẽ được
cân nhắc và hoàn thiện tại hội thảo quốc gia về BMP dự kiến tổ chức vào tháng
11/2010, sau đó triển khai vào giai đoạn cuối của dự án CARD.
Để chuẩn bị cho việc lên kế hoạch đánh giá và triển khai kế hoạch truyền thông
BMP với tiêu đề “Hệ thống BMP” - dự án CARD đã xây dựng khung nhận

BMP cho nghề nuôi tôm. Chuyến thăm này ưu tiên tập trung thảo luận về
phương thức quản lý các Hiệp hội, Hội nghề nghiệp ở AP – một hiệp hội được
xem là một ví dụ tiêu biểu trên thế giới thúc đẩy việc áp dụng BMPs một cách
hiệu quả, cũng như khả năng tiếp cận những thị trường chính và mới.
• Tham gia chuyến thăm quan học tập gồm 8 nông dân đại diện cho những người
nuôi cá tra Việt Nam ở 4 tỉnh có nghề nuôi cá tra tập trung (trong đó chỉ có một
người đã từng đi nước ngoài), cán bộ quản lý nhà nước cấp huyện/tỉnh, và đại
diện nhóm thực hiện dự án (NACA, Đại học Cần Thơ, Viện 2).
• Thăm Hội Nghề cá Chinavasala – làng Chinavasala có 5 Hội nghề cá với 84
hội viên là nông dân tham gia. Mỗi hội viên có diện tích nuôi tôm là 1 ha. Làng
này bắt đầu nghề nuôi tôm từ giữa những năm 80, đến đầu thập niên 90,
khoảng 70-80% trang trại bị tấn công bởi virus gây bệnh đốm trắng và từ bỏ
nghề nuôi. Năm nay, với sự hỗ trợ của MPEDA (5.000 đô la Mỹ cho 5 Hội
nghề cá để mua bộ thử nhanh chất lượng nước và những trang thiết bị cần thiết
khác) và cơ sở kinh doanh đáng tin cậy (đầu tư giống theo yêu cầu), 5 Hội
nghề cá đã được thành lập và nghề nuôi tôm đã được phục hồi. Năm nay, chỉ
có 3 trong số 84 hộ nuôi bị bệnh tôm.
8
• Thăm Hội nghề cá Venketawara – 1 nhóm liên kết chặt chẽ với sự tham gia của
25 hộ nuôi. Điểm nổi bật của chuyến thăm này là sự chứng minh/minh hoạ
thực tế của hộ nuôi về những phương pháp đảm bảo an toàn sinh học, lưới
giăng bên trên ao để ngăn chim xâm nhập, tránh lây lan bệnh từ ao này sang ao
khác - cho tất cả hội viên của Hội nghề cá. Sự lựa chọn của hộ dân đó dựa trên
tình hình nuôi chung của cả tập thể, và điều này đã chứng minh cách làm của
NaCSA để có thể nhân rộng và tuyên truyền những phương pháp/biện pháp
mới nhằm cải thiện hệ thống canh tác hơn nữa thông qua Hội nghề cá.
• Thăm trại giống hợp đồng bán tôm cho các hiệp hội nuôi tôm: trại giống đặc
biệt này đã được chứng nhận và là “trại giống uy tín” được NaCSA lựa chọn để
cung cấp giống theo nhu cầu và yêu cầu của người nuôi trong khu vực. Trại sản
xuất giống này áp dụng biện pháp nuôi lưu giữ tách biệt đàn bố mẹ - những

nuôi thương phẩm. Ngân sách bổ sung của CARD sau khi được chấp nhận
thông qua vào tháng 6 năm 2010 đã hỗ trợ cho sự công bố 3 bài này. Những
trích dẫn chi tiết 3 bài này được thể hiện ở phần 5.4.
Những kết quả ban đầu sau chuyến khảo sát kinh tế xã hội được trình bày tại
hội nghị chuyên đề quốc tế về “Nuôi cá da trơn ở châu Á” tổ chức tại Đại học
Cần Thơ (CTU), thành phố Cần Thơ. Các đối tác của dự án phía Việt nam đã
công bố hai bài báo trên tạp chí chuyên ngành quốc tế là:
o Nuôi cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở đồng bằng sông Cửu
Long
Phan Lam T., Bui Tam M., Nguyen Thuy T.T., Gooley Geoff J., Ingram
Brett A., Nguyen Hao V., Nguyen Phuong T. De Silva Sena S., 2009. Hiện
trạng nuôi cá tra Pangasianodon hypophthalmus tại khu vực đồng bằng
sông Cửu Long, Việt Nam. Tạp chí Aquaculture, 296: 227-236.
o Sản xuất giống cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở đồng bằng
sông Cửu Long, Việt Nam
Bui, Tam M., Phan, Lam T., Ingram, B.A., Nguyen, Thuy T.T., Gooley, G.
J., Nguyen, Hao V., Nguyen Phuong V., De Silva, ,S. S., 2010. Phương
thức sản xuất giống cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở khu vực sông
Cửu Long, Việt Nam. Tạp chí Aquaculture, 306, 92-100
o Giáo sư Sena S De Silva (NACA) được mời trình bày bài phát biểu
mang tính chủ đạo có tựa đề “Nuôi cá tra: những thách thức cho sự phát
triển và bền vững: quan điểm của cơ quan liên chính phủ”. Các điểm
chính của bài phát biểu này được công bố trong bài báo dưới đây.
De Silva, S.S., Ingram, B.A., Phuong T. Nguyen, Bui Tam T., Gooley,
G.J., Turchini, G.M., 2010. Ước tính lượng Nitơ và Photpho từ các hầm
nuôi cá Tra thải ra sông Cửu Long. Ambio (đang in). có thể mua trực
tuyến: DOI 10.1007/s13280-010-0072-x
Tất cả các công bố về dự án bao gồm chi tiết các hoạt động chính và ấn phẩm của dự
án cũng như vai trò của BMP đối với nghề nuôi trồng thuỷ sản đang phát triển ở khu
vực châu Á Thái Bình Dương thường xuyên được đăng tải trên trang web chuyên

. Một vài hộ dân có hầm nuôi gần nhau đã thoả thuận
cùng nhau góp một phần đất cho mục đích giữ nước xả, bùn đáy ao trong suốt
vụ nuôi thay vì bơm thẳng ra sông Cửu Long mà không qua xử lý. Một số hộ
dân tiếp cận thông tin mới về giá cả thị trường dễ dàng hơn nhằm giúp họ đưa
ra quyết định thời điểm thu hoạch cũng như giá bán phù hợp nhất, làm giảm
chi phí sản xuất thông qua các kết quả hoặc thông tin thu được từ các hội thảo
của dự án hay các khoá tập huấn đầy sáng tạo do dự án tổ chức (như chuyến
thăm Ấn Độ).
• Yếu tố cộng đồng, vị thế xã hội và mục tiêu cuộc sống: Một số hoạt dộng của
dự án đã giúp các nông hộ quy mô nhỏ tích cực tham gia các hoạt động cộng
đồng như là nâng cao nhận thức quản lý môi trường qua việc thải nước, bùn, cá
chết, v.v. Vai trò của các nhóm/hội nông dân trong việc tạo ra mạng lưới người
nuôi không chỉ dừng lại ở phạm vi nuôi cá mà còn làm cho nhận thức cộng
đồng của các hộ nuôi quy mô nhỏ được nâng cao. Những hộ tham gia làm mô
hình thử nghiệm và điều tra khảo sát cho đến nay đã bộc lộ sự tự tin hơn khi ra
quyết định đầu tư cho nghề nuôi cá tra cũng như linh hoạt hơn, mạnh dạn hơn
khi đối mặt với những thách thức thường kỳ trong sản xuất và thị trường.v.v.
• Dự án đã khuyến khích và động viên các nông hộ quy mô nhỏ áp dụng những
phương thức canh tác tiên tiến như lịch cho ăn hỗn hợp giúp làm giảm chi phí
thức ăn và giảm lượng dinh dưỡng bị dư thừa (điểm nổi bật được nêu trong tài
liệu dự thảo BMP, trang 36). Những điểm mới trong phương thức canh tác này
đã được các nhóm hộ nuôi áp dụng. Kết quả là, ông Nguyễn Ngọc Hải -một
nông dân tiên tiến, trưởng Hợp tác xã nuôi cá tra xã Thới An (quản lý 36 thành
viên trên diện tích mặt nước 30 ha với 60 ao) đã được mời phát biểu tại hội
11
thảo các nhà tư vấn cấp vùng về “Quản lý thức ăn trong nuôi trồng thủy sản
quy mô nhỏ” tại Manila, Phillippine từ 14-17 tháng 9 do FAO tài trợ.
• Đối với một người nuôi quy mô nhỏ, việc được mời tham gia ở một hội thảo
các nhà tư vấn cấp vùng do FAO tổ chức là cơ hội hiếm hoi và cũng có thể đây
là lần đầu tiên xảy ra. Sự đánh giá cao của FAO và một thông điệp mạnh mẽ

cần thiết do nhà chế biến và nhập khẩu yêu cầu. Vai trò của hội nông dân, nhà
sản xuất và nhà chế biến quy mô công nghiệp là then chốt trong quá trình này
thông qua việc hình thành các mối quan hệ chuỗi giá trị mới. Điều này có thể
giúp những hộ nuôi quy mô vừa và nhỏ đạt được mối lợi về kinh tế như là một
đơn vị kinh doanh đơn lẻ, làm theo đúng các tiêu chuẩn cần thiết, có khả năng
đàm phán trực tiếp với nhà chế biến và/hoặc nhà nhập khẩu.
• Xây dựng năng lực cho các quan chức chính phủ như nhà hoạch định chính
sách và cán bộ khuyến ngư cấp tỉnh: một số nhà hoạch định chính sách và cán
12
bộ khuyến ngư cấp tỉnh đã tham gia vào các hoạt động của dự án CARD một
cách có hiệu quả như tham gia vào tất cả hội thảo, cuộc họp, đi thực địa, bao
gồm cả hội thảo cấp quốc gia về BMP vào tháng 11/2010 sắp tới. Những người
tham gia này hiểu rõ những chi tiết cụ thể của BMP cũng như vai trò mà họ
đang gánh vác trong việc thúc đẩy chiến lược triển khai BMP trực tiếp xuống
dân và với hội nông dân.
o Các nhà nghiên cứu, bao gồm thành viên nhóm dự án CARD ở Đại học
Cần Thơ, Viện nghiên cứu NTTS 2 đã hoàn thành xuất sắc một số đầu
ra về khoa học quan trọng làm nền tảng để viết nên 3 bài đánh giá khoa
học đăng trên tạp chí chuyên ngành quốc tế trong 12 tháng qua. Đồng
tác giả của những bài này là toàn bộ thành viên dự án nhưng người đóng
góp nhiều nhất là các cán bộ nghiên cứu của Viện nghiên cứu NTTS 2,
Đại học Cần Thơ. Đây là những bài công bố đầu tiên của các tác giả này
và cũng là lần đầu tiên các số liệu và phân tích số liệu được đưa ra.
Ngoài ra, nhóm cán bộ này cũng đóng góp cho Hội nghị NTTS toàn cầu
2010 bằng cách trình bày các áp phích và tham gia vào các nhóm làm
việc theo chủ đề. Những kinh nghiệm mới và kiến thức mà họ thu thập
được từ hội nghị này sẽ được chia sẻ cho các thành viên khác của dự án
ở Viên 2, Đại học Cần Thơ. Chuyến thăm Ôx-trây-lia của tiến sỹ Hảo và
tiến sỹ Phương đã cho họ những kinh nghiệm thực tế/mắt thấy tai nghe
về xây dựng và áp dụng BMP tại Ôx-trây-lia. Vì vậy một kế hoạch

Tra Việt Nam: phát hành 3.586 bản.
• Tổng số khoảng 27.264 tài liệu dự án được phát hành tính đến thời điểm hiện
nay.
Số lượng truy cập tính từ lần báo cáo trước (tính từ báo cáo tiến độ trước, 2009):

• Trang chủ dự án về BMP cá Tra: 4.502 lượt
• Trang tin
o Tin: Khởi động dự án BMP cá Tra Việt Nam: 862 lượt.
o Tin: Xây dựng BMP cho cá Tra ở Việt Nam - kết quả điều tra phương
thức quản lý: 549 lượt.
o Tin: Hội thảo xây dựng BMP cho cá Tra tổ chức ở đồng bằng sông Cửu
Long tại Việt Nam: 5.564 bản.
o Tin cập nhật: Cá Tra Việt Nam – BMP: 1.561 lượt truy cập từ
10/6/2010.
• Bài viết trên tạp chí Aquaculture Asia: Thực hành quản lý nuôi tốt hơn cho cá
Tra Việt Nam: phát hành 340 bản.
• Tổng số khoảng 13.378 tài liệu dự án được phát hành tính từ lần báo cáo trước.
Các bài báo đã được chấp nhận đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong giai đoạn
này là:
o De Silva, S.S., Ingram, B.A., Phuong T. Nguyen, Bui Tam T., Gooley,
G.J., Turchini, G.M., 2010. Ước tính lượng Nitơ và Photpho từ các hầm
nuôi cá Tra thải ra sông Cửu Long. Ambio (đang in). có thể mua trực
tuyến: DOI 10.1007/s13280-010-0072-x
o Bui, Tam M., Phan, Lam T., Ingram, B.A., Nguyen, Thuy T.T., Gooley,
G. J., Nguyen, Hao V., Nguyen Phuong V., De Silva, ,S. S., 2010.
Phương thức sản xuất giống cá tra Pangasianodon hypophthalmus ở
khu vực sông Cửu Long, Việt Nam. Tạp chí Aquaculture, 306, 92-100
o Phan Lam T., Bui Tam M., Nguyen Thuy T.T., Gooley Geoff J.,
Ingram Brett A., Nguyen Hao V., Nguyen Phuong T. De Silva Sena S.,
2009. Hiện trạng nuôi cá tra Pangasianodon hypophthalmus tại khu vực

o Tờ rơi hướng dẫn về ghi chép các số liệu sản xuất của nông hộ và kiểm
soát việc thực hiện BMP dành cho cán bộ dự án, cán bộ khuyến ngư
tỉnh và hội nông dân.
5.5 Quản lý dự án
Quản lý và thực hiện dự án đã tiến triển theo kế hoạch đề ra, ngoại trừ một số sự kiện
sau:
• #5 (kết quả đầu ra 1.2) Sổ tay và tài liệu hướng dẫn BMP (tháng 9/2008) –
hoạt động này đã hoàn thành vào tháng 8 năm 2010 (xem phụ lục1 – báo cáo
tiến độ #3 và báo cáo tiến độ (hàng năm) #4).
• #7 (kết quả đầu ra 2.1) Cải thiện năng lực (tháng 9/2009) – hoạt động này đã
hoàn thành vào tháng 8 năm 2010 (xem phụ lục 1 – báo cáo tiến độ #3 và báo
cáo tiến độ (hàng năm) #4).
• #8 (đầu ra 2.2) Báo cáo cuối cùng và phê chuẩn dự án (tháng 1/2010) - hoạt
động đã hoàn thành vào tháng 8 năm 2010 (xem phụ lục 1 – báo cáo tiến độ
15
(hàng năm) #4); lưu ý là hội thảo cấp quốc gia và dự thảo hướng dẫn cuối
cùng về BMP dự kiến hoàn thành vào tháng 11/2010 là yêu cầu cần thiết để
phê duyệt khoản ngân sách bổ sung.
6. Những vấn đề khác có liên quan
6.1 Môi trường
• Không có vấn đề nào xấu hay rủi ro mới xảy ra trong giai đoạn báo cáo này.
• Công bố gần đây của bài báo “De Silva, S.S., Ingram, B.A., Phuong T.
Nguyen, Bui Tam T., Gooley, G.J., Turchini, G.M., 2010. Ước tính lượng Nitơ
và Photpho từ các hầm nuôi cá Tra thải ra sông Cửu Long. Ambio (đang in. có
thể mua trực tuyến: DOI 10.1007/s13280-010-0072-x)” đã thu hút sự quan
tâm đặc biệt của giới khoa học bởi vì bài báo này sẽ khôi phục lại thế cân bằng
do các bài báo tiêu cực được công bố trên diễn đàn quốc tế trước đây. Những
bài báo tiêu cực đó đã phản ánh không trung thực, thiếu các bằng chứng khoa
học hoặc đưa các thông tin sai lệch. Ngược lại, bài báo do De Silva và cộng
sự công bố năm 2010 có dẫn chứng cụ thể và lần đầu tiên đánh giá về nước

sản xuất quy mô nhỏ được giải quyết như là một phần của báo cáo đánh giá mô hình
thử nghiệm thí điểm BMP (xem phụ lục).
Các hoạt động tiếp theo liên quan đến khuyến ngư, xây dựng và nâng cấp BMP ra
cộng đồng nuôi thuỷ sản rộng lớn hơn sẽ được tiếp tục hỗ trợ bởi quỹ EU Seventh
Framework do NACA tìm kiếm được. Dự án Công nghệ sinh học, Thuỷ sản, Nông
nghiệp và Thực phẩm thuộc chương trình SEVENTH FRAMEWORK, chủ đề 2
(Tăng cường ảnh hưởng của diễn đàn Nuôi trồng thủy sản ASEM: cầu nối giữa nuôi
trồng thuỷ sản người châu Á và người châu Âu).
8. Các hoạt động quan trọng tiếp theo
Những hoạt động chính trong 6 tháng tiếp theo như sau:
• Hoàn thành việc chuẩn bị Hội thảo BMP cấp quốc gia tại tỉnh An Giang, Việt
Nam trong thời gian 2-12 tháng 10 năm 2009.
• Hoàn thành dự thảo tiếp theo về BMP và kế hoạch đánh giá và xây dựng chiến
lược triển khai BMP theo nội dung họp ở hội thảo cấp quốc gia.
• Chuẩn bị tham dự Hội nghị Nuôi trồng thủy sản toàn cầu 2010 tại Phuket, Thái
Lan từ 22-25 tháng 9 năm 2010.
Các bước thực hiện tiếp theo để hoàn thiện dự án này là chính quyền địa phương và
trung ương điều phối hỗ trợ việc áp dụng và triển khai BMP trên diện rộng phù hợp
với những phát hiện chính được ưu tiên sau đây:
• Các bên có liên quan tại hội thảo quốc gia tán thành về sự áp dụng và triển khai
BMP.
• Thành lập các hội nông dân tiên tiến ở cấp tỉnh khuyến khích các thành viên
trong nhóm áp dụng, triển khai và đào tạo BMP.
• Thành lập một liên minh giữa chính phủ với hội những người nuôi cá tra các
cấp để điều phối về truyền thông BMP, đào tạo, kiểm tra, tuân thủ và tiếp tục
đổi mới.
9. Kết luận
Dự án đã xây dựng một bộ hướng dẫn BMP dễ cho người sử dụng, mang lại hiệu quả
cao cho người nuôi và tiêu chuẩn hoá phương thức nuôi phù hợp cho mọi đối tượng
sử dụng, mọi quy mô, mọi khoản đầu tư. Bộ hướng dẫn này đã được cung cấp cho

• Nông dân tham gia mô hình thử nghiệm thí điểm công nhận lợi ích của việc áp
dụng BMP và vai trò hỗ trợ của các hội nông dân.
9.1.2

Trung hạn (Gián tiếp đóng góp của nghiên cứu tới dự án CARD)
• Ứng dụng và triển khai BMP trên quy mô rộng một cách hiệu quả trong ngành
nuôi trồng cá tra, ba sa ở khu vực ĐBSCL.
• Cải tiến BMP nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường và phát triển
bền vững của ngành nuôi trồng cá tra ở khu vực ĐBSCL.
Các BMPs mà dự án này xây dựng cung cấp cho người nuôi cá tra ở ĐBSCL một bản
hướng dẫn dễ sử dụng, có hiệu quả và làm tăng hiệu quả kinh tế, làm chuẩn hóa nghề
nuôi trong mọi lĩnh vực mà không phụ thuộc vào tầm cỡ lớn nhỏ về diện tích nuôi
18
cũng như mức độ đầu tư. BMPs là công cụ mà người nuôi có thể hoàn thiện để thích
ứng với hoàn cảnh hạn chế về thông tin và điều kiện, nhưng đáp ứng sự phát triển bền
vững sinh thái. Cùng với sự thay đổi liên tục về nhu cầu của người tiêu dùng, sự tiến
bộ về khoa học kỹ thuật và những ảnh hưởng chung của toàn cầu hóa thị trường và
biến đổi khí hậu, BMPs cũng có thể cung cấp người nuôi các hướng dẫn cụ thể và
hiệu quả, nhưng không ngừng thay đổi, hoàn thiện và triển khai.
Trong bối cảnh này, BMP được xem là chất xúc tác cho một số lợi ích trực tiếp và
gián tiếp ở địa phương, trung ương và quốc tế, có thể thực hiện được trong thời gian
ngắn nhưng mang tính bền vững lâu dài. Việc thực hiện BMP nghiêm túc có thể:
• Nâng cao sản lượng và lợi nhuận thông qua việc giảm giá thành sản phẩm (như
thức ăn, con giống, hóa chất) và nâng cao tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất
lượng sản phẩm.
• Giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường thông qua công tác quản lý việc sử dụng
hóa chất và thuốc kháng sinh, quản lý nước thải và chất thải.
• Nâng cao tính hợp tác giữa các hộ nuôi.
• Nâng cao các lợi ích xã hội và cộng đồng địa phương thông qua việc cam kết
trao đổi thông tin và nuôi cá có trách nhiệm.

- Truyền thông về BMP (truyền thông cái gì, tại sao phải truyền thông,
truyền thông ở đâu và như thế nào v.v)
- Áp dụng và triển khai BMP (tài liệu khuyến ngư, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật,
v v) và
- Kiểm tra và đánh giá (sự tuân thủ các nguyên tắc, thực hành và tác động,
v.v).
Cùng với sự phát triển, khung nhận thức này cũng cung cấp những hướng dẫn cơ bản
về quá trình thành lập nhóm và hội/hiệp hội cũng như các mô hình kinh doanh phù
hợp với các “nhóm/hội nghề nghiệp bị thương mại hoá” với phương pháp tiếp cận
theo chuỗi thị trường được đề cập trước đây. Khung nhận thức này được xây dựng
dựa trên kế hoạch đánh giá kết hợp với Thuyết hành động (xem phụ lục) của dự án
CARD.
Việc người nuôi và chính phủ ứng dụng khung nhận thức về hệ thống BMP vào nghề
nuôi cá tra, và việc thành lập các hội nông dân được điều hành như là những nhóm
kinh doanh trong cơ chế thị trường sẽ hỗ trợ phát triển nghề nuôi cá tra này theo một
cách tiếp cận chiến lược hơn. Nghề nuôi cá tra đang cần một chiến lược được đồng
thuận bao gồm việc ứng dụng và triển khai BMP từ người nông dân và áp dụng cách
tiếp cận theo chuỗi giá trị kinh doanh dựa trên nhóm để có được sự phát triển bền
vững trong tương lai. Những chuỗi giá trị như vậy sẽ cần phải theo định hướng thị
trường, cạnh tranh quốc tế, chấp nhận thay đổi để đạt được kỳ vọng của cộng đồng và
người tiêu dùng.
Xu hướng phát triển của nghề nuôi cá tra đã cho thấy một điều là ảnh hưởng của
người nuôi quy mô lớn và các nhà chế biến trong cơ cấu hoạt động và hoạt động kinh
tế của chuỗi thị trường cá tra ngày một tăng và ngược lại, ảnh hưởng của người nông
dân nhỏ lẻ ngày một giảm.
Tuy nhiên, nông dân nhỏ lẻ được kỳ vọng có được vai trò to lớn trong việc bảo đảm
sự phát triển bền vững dài hạn của ngành, với điều kiện là có sự ứng dụng BMP rộng
rãi và hiệu quả. Giả sử người nuôi quy mô nhỏ ứng dụng BMP theo nhóm/hội nông
dân) cùng với kinh nghiệm thành công BMP trong nuôi tôm của NACSA ở khu vực
Andra Pradesh - Ấn Độ thì sự sắp xếp này sẽ mang lại những phương thức thực tiễn,

t

i Vi

t Nam
*

Số ngày làm việc
t

i Ôx
-
trây
-
lia
*

Đi lại ở Việt
Nam
*

TS. Nguyễn Thị Thu Thuỷ

80

120

11

GS. TS. Sena De Silva 65


35

2

TS Mike Phillips 5

0

1

Ông Lars Olsen 0

20

0

Ông Simon Wilkinson 10

10

2

21
Ông Ian Dreher 5

5

1 Chữ ký của nhân chứng
Tên và chức danh

Tên và chức danh
3. BÀN GIAO TRANG THIẾT BỊ VÀ DỊCH VỤ
Xin xác nhận rằng nhân sự đầu vào cho dự án và trang thiết bị, dịch vụ cung cấp
cho dự án đúng như trong danh sách liệt kê.
22
Chữ ký của cơ quan đại diện Việt Nam

Người làm chứng
Tên và chức danh

Tên và chức danh 23
Tiến độ triển khai dự án dựa trên mục tiêu, kết quả hoạt động và đầu vào

vào sản lượng, giá trị, nguồn lực, đào tạo và
chính sách cần thiết.

Lập danh sách các
phương pháp thực hiện
để đạt mục tiêu đề ra

Một số cuộc điều tra
khảo sát đã hoàn tất
bao gồm cả danh sách
những người tham gia
phỏng vấn ở 4 tỉnh điều
tra trên cả 3 khía cạnh
chính của ngành công
nghiệp nuôi cá Tra.

Số lớp tập huấn, số học
Những giả định chính

Những người được phỏng vấn
là đại diện cho tỉnh nói riêng
và ngành công nghiệp nuôi cá
Tra nói chung

Chuyến đi khảo sát được thiết
kế cẩn thận, có tính chuyên
môn cao và khả thi nên nhóm
thực hiện dự án đã thu thập
đầy đủ thông tin cần thiết như
kỹ thuật nuôi, rủi ro, biện pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status